Mặt hàng nông sản đã rang và tẩm gia vị có phải là sản phẩm sơ chế thông thường không?

Đỗ Thị Minh Anh 263 lượt xem
04:00 | 27/03/2026
Có được xem là sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường đối với mặt hàng sản phẩm nông sản đã rang và tẩm gia vị không?
Nội dung chính
  1. Mặt hàng nông sản đã rang và tẩm gia vị có phải là sản phẩm sơ chế thông thường không?
  2. Thời điểm xác định thuế GTGT đối với nông sản là khi nào?
  3. Nguyên tắc xác định giá tính thuế GTGT đối với mặt hàng nông sản được quy định như thế nào?

Mặt hàng nông sản đã rang và tẩm gia vị có phải là sản phẩm sơ chế thông thường không?

Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP được bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 359/2025/NĐ-CP có quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT như sau:

Đối tượng không chịu thuế
Đối tượng không chịu thuế thực hiện theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng. Một số trường hợp được quy định chi tiết như sau:
1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.
Trường hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp để xác định là sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
...

Theo quy định trên, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.

Đồng thời, tại Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính cũng đã trả lời về vấn đề này, cụ thể như sau: Trường hợp công ty thương mại chuyên buôn bán các mặt hàng nông sản có mua mặt hàng sản phẩm hạt thông rang tẩm gia vị, hạt rẻ cười rang tẩm gia vị không được coi là sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường.

Như vậy, từ quy định và hướng dẫn trên, đối với các mặt hàng nông sản đã rang và tẩm gia vị sẽ không được xem là sản phẩm sơ chế thông thường.

Đồng nghĩa với việc các mặt hàng nông sản đã rang và tẩm gia vị sẽ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.

Mặt hàng nông sản đã rang và tẩm gia vị có phải là sản phẩm sơ chế thông thường không?

Mặt hàng nông sản đã rang và tẩm gia vị có phải là sản phẩm sơ chế thông thường không? (Hình từ Internet)

Thời điểm xác định thuế GTGT đối với nông sản là khi nào?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định về thời điểm xác định thuế GTGT như sau:

Thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng
1. Thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
a) Đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền;
b) Đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung cấp dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
...

Đồng thời căn cứ theo quy định tại Điều 15 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu như sau:

Thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu
1. Đối với hàng hóa xuất khẩu, thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng do người bán tự xác định nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan theo quy định của pháp luật về hải quan.
2. Đối với hàng hóa nhập khẩu, thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng là thời điểm xác định thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Như vậy, thời điểm xác định thuế GTGT đối với nông sản cụ thể như sau:

- Đối với các loại nông sản mua bán trong nước thời điểm xác định thuế GTGT là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

- Đối với các loại nông sản dùng để xuất khẩu thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng do người bán tự xác định nhưng chậm nhất không quá ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày hàng hóa được thông quan theo quy định của pháp luật về hải quan

- Đối với hàng hóa là các loại nông sản nhập khẩu là thời điểm xác định thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Nguyên tắc xác định giá tính thuế GTGT đối với mặt hàng nông sản được quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 14 Nghị định 181/2025/NĐ-CP nguyên tắc xác định giá tính thuế GTGT nói chung và đối với mặt hàng nông sản nói riêng được quy định như sau:

(1) Giá tính thuế:

- Bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng.

- Không bao gồm các khoản thu không liên quan đến bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của cơ sở kinh doanh: các khoản thu về bồi thường bằng tiền (bao gồm cả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất khi bị thu hồi đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), tiền thưởng, thu đòi người thứ ba của hoạt động bảo hiểm, các khoản thu hộ, các khoản thù lao từ cơ quan nhà nước do thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ các cơ quan nhà nước, các khoản thu tài chính.

(2) Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành cho khách hàng (nếu có) thì giá tính thuế giá trị gia tăng là giá bán đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng chưa có thuế giá trị gia tăng.

(3) Trường hợp cơ sở kinh doanh đã tính thuế giá trị gia tăng nhưng giá tính thuế bị thay đổi theo kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật có liên quan thì giá tính thuế được xác định theo kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Logo Thư viện Pháp luật
Đỗ Thị Minh Anh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Giá Trị Gia Tăng Xem thêm

Bài viết mới nhất