Đã có Dự thảo Thông tư về thông tin dữ liệu được kết nối chia sẻ giữa Cổng DVC quốc gia với các Hệ thống thông tin giải quyết TTHC?
Ngày 09/11/2025, Văn phòng Chính phủ đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định về thông tin, dữ liệu được kết nối, chia sẻ giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia với các Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, Cơ sở dữ liệu dùng chung của cơ quan nhà nước phục vụ giải quyết thủ tục hành chính (sau đây gọi là dự thảo Thông tư).
Tải về dự thảo Thông tư
Theo đó, dự thảo Thông tư đã nêu rõ nguyên tắc kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia với các Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, Cơ sở dữ liệu dùng chung của cơ quan nhà nước phục vụ giải quyết thủ tục hành chính như sau:
(1) Thông tin, dữ liệu bảo đảm tính pháp lý để tái sử dụng phục vụ giải quyết thủ tục hành chính. Cơ quan quản lý thông tin, dữ liệu chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ, cập nhật của thông tin, dữ liệu kết nối, chia sẻ và bảo đảm các nguyên tắc trong bảo vệ dữ liệu của cá nhân, tổ chức.
(2) Thông tin, dữ liệu chỉ thu thập một lần từ cá nhân, tổ chức. Các cơ quan không yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp lại thông tin, dữ liệu có sẵn từ các Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành được kết nối, chia sẻ.
(3) Thông tin, dữ liệu được kết nối, chia sẻ, cập nhật tự động theo thời gian thực ngay khi có sự thay đổi giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
(4) Thông tin, dữ liệu được kết nối, chia sẻ giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành đáp ứng yêu cầu về an ninh, an toàn thông tin, có cơ chế phân quyền và xác thực chặt chẽ.
(5) Thông tin, dữ liệu được kết nối chia sẻ phải được chuẩn hóa, mã hóa, ký số, bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu và có giá trị pháp lý tương đương bản giấy.
(6) Thông tin, dữ liệu kết nối, chia sẻ giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành được lưu trữ dự phòng. Dữ liệu dự phòng bảo đảm tính pháp lý như dữ liệu gốc.

Đã có Dự thảo Thông tư về thông tin dữ liệu được kết nối chia sẻ giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia với các Hệ thống thông tin giải quyết TTHC? (Hình từ Internet)
Trách nhiệm của cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công trực tuyến là gì?
Căn cứ Điều 15 Nghị định 42/2022/NĐ-CP quy định như sau:
Trách nhiệm cung cấp dịch vụ công trực tuyến
1. Cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công trực tuyến có trách nhiệm:
a) Cải cách mô hình tổ chức, quy trình công việc để có thể ứng dụng tối đa công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên môi trường mạng.
b) Đối xử công bằng, không phân biệt khi người dùng truy cập dịch vụ công trực tuyến trên các kênh cung cấp khác nhau.
c) Kết nối, liên thông các kênh cung cấp để người dùng có thể truy cập thông tin trên nhiều kênh cung cấp khác nhau trong một lần sử dụng dịch vụ.
d) Sẵn sàng, chủ động, kịp thời cung cấp dịch vụ công trực tuyến thuận tiện, dễ dàng, nhanh chóng, hướng tới việc cá thể hóa theo nhu cầu của tổ chức, cá nhân.
2. Khuyến khích các cơ quan nhà nước cung cấp các dịch vụ công trực tuyến khác ngoài dịch vụ hành chính công trên môi trường mạng.
Như vậy, cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công trực tuyến có trách nhiệm:
- Cải cách mô hình tổ chức, quy trình công việc để có thể ứng dụng tối đa công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên môi trường mạng.
- Đối xử công bằng, không phân biệt khi người dùng truy cập dịch vụ công trực tuyến trên các kênh cung cấp khác nhau.
- Kết nối, liên thông các kênh cung cấp để người dùng có thể truy cập thông tin trên nhiều kênh cung cấp khác nhau trong một lần sử dụng dịch vụ.
- Sẵn sàng, chủ động, kịp thời cung cấp dịch vụ công trực tuyến thuận tiện, dễ dàng, nhanh chóng, hướng tới việc cá thể hóa theo nhu cầu của tổ chức, cá nhân.
Người nộp thuế có thể giao dịch thuế điện tử qua Cổng Dịch vụ công quốc gia không?
Theo khoản 1, điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 4 Thông tư 19/2021/TT-BTC quy định như sau:
Nguyên tắc giao dịch thuế điện tử
1. Người nộp thuế thực hiện giao dịch thuế điện tử phải có khả năng truy cập và sử dụng mạng Internet, có địa chỉ thư điện tử, có chữ ký số theo quy định tại Điều 7 Thông tư này hoặc có số điện thoại di động được một công ty viễn thông ở Việt Nam cấp (đối với cá nhân chưa được cấp chứng thư số) đã đăng ký sử dụng để giao dịch với cơ quan thuế trừ trường hợp người nộp thuế lựa chọn phương thức nộp thuế điện tử theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này thực hiện theo quy định của ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.
2. Người nộp thuế có thể lựa chọn các phương thức sau đây để thực hiện giao dịch thuế điện tử thông qua:
...
b) Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính đã được kết nối với Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế.
...
3. Đăng ký sử dụng phương thức giao dịch thuế điện tử
...
b) Người nộp thuế giao dịch thuế điện tử thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính được kết nối với Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế thì đăng ký thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản hệ thống.
...
Như vậy, người nộp thuế có thể giao dịch thuế điện tử qua Cổng Dịch vụ công quốc gia bằng cách đăng ký tài khoản giao dịch thuế điện tử qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];