Công văn 7075/TNI-NVDTPC về triển khai xử phạt VPHC theo Nghị định 291 ra sao?
Ngày 06/08/2026, Thuế tỉnh Tây Ninh đã có Công văn 7075/TNI-NVDTPC năm 2026 về việc triển khai tuyên truyền nghĩa vụ cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin về thuế và xử phạt VPHC.
>> Tải về Công văn 7075/TNI-NVDTPC năm 2026
Thực hiện Công văn 5499/CT-PC ngày 03/8/2026 của Cục Thuế về việc triển khai tuyên truyền nghĩa vụ cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin về thuế và xử phạt VPHC. Thuế tỉnh cung cấp đến người nộp thuế trên địa bàn tỉnh một số nội dung về nghĩa vụ cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin về thuế và xử phạt vi phạm hành chính (theo Điều 63 Nghị định 252/2026/NĐ-CP và Nghị định 291/2026/NĐ-CP), cụ thể:
Minh bạch và trao đổi thông tin vì mục đích thuế là một trong những nội dung quan trọng của quản lý thuế hiện đại, góp phần phòng, chống gian lận, trốn thuế, nâng cao hiệu quả quản lý thuế và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực thuế.
Để triển khai Luật Quản lý thuế 2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định về cung cấp, thu thập, xác minh, quản lý, sử dụng, trao đổi và bảo mật thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin về thuế; đồng thời ban hành Nghị định 291/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin nhằm bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu lực thực thi của pháp luật.
Theo đó, hành vi vi phạm, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc xử phạt theo Nghị định 291/2026/NĐ-CP được triển khai như sau:
(1) Vì sao Chính phủ ban hành Nghị định 291/2026/NĐ-CP?
Ngày 21/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 291/2026/NĐ-CP nhằm hoàn thiện quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin về thuế; bảo đảm đồng bộ với Luật Quản lý thuế 2025, Nghị định 252/2026/NĐ-CP; đáp ứng yêu cầu thực hiện các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thuế mà Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết; đồng thời tăng cường tính minh bạch, nâng cao hiệu quả quản lý thuế và ý thức tuân thủ của người nộp thuế, tổ chức và cá nhân có liên quan.
(2) Những điểm mới người nộp thuế và tổ chức có liên quan cần biết
Nội dung sửa đổi, bổ sung | Quy định mới | Người nộp thuế và tổ chức có liên quan cần lưu ý |
1. Bổ sung Điều 19a quy định xử phạt hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin về thuế | Bổ sung quy định xử phạt đối với người nộp thuế và tổ chức, cá nhân có liên quan vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế về thuế. | Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế; bảo đảm thông tin được cung cấp đúng đối tượng, đúng thời hạn và đúng theo yêu cầu. |
2. Quy định rõ các mức xử phạt | - Phạt từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi cung cấp thông tin quá thời hạn từ 05 ngày trở lên. - Phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với hành vi cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc không chính xác. - Phạt từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi không cung cấp thông tin sau 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn cung cấp thông tin hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn cung cấp thông tin hoặc thông đồng, bao che nhằm ngăn cản cơ quan thuế thu thập, xác minh thông tin. | Chủ động lưu trữ, rà soát, chuẩn bị và cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn các thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế để tránh bị xử phạt |
3. Bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả | Ngoài việc bị xử phạt bằng tiền, tổ chức, cá nhân vi phạm còn buộc phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế. | Việc nộp phạt không thay thế nghĩa vụ cung cấp thông tin. Sau khi bị xử phạt, tổ chức, cá nhân vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo yêu cầu của cơ quan thuế. Trường hợp tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính (bao gồm cả nghĩa vụ nộp tiền phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả) thì sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định pháp luật để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin. |
4. Sửa đổi nguyên tắc xử phạt | Bãi bỏ nguyên tắc “hành vi vi phạm về sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 16, Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP thì không bị xử phạt theo Điều 28 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP” do quy định “vi phạm hành chính về sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn hoặc sử dụng hóa đơn không đúng quy định dẫn đến thiếu thuế, trốn thuế thì không xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn mà bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế” tại khoản 2 Điều 136 Luật Quản lý thuế 2019 đã được bãi bỏ theo Luật Quản lý thuế 2025. Bổ sung nguyên tắc: hành vi vi phạm thuộc trường hợp xử phạt theo Điều 19a thì không bị xử phạt theo Điều 14, Điều 15 và Điều 19 Nghị định 125/2020/NĐ-CP. | Bãi bỏ nguyên tắc liên quan đến hành vi vi phạm về sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn để phù hợp Luật Quản lý thuế 2025. Bổ sung nguyên tắc liên quan đến hành vi vi phạm thuộc trường hợp xử phạt theo Điều 19a để đảm bảo một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần theo đúng quy định của pháp luật. |

Công văn 7075/TNI-NVDTPC về triển khai xử phạt VPHC theo Nghị định 291 ra sao? (Hình từ Internet)
Hành vi vi phạm hành chính về thuế có thời hiệu xử phạt là bao lâu?
Theo Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi điểm b khoản 6 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP quy định thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế như sau:
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn; thời hạn được coi là chưa bị xử phạt; thời hạn truy thu thuế
...
a) Thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế là 02 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
Ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn phải thực hiện thủ tục về thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, trừ các trường hợp sau đây:
Đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 10; khoản 1, 2, 3, 4 và điểm a khoản 5 Điều 11; khoản 1, 2, 3 và điểm a, b khoản 4, khoản 5 Điều 13 Nghị định này, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế thực hiện đăng ký thuế hoặc thông báo với cơ quan thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế.
Đối với hành vi quy định tại điểm c, d khoản 2, điểm b khoản 4 Điều 10; điểm b khoản 5 Điều 11; điểm c, d khoản 4 Điều 13 Nghị định này là hành vi vi phạm hành chính về thuế đang được thực hiện, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.
b) Thời hiệu xử phạt đối với hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
Ngày thực hiện hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn hoặc hành vi trốn thuế (trừ hành vi tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này) là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế mà người nộp thuế thực hiện khai thiếu thuế, trốn thuế hoặc ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế.
Đối với hành vi không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này là hành vi vi phạm hành chính về thuế đang được thực hiện, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm. Đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này thì ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế
...
Như vậy, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế được quy định như sau:
- Thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế là 02 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
- Thời hiệu xử phạt đối với hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn trong trường hợp nào?
Tại Điều 9 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 7 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP quy định những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn như sau:
(̣1) Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đối với các trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Người nộp thuế chậm thực hiện thủ tục thuế, hóa đơn bằng phương thức điện tử do sự cố kỹ thuật của hệ thống công nghệ thông tin được thông báo trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế thuộc trường hợp thực hiện hành vi vi phạm do sự kiện bất khả kháng.
(2) Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế, không tính tiền chậm nộp tiền thuế đối với người nộp thuế vi phạm hành chính về thuế do thực hiện theo văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế (kể cả các văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý được ban hành trước ngày Nghị định 125/2020/NĐ-CP có hiệu lực), trừ trường hợp thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế chưa phát hiện sai sót của người nộp thuế trong việc khai, xác định số tiền thuế phải nộp hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn nhưng sau đó hành vi vi phạm hành chính về thuế của người nộp thuế bị phát hiện.
(3) Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật quản lý thuế và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, cơ quan có thẩm quyền khác công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế phát hiện không qua kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế hoặc trước khi cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.
(4) Không xử phạt hành vi vi phạm thủ tục thuế đối với cá nhân trực tiếp quyết toán thuế thu nhập cá nhân chậm nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân mà có phát sinh số tiền thuế được hoàn; hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã bị ấn định thuế theo quy định tại Điều 51 Luật Quản lý thuế 2019.
(5) Không xử phạt hành vi vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian người nộp thuế được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế đó.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];