Trả lương đi làm ngày 01 và 02/09/2026 cho người lao động như thế nào cho đúng?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 1,501 lượt xem
09:00 | 04/09/2026
Trả lương đi làm ngày 01 và 02/09/2026 cho người lao động như thế nào cho đúng? Trả lương lệch tháng có được trừ khoản đóng BHXH vào thu nhập chịu thuế không?
Nội dung chính
  1. Trả lương đi làm ngày 01 và 02/09/2026 cho người lao động như thế nào cho đúng?
  2. Tăng ca trả lương không đúng tỷ lệ bị phạt bao nhiêu tiền năm 2026?
  3. Trả lương lệch tháng có được trừ khoản đóng BHXH vào thu nhập chịu thuế không?

Trả lương đi làm ngày 01 và 02/09/2026 cho người lao động như thế nào cho đúng?

CHỐT: Ngày 24/11/2026 người lao động được nghỉ làm, hưởng nguyên lương?

Theo điểm đ khoản 1 Điều 112 Bộ luật Lao động 2019, dịp Quốc khánh 02/09/2026, người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong 02 ngày, gồm ngày 02/9 Dương lịch và 01 ngày liền kề trước hoặc sau.

Theo đó, bài viết dưới đây áp dụng đối với trường hợp người sử dụng lao động quyết định lựa chọn phương án nghỉ Quốc khánh là ngày 01 và 02/9/2026. Cụ thể, việc trả lương đi làm ngày 01 và 02/09/2026 cho người lao động thực hiện như sau:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, Tết, ngày nghỉ có hưởng lương được trả ít nhất bằng 300% đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm. Mức 300% này chưa bao gồm tiền lương của ngày nghỉ lễ đối với người lao động hưởng lương ngày.

Như vậy, nếu đi làm vào ban ngày trong ngày nghỉ Quốc khánh, người lao động được hưởng ít nhất 400% tiền lương cho mỗi ngày, gồm 100% tiền lương của ngày nghỉ lễ và ít nhất 300% tiền lương làm thêm giờ.

Nếu làm việc ban ngày trong cả ngày 01 và 02/9/2026, tổng tiền lương người lao động được hưởng trong hai ngày được xác định như sau:

400% × 02 ngày = 800% tiền lương của một ngày làm việc bình thường.

Do đó, cách nói người lao động đi làm ngày 01 và 02/9/2026 được nhận tổng cộng 800% lương là đúng trong trường hợp nêu trên. Tuy nhiên, đây là tổng mức hưởng ít nhất khi làm việc ban ngày trong hai ngày, không phải mức lương 800% cho từng ngày và cũng không phải mức hưởng tối đa.

Trường hợp làm việc vào ban đêm, ngoài tiền lương làm thêm vào ngày lễ, người lao động còn được trả thêm ít nhất 30% tiền lương làm việc ban đêm và 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày nghỉ lễ.

Theo Điều 98 Bộ luật Lao động năm 2019 và hướng dẫn tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP, tiền lương làm thêm vào ban đêm trong ngày lễ được tính theo tỷ lệ:

300% + 30% + (20% × 300%) = 390%.

Nếu cộng thêm 100% tiền lương của ngày nghỉ lễ, tổng mức hưởng ít nhất là 490% cho mỗi ngày.

Người lao động làm việc vào ban đêm trong cả ngày 01 và 02/9 có thể được nhận tổng cộng ít nhất 980% tiền lương của một ngày làm việc bình thường. Theo Điều 106 Bộ luật Lao động 2019, giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.

- Ví dụ: Anh A làm việc ban ngày cả hai ngày nghỉ lễ

anh A được trả 200.000 đồng/ngày và làm việc ban ngày trong cả ngày 01 và 02/9. Tiền lương làm thêm của mỗi ngày là:

300% × 200.000 đồng = 600.000 đồng.

Cộng thêm 200.000 đồng tiền lương của ngày nghỉ lễ, anh A được nhận ít nhất 800.000 đồng/ngày. Tổng tiền lương trong hai ngày là 1,6 triệu đồng, tương đương 800% tiền lương của một ngày làm việc bình thường.

- Ví dụ: Anh B làm việc ban đêm cả hai ngày nghỉ lễ

Anh B được trả 200.000 đồng/ngày, tương ứng 25.000 đồng/giờ đối với ngày làm việc 08 giờ, và làm thêm vào ban đêm đủ 08 giờ trong cả ngày 01 và 02/9. Tiền lương làm thêm vào ban đêm của mỗi ngày là:

390% × 25.000 đồng/giờ × 08 giờ = 780.000 đồng.

Cộng thêm 200.000 đồng tiền lương của ngày nghỉ lễ, anh B được nhận ít nhất 980.000 đồng/ngày. Nếu làm việc vào ban đêm trong cả hai ngày 01 và 02/9, tổng tiền lương được nhận ít nhất là 1,96 triệu đồng, tương đương 980% tiền lương của một ngày làm việc bình thường.

*Trên đây là nội dung Trả lương đi làm ngày 01 và 02/09/2026 cho người lao động như thế nào cho đúng?

Trả lương đi làm ngày 01 và 02/09/2026 cho người lao động như thế nào cho đúng?

Trả lương đi làm ngày 01 và 02/09/2026 cho người lao động như thế nào cho đúng? (Hình từ Internet)

Tăng ca trả lương không đúng tỷ lệ bị phạt bao nhiêu tiền năm 2026?

Đầu tiên, tại Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 quy định về tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm như sau:

Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm
1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
2. Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Theo đó, đối với người lao động đi làm tăng ca thì tiên lương sẽ được tính như sau:

- Đối với tiền lương tăng ca ban ngày:

+ Ngày thường: 150%

+ Ngày nghỉ: 200%

+ Ngày lễ, tết: 300% + 01 ngày nghỉ hưởng nguyên lương

- Đối với tiền lương tăng ca ban đêm:

+ Đêm ngày thường: 210% nếu ban ngày đã tăng ca

+ Đêm ngày nghỉ: 270%

+ Đêm ngày lễ, Tết: 390%

Đồng thời, dẫn chiếu đến Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP xử lý vi phạm quy định về tiền lương như sau:

Vi phạm quy định về tiền lương
...
2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm; không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công; không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm; không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật; không trả đủ tiền lương cho người lao động cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
...
5. Biện pháp khắc phục hậu quả
a) Buộc người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này;
b) Buộc người sử dụng lao động trả đủ khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cộng với khoản tiền lãi của số tiền đó tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này.

Như vậy, từ ngày 10/9/2026, không trả lương tăng ca hoặc lương tăng ca trả không đúng tỷ lệ sẽ bị phạt tiền tối thiểu từ 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động và tối đa đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Tuy nhiên, mức phạt theo quy định trên áp dụng đối với cá nhân, đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm mức phạt tiền gấp hai lần mức phạt cá nhân theo Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Theo đó, nếu người sử dụng lao động là tổ chức/doanh nghiệp, mức phạt tiền sẽ từ 10 triệu đồng đối với vi phạm từ 01-10 người lao động và tối đa 100 triệu đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên. Ngoài tiền phạt, doanh nghiệp còn phải trả đủ tiền lương còn thiếu và tiền lãi theo quy định.

Trả lương lệch tháng có được trừ khoản đóng BHXH vào thu nhập chịu thuế không?

Căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định các khoản được trừ khi tính thuế TNCN như sau:

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
...
2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 8 của Nghị định này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế trừ (-) đi các khoản dưới đây:
a) Các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội, khoản đóng góp bảo hiểm y tế tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ.
Mức đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ được trừ ra khỏi thu nhập khi xác định thu nhập tính thuế quy định tại điểm này tổng tối đa không quá 03 triệu đồng/tháng cho các hình thức tham gia bảo hiểm này, bao gồm cả số tiền do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và cả số tiền do người lao động tự đóng (nếu có).
...
Khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện của năm nào được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó.
...
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm người sử dụng lao động trả tiền lương, tiền công cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập, kể cả các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền, các khoản trợ cấp, phụ cấp và thu nhập khác quy định tại Điều 8 của Nghị định này trong kỳ tính thuế.
...

Căn cứ tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế TNCN như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
...

Theo đó, tại Công văn 7214/DAN-QLDN2 năm 2026 Tải về hướng dẫn trả lương lệch tháng có được trừ khoản đóng BHXH vào thu nhập chịu thuế như sau:

Căn cứ các quy định trên, Thuế thành phố Đà Nẵng trả lời Công ty như sau:
1. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế. Theo đó, thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế trừ đi các khoản bảo hiểm bắt buộc của người lao động theo nguyên tắc khoản đóng góp bảo hiểm của năm nào được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó.
Ví dụ: Công ty đã khấu trừ bảo hiểm bắt buộc tháng 12/2025 của người lao động trước khi chi trả lương tháng 12/2025. Vậy khoản bảo hiểm bắt buộc tháng 12/2025 của người lao động mà Công ty đã khấu trừ nêu trên sẽ được trừ vào tổng thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập tính thuế của tháng 01/2026.
Căn cứ xác định thu nhập được trừ là bản chụp chứng từ nộp tiền do tổ chức bảo hiểm, quỹ hưu trí bổ sung, doanh nghiệp bảo hiểm cấp và xác nhận của tổ chức trả thu nhập về số tiền bảo hiểm đã khấu trừ, đã nộp.

Như vậy, trường hợp trả lương lệch tháng vẫn được trừ khoản BHXH bắt buộc khi xác định thu nhập tính thuế TNCN. Việc khấu trừ được thực hiện theo nguyên tắc khoản đóng bảo hiểm của năm nào thì được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất