- Chính thức cơ quan thuế có quyền truy cập vào dữ liệu phần mềm kế toán của người nộp thuế nếu có dấu hiệu trốn thuế từ ngày 01/7/2026?
- Công văn trả lời của Cơ quan thuế đối với hành vi né chuyển khoản cố tình chia nhỏ số lần chi lương trên 5 triệu?
- Cơ quan thuế trả lời về việc có cần làm hợp đồng khi giao dịch mua bán để chứng minh chi phí hợp lý hay không?
Chính thức cơ quan thuế có quyền truy cập vào dữ liệu phần mềm kế toán của người nộp thuế nếu có dấu hiệu trốn thuế từ ngày 01/7/2026?
Căn cứ theo Điều 23 Luật Quản lý thuế 2025 quy định về biện pháp áp dụng trong kiểm tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế cụ thể như sau:
Biện pháp áp dụng trong kiểm tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế
1. Thu thập thông tin liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế:
a) Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế cung cấp thông tin bằng văn bản hoặc trả lời trực tiếp. Cơ quan thuế có quyền truy cập vào dữ liệu phần mềm kế toán, hoá đơn điện tử, máy tính tiền của người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin quy định tại điểm a khoản này có trách nhiệm cung cấp thông tin đúng nội dung, thời hạn, địa chỉ được yêu cầu và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đã cung cấp.
2. Tạm giữ tài liệu liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế:
a) Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế, trưởng đoàn kiểm tra thuế quyết định tạm giữ tài liệu liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế;
b) Việc tạm giữ tài liệu liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế được áp dụng khi cần căn cứ xác định hành vi trốn thuế;
c) Khi tạm giữ tài liệu liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, trưởng đoàn kiểm tra thuế phải lập biên bản tạm giữ và có trách nhiệm bảo quản tài liệu tạm giữ;
d) Cơ quan quản lý thuế phải giao 01 bản quyết định tạm giữ, biên bản tạm giữ liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế cho tổ chức, cá nhân có tài liệu bị tạm giữ.
Như vậy, từ ngày 01/7/2026 cơ quan thuế sẽ thu thập thông tin liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế và áp dụng biện pháp áp dụng trong kiểm tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế
Theo đó, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến trường hợp có dấu hiệu trốn thuế cung cấp thông tin bằng văn bản hoặc trả lời trực tiếp. Đồng thời, cơ quan thuế có quyền truy cập vào dữ liệu phần mềm kế toán của người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế.

Chính thức cơ quan thuế có quyền truy cập vào dữ liệu phần mềm kế toán của người nộp thuế nếu có dấu hiệu trốn thuế từ ngày 01/7/2026? (Hình từ Internet)
Công văn trả lời của Cơ quan thuế đối với hành vi né chuyển khoản cố tình chia nhỏ số lần chi lương trên 5 triệu?
Vào ngày 24/03/2026, Thuế tỉnh Khánh Hoà ban hành Công văn 1267/KHH-QLDN2 năm 2026 về việc chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
>> Tải về Công văn 1267/KHH-QLDN2 năm 2026
Trong đó, theo nội dung Công văn 1267/KHH-QLDN2 năm 2026 Cơ quan thuế Tỉnh Khánh Hòa giải đáp về hành vi né chuyển khoản cố tình chia nhỏ số lần chi lương trên 5 triệu như sau:
- Căn cứ khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định:
Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, ...
b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
....
c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng
Căn cứ khoản 1 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định như sau:
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
1. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.
...
Căn cứ điểm a khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định:
Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
…
8. Chi cho người lao động thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Chi tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho người lao động doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế không chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán theo quy định của pháp luật.
...
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định:
Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025. Việc xác định thời gian áp dụng trong một số trường hợp cụ thể như sau:
...
b) Quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt tại điểm c khoản 1 Điều 9 và quy định về chuyển nhượng vốn tại điểm i khoản 3 Điều 12 của Nghị định này áp dụng từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
...
Căn cứ khoản 1 Điều 10 Thông tư 20/2026/TT-BTC quy định:
Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 12 tháng 3 năm 2026 và áp dụng kể từ kỳ tính thuế năm 2025.
...
Thuế tỉnh Khánh Hòa ghi nhận vướng mắc của Công ty đang gặp trong việc thực hiện hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với chi phí tiền lương chi trả cho người lao động là đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, Nghị định 320/2025/NĐ-CP và Thông tư 20/2026/TT-BTC không có điều khoản quy định hiệu lực về việc sử dụng chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên được áp dụng từ ngày 31/12/2026, vì vậy, Công ty bắt buộc phải thực hiện quy định này từ ngày 15/12/2025.
Đồng thời, theo quy định thì các khoản thanh toán từng lần có giá trị dưới 05 triệu đồng không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt mới được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.
Việc thanh toán tiền lương cho người lao động phải được thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng lao động, chi trả đúng đối tượng và có chứng từ chi trả theo đúng quy định.
Qua kiểm tra cơ quan Thuế phát hiện Công ty cố ý chia nhỏ số lần chi trả nhằm “né tránh” quy định thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ quan Thuế có quyền xác định lại nghĩa vụ thuế căn cứ vào bản chất giao dịch thực tế.
Cơ quan thuế trả lời về việc có cần làm hợp đồng khi giao dịch mua bán để chứng minh chi phí hợp lý hay không?
Đầu tên, tại điểm c khoản 1 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 quy định các khoản chi được trừ là các khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Đồng thời, tại điểm c khoản 13 Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BTC quy định đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên nếu đến thời điểm ghi nhận chi phí mà doanh nghiệp chưa thanh toán thì phải có hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ mới được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
Ngoài ra, tại điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP.
Cuối cùng, vừa mới đây Thuế tỉnh Ninh Bình cũng đã ban hành Công văn 3716/NBI-QLDN2 năm 2026 Tải về trả lời về việc có cần làm hợp đồng khi giao dịch mua bán để chứng minh chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN hay không.
Theo đó, trường hợp doanh nghiệp mua hàng đã tới thời điểm ghi nhận chi phí (thời điểm ghi nhận chi phí trong doanh nghiệp có thể hiểu là thời điểm người bán bàn giao hàng hóa, dịch vụ cho doanh nghiệp).
Tại thời điểm này, nếu doanh nghiệp vẫn chưa thanh toán hết tiền cho bên bán mà có giá trị còn nợ từ 5 triệu trở lên thì bắt buộc phải có hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng cung ứng dịch vụ thì khoản chi phí này mới đủ điều kiện là khoản chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN.
Như vậy, nếu đến thời điểm ghi nhận chi phí mà doanh nghiệp vẫn chưa thanh toán hết cho nhà cung cấp thì cần phải có hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ để chứng minh chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];