Từ 01/7/2026 Luật Quản lý thuế 2019 và các nghị định, thông tư hướng dẫn chính thức hết hiệu lực đúng không?
Ngày 10/12/2026 Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026.
Tại Điều 52 Luật Quản lý thuế 2025 như sau:
Điều 52. Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định tại Điều 13 và việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy định tại Điều 26 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
3. Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 56/2024/QH15 (sau đây gọi là Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14) hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 53 của Luật này; riêng quy định tại Điều 51 của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Đồng thời tại Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 được sửa đổi bởi khoản 22 Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2025 có quy định:
Điều 57. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực
1. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
a) Hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật;
b) Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật đó;
c) Bị bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này.
2. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần do có văn bản quy phạm pháp luật khác thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung thì văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành văn bản đó hết hiệu lực, trừ trường hợp được công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần. Văn bản công bố là văn bản hành chính phải được đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
Như vậy, kể từ ngày 01/7/2026, Luật Quản lý thuế 2019 chính thức hết hiệu lực thi hành trừ các trường hợp được quy định chuyển tiếp tại Điều 53 Luật Quản lý thuế 2025.
Đối với các nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế 2019, các văn bản này cũng hết hiệu lực khi văn bản được hướng dẫn hết hiệu lực hoặc bị thay thế, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần.
Do đó, về nguyên tắc, từ ngày 01/7/2026, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế 2019 cũng hết hiệu lực theo Luật Quản lý thuế 2019, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền công bố tiếp tục áp dụng toàn bộ hoặc một phần theo quy định của pháp luật.
Dưới đây là Nghị định, Thông tư hết hiệu lực từ 01/7/2026 khi Luật Quản lý thuế 2019 bị thay thế:
(1) Nghị định 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế 2019.
(2) Nghị định 91/2022/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế
(3) Thông tư 80/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế
(4) Thông tư 86/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về đăng ký thuế
(5) Thông tư 19/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế.

Từ 01/7/2026 Luật Quản lý thuế 2019 và các nghị định, thông tư hướng dẫn chính thức hết hiệu lực đúng không? (Hình từ Internet)
Quy định về đối tượng đăng ký thuế từ 01/7/2026 như thế nào?
Căn cứ Điều 10 Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026 quy định:
Điều 10. Đăng ký thuế
1. Phạm vi đăng ký thuế bao gồm đăng ký thuế lần đầu; thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế; thông báo khi tạm ngừng hoạt động, kinh doanh; chấm dứt hiệu lực mã số thuế; khôi phục mã số thuế.
2. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, đơn vị phụ thuộc, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện đăng ký thuế cùng với việc đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký liên hiệp hợp tác xã, đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hộ kinh doanh, đăng ký hoạt động, kinh doanh theo cơ chế một cửa liên thông.
3. Các trường hợp khác không thuộc quy định tại khoản 2 Điều này thực hiện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế.
4. Thời hạn đăng ký thuế; trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến đăng ký thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ.
5. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết khoản 1 và khoản 3 Điều này.
Theo đó từ 1/7/2026 đối tượng đăng ký thuế được quy định như sau:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, đơn vị phụ thuộc, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện đăng ký thuế cùng với việc đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký liên hiệp hợp tác xã, đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hộ kinh doanh, đăng ký hoạt động, kinh doanh theo cơ chế một cửa liên thông.
- Các trường hợp khác không thuộc quy định vừa nêu trên thực hiện đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế.
* Căn cứ khoản 1 Điều 52 Luật Quản lý thuế 2025 quy định luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại Điều 13 và việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy định tại Điều 26 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Mã số thuế được sử dụng như thế nào theo Luật Quản lý thuế 2025?
Tại Điều 11 Luật Quản lý thuế 2025 quy định mã số thuế được sử dụng như sau:
- Được ghi trên hóa đơn, chứng từ, hồ sơ, tài liệu trong thực hiện các giao dịch kinh doanh, thực hiện thủ tục hành chính về thuế và mở tài khoản tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán;
- Được sử dụng trong quản lý thuế; trao đổi, chia sẻ, cung cấp thông tin về người nộp thuế với cơ quan quản lý thuế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];