So với Thông tư 31 2021 TT BTC, Thông tư 94 2026 TT BTC có gì khác biệt về cách tiếp cận?
Ngày 17/5/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư 31/2021/TT-BTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
Tuy nhiên, ngày 1/7/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư 94/2026/TT-BTC quy định về quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế thay thế Thông tư 31/2021/TT-BTC ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
Như vậy, so với Thông tư 31/2021/TT-BTC, Thông tư 94/2026/TT-BTC có sự thay đổi về cách tiếp cận trong quản lý thuế. Cụ thể:
- Thông tư 31/2021/TT-BTC chủ yếu tập trung vào việc áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế
- Trong khi Thông tư 94/2026/TT-BTC mở rộng theo hướng kết hợp quản lý tuân thủ với quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
* Trên đây là Thông tin So với Thông tư 31 2021 TT BTC, Thông tư 94 2026 TT BTC có gì khác biệt về cách tiếp cận?

So với Thông tư 31/2021/TT-BTC, Thông tư 94/2026/TT-BTC có gì khác biệt về cách tiếp cận? (Hình từ Internet)
Thông tin phục vụ quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro được thu thập từ đâu?
Tại khoản 3 Điều 4 Thông tư 94/2026/TT-BTC quy định như sau:
Điều 4. Nguyên tắc quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế
1. Việc áp dụng quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế phải bảo đảm tính khách quan, minh bạch, đúng quy định của pháp luật, không phân biệt đối xử; được thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế, khuyến khích và tạo điều kiện để người nộp thuế tự nguyện tuân thủ tốt pháp luật thuế, đồng thời phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế.
2. Quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế phải được thực hiện trên cơ sở phân tích dữ liệu khách quan, toàn diện, thường xuyên được cập nhật; áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp với đặc thù, mức độ tuân thủ pháp luật thuế và mức độ rủi ro của từng nhóm, từng người nộp thuế; ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại và tự động hóa trong thu thập, xử lý dữ liệu, đánh giá và phân loại.
3. Thông tin phục vụ quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro được thu thập từ các nguồn thông tin trong và ngoài cơ quan thuế, bao gồm cả thông tin từ nước ngoài theo quy định của pháp luật và quy định tại Điều 6 Thông tư này; được quản lý thông qua hệ thống quản trị thuế của ngành thuế, đồng thời được xử lý, chia sẻ và cung cấp cho cơ quan thuế các cấp và các cơ quan nhà nước có liên quan để phục vụ công tác quản lý nhà nước theo quy định.
[...]
Như vậy, thông tin phục vụ quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro được thu thập từ các nguồn thông tin trong và ngoài cơ quan thuế, bao gồm cả thông tin từ nước ngoài theo quy định của pháp luật và quy định tại Điều 6 Thông tư 94/2026/TT-BTC; được quản lý thông qua hệ thống quản trị thuế của ngành thuế, đồng thời được xử lý, chia sẻ và cung cấp cho cơ quan thuế các cấp và các cơ quan nhà nước có liên quan để phục vụ công tác quản lý nhà nước theo quy định.
Có những biện pháp quản lý rủi ro trong kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế nào?
Căn cứ theo Điều 17 Thông tư 94/2026/TT-BTC quy định áp dụng biện pháp quản lý rủi ro trong kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế như sau:
(1) Nguyên tắc lựa chọn trường hợp kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế:
- Trường hợp lựa chọn dựa trên kết quả phân tích, đánh giá, phân loại mức độ tuân thủ pháp luật thuế và mức độ rủi ro của người nộp thuế không dưới 90% tổng số trường hợp kiểm tra theo kế hoạch hàng năm;
- Trường hợp được lựa chọn ngẫu nhiên không quá 10% tổng số trường hợp kiểm tra theo kế hoạch hàng năm.
(2) Lựa chọn người nộp thuế để xây dựng kế hoạch kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế.
Căn cứ danh sách người nộp thuế phân loại theo các mức độ rủi ro tại Điều 13 Thông tư 94/2026/TT-BTC, cơ quan thuế lựa chọn các trường hợp kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế như sau:
- Lựa chọn người nộp thuế dự kiến đưa vào kế hoạch kiểm tra năm tại trụ sở của người nộp thuế theo kết quả phân loại mức độ rủi ro từ cao xuống thấp.
- Việc lựa chọn người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro để xây dựng kế hoạch kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế không chồng chéo về nội dung, phạm vi và thời gian với hoạt động kiểm tra thuế khác và các hoạt động thanh tra, kiểm tra khác theo quy định tại Luật Quản lý thuế 2025, các văn bản hướng dẫn thi hành luật và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Trường hợp cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế có thông tin tin cậy làm giảm mức độ rủi ro của người nộp thuế tới mức thấp hoặc có cơ sở cho rằng mức độ rủi ro của người nộp thuế là thấp chưa đưa vào kế hoạch kiểm tra năm thì cơ quan thuế quyết định không lựa chọn người nộp thuế đó vào kế hoạch kiểm tra và lựa chọn người nộp thuế khác theo quy định để đưa vào kế hoạch kiểm tra năm.
Trường hợp trong công tác quản lý thuế có thông tin được thu thập và xác minh được người nộp thuế có dấu hiệu rủi ro cao thì cơ quan thuế lựa chọn bổ sung vào kế hoạch kiểm tra năm.
Cơ quan thuế chịu trách nhiệm về các quyết định thay đổi của mình.
- Việc xây dựng và thẩm quyền phê duyệt kế hoạch kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế; danh sách bổ sung, điều chỉnh kế hoạch kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế tại Điều 17 Thông tư 94/2026/TT-BTC được thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế 2025, các văn bản hướng dẫn thi hành luật và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
(3) Cơ quan thuế căn cứ kết quả phân tích rủi ro bằng ứng dụng công nghệ thông tin hoặc rủi ro từ phân tích nghiệp vụ, thông tin từ thực tế công tác quản lý thuế để xác định trường hợp kiểm tra, nội dung, phạm vi và thời gian kiểm tra thuế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];