Dự kiến ghi hóa đơn theo Quyết định 43 hoặc mã HS cụ thể như thế nào?
Mới đây Bộ Tư pháp công bố Dự thảo nghị định mới về hóa đơn đang đề xuất yêu cầu tên hàng hóa, dịch vụ trên hóa đơn phải ghi theo Quyết định 43/2018/QĐ-TTg.
Xem toàn bộ dự thảo 14.4.26: Tải về
Trong đó đề xuất quy định nội dung của hoá đơn theo dự thảo nghị định mới về hóa đơn, chứng từ, trên hóa đơn phải ghi tên hàng hóa, dịch vụ (HHDV)
Đối với tên hàng hóa, dịch vụ có đề xuất như sau:
Trên hóa đơn phải thể hiện tên hàng hóa, dịch vụ bằng tiếng Việt theo Quyết định 43/2018/QĐ-TTg ngày 01/11/2028 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam (mã cấp 7) hoặc theo tên, mã HS của hàng hóa nhập khẩu.
Trường hợp bán hàng hóa có nhiều chủng loại khác nhau thì tên hàng hóa thể hiện chi tiết đến từng chủng loại (ví dụ: Điện thoại Samsung; mặt hàng săn, uống (trừ trường hợp tính tiền theo suất, phần)). Đối với mặt hàng xăng, dầu phải thể hiện rõ mặt hàng do Liên Bộ Tài chính – Công Thương.
[...]
Như vậy, nếu nội dung tại Dự thảo Nghị định mới về hóa đơn, chứng từ được thông qua, thời gian tới người bán dự kiến sẽ phải ghi tên hàng hóa, dịch vụ trên hóa đơn bằng tiếng Việt theo Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam ban hành kèm Quyết định 43/2018/QĐ-TTg (mã cấp 7) hoặc theo tên, mã HS đối với hàng hóa nhập khẩu.
Đồng thời, tên hàng hóa dự kiến phải được thể hiện chi tiết đến từng chủng loại.
* Trên đây là nội dung về Dự kiến ghi hóa đơn theo Quyết định 43 theo Dự thảo nghị định mới về hóa đơn

Dự kiến ghi hóa đơn theo Quyết định 43 cụ thể như thế nào? (Hình từ Internet)
Đối tượng nào sử dụng hóa đơn điện tử từ 01/7/2026?
Tại khoản 3 Điều 26 Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực từ 01/7/2026 quy định đối tượng sử dụng hóa đơn điện tử gồm:
- Người nộp thuế sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế theo quy định của Chính phủ;
- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thuộc trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định của Chính phủ và doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử phải khai và nộp thuế trước khi được cơ quan thuế cấp hóa đơn điện tử có mã cho từng lần phát sinh giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
Hành vi nào được coi là sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp?
Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ như sau:
- Sử dụng hóa đơn, chứng từ trong các trường hợp sau đây là hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp:
+ Hóa đơn, chứng từ giả;
+ Hóa đơn, chứng từ chưa có giá trị sử dụng, hết giá trị sử dụng;
+ Hóa đơn bị ngừng sử dụng trong thời gian bị cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn, trừ trường hợp được phép sử dụng theo thông báo của cơ quan thuế;
+ Hóa đơn điện tử không đăng ký sử dụng với cơ quan thuế;
+ Hóa đơn điện tử chưa có mã của cơ quan thuế đối với trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế;
+ Hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ có ngày lập trên hóa đơn từ ngày cơ quan thuế xác định bên bán không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
+ Hóa đơn, chứng từ mua hàng hóa, dịch vụ có ngày lập trên hóa đơn, chứng từ trước ngày xác định bên lập hóa đơn, chứng từ không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có thông báo của cơ quan thuế về việc bên lập hóa đơn, chứng từ không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền nhưng cơ quan thuế hoặc cơ quan công an hoặc các cơ quan chức năng khác đã có kết luận đó là hóa đơn, chứng từ không hợp pháp.
- Sử dụng hóa đơn, chứng từ trong các trường hợp sau đây là hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ:
+ Hóa đơn, chứng từ không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc theo quy định; hóa đơn tẩy xóa, sửa chữa không đúng quy định;
+ Hóa đơn, chứng từ khống (hóa đơn, chứng từ đã ghi các chỉ tiêu, nội dung nghiệp vụ kinh tế nhưng việc mua bán hàng hóa, dịch vụ không có thật một phần hoặc toàn bộ); hóa đơn phản ánh không đúng giá trị thực tế phát sinh hoặc lập hóa đơn khống, lập hóa đơn giả;
+ Hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hóa, dịch vụ hoặc sai lệch các tiêu thức bắt buộc giữa các liên của hóa đơn;
+ Hóa đơn để quay vòng khi vận chuyển hàng hóa trong khâu lưu thông hoặc dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác;
+ Hóa đơn, chứng từ của tổ chức, cá nhân khác (trừ hóa đơn của cơ quan thuế và trường hợp được ủy nhiệm lập hóa đơn) để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc hàng hóa, dịch vụ bán ra;
+ Hóa đơn, chứng từ mà cơ quan thuế hoặc cơ quan công an hoặc các cơ quan chức năng khác đã kết luận là sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];