Đảng viên dùng AI tạo, phát tán thông tin sai sự thật bị kỷ luật thế nào?

15:07 | 15/09/2026
Đảng viên dùng AI tạo, phát tán thông tin sai sự thật bị kỷ luật thế nào?
Nội dung chính
  1. Đảng viên dùng AI tạo, phát tán thông tin sai sự thật bị kỷ luật thế nào?
  2. Thời hiệu kỷ luật đối với đảng viên vi phạm được quy định thế nào?
  3. Việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm thực hiện theo nguyên tắc gì?

Đảng viên dùng AI tạo, phát tán thông tin sai sự thật bị kỷ luật thế nào?

Tại Điều 29 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 có nêu cụ thể như sau:

Điều 29. Vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn
1. Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau, gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:
[...]
e) Lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phản biện xã hội để viết bài, trả lời phỏng vấn hoặc sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, nền tảng số, không gian mạng, mạng xã hội và các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để truyền bá quan điểm trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
g) Sử dụng hạ tầng Internet, mạng xã hội, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo để tạo lập, phát tán thông tin sai sự thật.
[...]

Theo đó, một trong những nội dung đáng chú ý tại Điều 29 là quy định cụ thể trách nhiệm của đảng viên trong hoạt động tuyên truyền, phát ngôn.

Như vậy, đảng viên có hành vi “sử dụng hạ tầng Internet, mạng xã hội, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo để tạo lập, phát tán thông tin sai sự thật” gây hậu quả ít nghiêm trọng thì bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách theo quy định pháp luật.

Bên cạnh đó, khoản 2, khoản 3 Điều 29 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 cũng phân định mức kỷ luật căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi. Theo đó, nếu đảng viên đã bị kỷ luật khiển trách về hành vi nêu trên mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị cảnh cáo hoặc cách chức nếu có chức vụ. Trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 29 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 gây hậu quả rất nghiêm trọng, đảng viên có thể bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ.

Cụ thể:

* Trường hợp đã bị kỷ luật theo khoản 1 Điều 29 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):

- Phát ngôn trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; loan truyền thông tin không đúng sự thật.

- Cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu cho tổ chức, cá nhân về vấn đề thuộc bí mật của Đảng, Nhà nước, tổ chức, cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép. Cung cấp thông tin chưa được phép công khai, sai sự thật, không trung thực cho báo chí và các cơ quan, tổ chức truyền thông khác. Cung cấp thông tin, tài liệu cho người khác để nói, viết, đăng tin, bài sai sự thật trên phương tiện truyền thông, mạng xã hội nhằm xuyên tạc, hạ thấp uy tín của tập thể, cá nhân.

- Cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu cho báo chí về vụ án, vụ việc đang trong quá trình điều tra chưa được phép công bố hoặc chưa xét xử. Cung cấp, đăng tải thông tin, tài liệu, dữ liệu chi tiết đang phục vụ kết luận vụ việc; những vụ việc đang trong giai đoạn kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án chưa có kết luận hoặc chưa được phép công bố theo quy định.

- Cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu gây nguy hại lợi ích của Đảng, Nhà nước, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và trật tự, an toàn xã hội.

- Tàng trữ, tuyên truyền, phát tán hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, phát tán thông tin, tài liệu, dữ liệu dưới mọi hình thức nhằm truyền bá quan điểm trái chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Trả lời phỏng vấn, cho đăng tải tài liệu, dữ liệu tin, bài trên phương tiện truyền thông, mạng xã hội có nội dung sai sự thật, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử.

- Lợi dụng việc phát ngôn, chất vấn, trả lời chất vấn, việc phản ánh, kiến nghị, góp ý dự thảo văn bản của Đảng, Nhà nước, thư ngỏ, hồi ký để đưa ra quan điểm, thông tin gây tổn hại uy tín của Đảng, Nhà nước hoặc đả kích, vu cáo, xúc phạm, nhận xét, đánh giá tuỳ tiện có dụng ý xấu đối với tổ chức, cá nhân.

- Lợi dụng, sử dụng các diễn đàn, các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội, trang tin cá nhân hoặc nhóm để bôi nhọ danh dự của tổ chức, cá nhân; nói sai sự thật; ủng hộ thế lực thù địch kích động, chống phá Đảng, Nhà nước.

- Trực tiếp hoặc cổ xuý cho tổ chức, cá nhân sáng tác, sản xuất, xuất bản, tàng trữ, phát hành, phát tán các sản phẩm văn hoá, tác phẩm, văn học, nghệ thuật không lành mạnh, trái thuần phong mỹ tục dân tộc, mang tính kích động gây ảnh hưởng xấu trong xã hội, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; phát tán bài viết, bài nói, bài phỏng vấn, hồi ký, phim, hình ảnh không đúng quy định.

- Viết bài, duyệt đăng bài, đưa thông tin không đúng sự thật, không đúng quy định; đe doạ, yêu sách về nội dung bài viết, đăng bài, chia sẻ thông tin liên quan đến các địa phương, cơ quan, đơn vị, cá nhân nhằm trục lợi.

* Trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 29 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:

- Không chấp hành kỷ luật phát ngôn và bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước, để lộ thông tin, phát tán tài liệu, hiện vật không đúng nguyên tắc, chế độ quy định; tung tin sai lệch về nội bộ Đảng, gây tác động xấu đến ổn định chính trị, kỷ luật, kỷ cương, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và Nhân dân, để kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, chống phá, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước.

- Lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống Đảng, Nhà nước; nói, viết, lưu giữ trái phép hoặc phát tán thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung trái đường lối, quy định của Đảng hoặc đưa lên mạng xã hội nội dung chống lại chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Tham gia hoặc kích động, lôi kéo người khác tham gia hội thảo, toạ đàm không được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho phép, có nội dung trái chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp để tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Có việc làm sai trái đã được cấp có thẩm quyền nhắc nhở, giải thích nhưng không tiếp thu, tiếp tục viết, phát ngôn, phát tán hồi ký, đơn, thư bôi nhọ, vu khống, công kích Đảng, Nhà nước và chế độ.

* Trên đây là Thông tin Đảng viên dùng AI tạo, phát tán thông tin sai sự thật bị kỷ luật thế nào?

Đảng viên dùng AI tạo, phát tán thông tin sai sự thật bị kỷ luật thế nào?

Đảng viên dùng AI tạo, phát tán thông tin sai sự thật bị kỷ luật thế nào? (Hình từ Internet)

Thời hiệu kỷ luật đối với đảng viên vi phạm được quy định thế nào?

Tại Điều 4 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 quy định về thời hiệu kỷ luật như sau:

[1] Thời hiệu kỷ luật là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì đảng viên vi phạm không bị kỷ luật.

[2] Thời hiệu kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm đến khi tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Trường hợp đảng viên có hành vi vi phạm mới trong thời hạn được quy định tại điểm b khoản này thì thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm xảy ra hành vi vi phạm mới.

(a) Thời điểm có hành vi vi phạm phải được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, làm rõ, kết luận; xác định như sau:

Đối với hành vi vi phạm xác định được thời điểm chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm chấm dứt.

Đối với hành vi vi phạm không xác định được thời điểm chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm có kết luận của cấp có thẩm quyền.

(b) Thời hiệu kỷ luật đảng viên vi phạm như sau:

- 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách.

- 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.

- Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

(c) Không tính vào thời hiệu kỷ luật đối với các trường hợp quy định tại Điểm a, b, d Khoản 14 Điều 2 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026

Việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm thực hiện theo nguyên tắc gì?

Ngoài các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật, không kỷ luật và miễn xử lý kỷ luật nêu trên, Điều 2 Quy định 212-QĐ/TW năm 2026 còn quy định các nguyên tắc cần tuân thủ khi xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, cụ thể:

[1] Tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.

[2] Thi hành kỷ luật phải đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục và thẩm quyền, theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.

[3] Khi xem xét kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra.

[4] Một hành vi vi phạm chỉ bị kỷ luật một lần bằng một hình thức kỷ luật. Khi cùng một thời điểm xem xét kỷ luật nếu có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật cao nhất; không tách riêng từng hành vi vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau và kỷ luật nhiều lần.

[5] Sau 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng có hiệu lực (trừ quyết định kỷ luật khai trừ đối với đảng viên hoặc quyết định kỷ luật giải tán đối với tổ chức đảng), nếu tổ chức đảng, đảng viên không khiếu nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực.

[6] Tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan, sai, thì tổ chức đảng ra quyết định kỷ luật phải huỷ bỏ hoặc thay đổi quyết định kỷ luật cho phù hợp; tổ chức xin lỗi và phục hồi quyền lợi đối với tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan; nếu tổ chức đảng không thực hiện thì tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đã ra quyết định kỷ luật oan, sai, nếu có vi phạm đến mức phải kỷ luật thì xử lý theo quy định.

[7] Tổ chức đảng bị kỷ luật, tổ chức đảng nơi đảng viên bị kỷ luật sinh hoạt đã chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc kết thúc hoạt động thì việc công bố quyết định kỷ luật thực hiện ở tổ chức đảng đã tiếp nhận việc chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó.

[8] Kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan để xem xét xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu tổ chức đảng.

Đảng viên trong tổ chức đảng bị kỷ luật phải chịu trách nhiệm về nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật của tổ chức đảng đó và phải ghi vào lý lịch đảng viên; đảng viên không bị kỷ luật về cá nhân vẫn được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định. Đảng viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến vi phạm của tổ chức đảng cũng phải ghi rõ vào lý lịch đảng viên.

[9] Đảng viên vi phạm pháp luật phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đảng viên vi phạm bị truy nã, tạm giam hoặc bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên thì tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định khai trừ, đối với đảng viên dự bị thì quyết định xoá tên trong danh sách đảng viên; nếu bị xử phạt bằng hình phạt thấp hơn cải tạo không giam giữ hoặc được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tuỳ nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để thi hành kỷ luật đảng tương xứng. Nếu làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách nhiệm và bồi thường theo quy định.

[10] Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại (trừ trường hợp có quy định khác). Đảng viên bị kỷ luật về đảng thì chậm nhất 5 ngày kể từ ngày ký quyết định, cấp uỷ quản lý đảng viên đó phải kịp thời chỉ đạo hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật về Đảng, phải thực hiện quy trình xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể, xử lý pháp luật (nếu có) theo quy định (trừ trường hợp quy định tại Khoản 14 Điều này).

Khi các cơ quan, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, cơ quan bảo vệ pháp luật thi hành kỷ luật, khởi tố bị can đối với cán bộ, công chức, viên chức, hội viên, đoàn viên, người lao động là đảng viên thì chậm nhất 5 ngày kể từ ngày ký quyết định phải chủ động thông báo ngay bằng văn bản cho tổ chức đảng quản lý đảng viên đó biết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, tổ chức đảng quản lý đảng viên phải quyết định thi hành kỷ luật về Đảng theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền thi hành kỷ luật.

[11] Trong cùng một vụ việc có nhiều đảng viên vi phạm thì mỗi đảng viên phải bị kỷ luật về hành vi vi phạm của mình.

[12] Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có vi phạm ở tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cũ đến mức phải kỷ luật thì xem xét kỷ luật theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

[13] Không bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, biệt phái, phong, thăng quân hàm, tặng khen thưởng, công nhận các danh hiệu của Đảng, Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên đang bị tổ chức đảng xem xét xử lý kỷ luật, chưa hết thời hạn kỷ luật, trong thời gian giải quyết tố cáo (đã có quyết định thành lập đoàn giải quyết tố cáo), khiếu nại kỷ luật, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, bị kiến nghị xử lý vi phạm theo kết luận thanh tra, kiểm toán, bị điều tra.

Nguyễn Thị Hiền
Nguyễn Thị Hiền Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Bộ máy hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất