Công văn 6065/VKSTC-V3 xử lý vi phạm pháp luật về gian lận, trốn đóng BHXH, BHTN, BHYT như thế nào?
Ngày 20/10/2026, Viện kiểm sát tối cao đã ban hành Công văn 6065/VKSTC-V3 năm 2026 V/v tăng cường xử lý vi phạm pháp luật về gian lận, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
Tải Công văn 6065/VKSTC-V3 xử lý vi phạm pháp luật về gian lận, trốn đóng BHXH, BHTN, BHYT
Ngày 11/12/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 263/2025/QH15 về tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Quốc hội Khoá XIV và khoá XV về giám sát chuyên đề và chất vấn, trong đó yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao trong việc chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là về gian lận, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao, Viện trưởng VKSND các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
1. Thường xuyên quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm, hiệu quả nội dung nêu tại mục 2.16 Nghị quyết số 263/2025/QH15 của Quốc hội và các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo đảm mọi hành vi có dấu hiệu tội phạm được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Gắn việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 263/2025/QH15 với Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và các chủ thể có liên quan. Thông qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, chủ động phát hiện các vụ việc có dấu hiệu xâm phạm quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công; kịp thời chuyển thông tin, tài liệu đến đơn vị có thẩm quyền để xem xét, xử lý theo quy định.
2. Chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan Bảo hiểm xã hội, Thanh tra, Thuế, Y tế, tổ chức Công đoàn và các cơ quan chức năng trong trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu, phát hiện, tiếp nhận và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm, chú trọng những địa bàn có nhiều doanh nghiệp, khu công nghiệp, tình hình nợ, trốn đóng bảo hiểm kéo dài hoặc có nhiều vụ việc phức tạp. Đảm bảo quy trình hồ sơ theo Công văn số 5659/BCA-CSKT ngày 15/12/2025 của Bộ Công an về hướng dẫn kiến nghị khởi tố theo Điều 214, Điều 215, Điều 216 Bộ luật Hình sự theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
[...]
Xem chi tiết tại Công văn 6065 VKSTC V3 năm 2026 Tại đây

Công văn 6065 VKSTC V3 xử lý vi phạm pháp luật về gian lận, trốn đóng BHXH, BHTN, BHYT như thế nào? (Hình từ Internet)
Trốn đóng BHXH bị xử phạt như thế nào?
Theo Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định về mức phạt trốn đóng BHXH bắt buộc từ ngày 10/9/2026 như sau:
[1] Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sau thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 theo một trong các mức sau đây:
- Từ 6.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng, khi vi phạm dưới 10 người lao động;
- Từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm từ 10 người đến dưới 50 người lao động;
- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, khi vi phạm từ 50 người đến dưới 100 người lao động;
- Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, khi vi phạm từ 100 người đến dưới 300 người lao động;
- Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, khi vi phạm từ 300 người đến dưới 500 người lao động;
- Từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, khi vi phạm từ 500 người đến dưới 700 người lao động;
- Từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, khi vi phạm từ 700 người đến dưới 1.000 người lao động;
- Từ 70.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng, khi vi phạm từ 1.000 người lao động trở lên.
[2] Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây:
- Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024;
- Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
[3] Biện pháp khắc phục hậu quả
- Buộc người sử dụng lao động lập hồ sơ đăng ký hoặc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động; đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP;
- Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.
Lưu ý: Mức phạt tiền đối với hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc trên là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Các hành vi nào là hành vi bị nghiêm cấm về bảo hiểm xã hội?
Theo Điều 9 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, các hành vi bị nghiêm cấm về bảo hiểm xã hội gồm có:
- Chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
- Chiếm dụng tiền hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
- Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng tham gia, thụ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
- Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
- Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp trái pháp luật.
- Truy cập, khai thác, cung cấp cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trái pháp luật.
- Đăng ký, báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin không chính xác về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
- Thông đồng, móc nối, bao che, giúp sức cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
- Cầm cố, mua bán, thế chấp, đặt cọc sổ bảo hiểm xã hội dưới mọi hình thức.
- Hành vi khác theo quy định của luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];