Công điện 26: Hoàn thành nhập dữ liệu các dự án đầu tư đã báo cáo Ban chỉ đạo tồn đọng kéo dài trước 25/03/2025?
Ngày 31/3/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện 26/CĐ-TTg năm 2025 khẩn trương rà soát, báo cáo dự án đầu tư có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài trên hệ thống đầu tư công quốc gia.
Theo Công điện 26/CĐ-TTg năm 2025, để sớm tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các dự án tồn tại kéo dài để đưa các dự án vào khai thác để tránh lãng phí nguồn lực đã đầu tư, nhằm giải phóng, khai thác hiệu quả các nguồn lực của nhà nước, nhà đầu tư, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các đơn vị liên quan tập trung thực hiện các nhiệm vụ được quy định trong Công điện 26/CĐ-TTg năm 2025, bao gồm:
- Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục rà soát, hoàn thành việc nhập dữ liệu các dự án đầu tư gặp khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài đối với các dự án đã báo cáo Ban chỉ đạo trước ngày 25/3/2025. ...
[...]
Theo đó, phải hoàn thành việc nhập dữ liệu các dự án đầu tư gặp khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài đối với các dự án đã báo cáo Ban chỉ đạo trước ngày 25/3/2025.

Công điện 26: Hoàn thành nhập dữ liệu các dự án đầu tư đã báo cáo Ban chỉ đạo tồn đọng kéo dài trước 25/03/2025? (Hình từ Internet)
Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư ra sao?
Căn cứ theo Điều 44 Luật Đầu tư 2020 quy định thời hạn hoạt động của dự án đầu tư như sau:
- Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư trong khu kinh tế không quá 70 năm.
- Thời hạn hoạt động của dự án đầu tư ngoài khu kinh tế không quá 50 năm. Dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc dự án đầu tư có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm thì thời hạn hoạt động của dự án đầu tư có thể dài hơn nhưng không quá 70 năm.
- Đối với dự án đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng nhà đầu tư chậm được bàn giao đất thì thời gian Nhà nước chậm bàn giao đất không tính vào thời hạn hoạt động, tiến độ thực hiện của dự án đầu tư.
- Khi hết thời hạn hoạt động của dự án đầu tư mà nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện dự án đầu tư và đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật thì được xem xét gia hạn thời hạn hoạt động của dự án đầu tư nhưng không quá thời hạn tối đa quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 44 Luật Đầu tư 2020, trừ các dự án đầu tư sau đây:
+ Dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên;
+ Dự án đầu tư thuộc trường hợp nhà đầu tư phải chuyển giao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam hoặc bên Việt Nam.
- Chính phủ quy định chi tiết Điều 44 Luật Đầu tư 2020.
Nguyên tắc thực hiện dự án đầu tư được quy định như thế nào?
Căn cứ theo Điều 42 Luật Đầu tư 2020 quy định như sau:
Điều 42. Nguyên tắc thực hiện dự án đầu tư
1. Đối với dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, việc chấp thuận chủ trương đầu tư phải được thực hiện trước khi nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư.
2. Đối với dự án đầu tư thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thực hiện dự án đầu tư.
3. Nhà đầu tư có trách nhiệm tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về quy hoạch, đất đai, môi trường, xây dựng, lao động, phòng cháy và chữa cháy, quy định khác của pháp luật có liên quan, văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có) và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có) trong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư.
Theo đó, nguyên tắc thực hiện dự án đầu tư như sau:
- Đối với dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, việc chấp thuận chủ trương đầu tư phải được thực hiện trước khi nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư.
- Đối với dự án đầu tư thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thực hiện dự án đầu tư.
- Nhà đầu tư có trách nhiệm tuân thủ quy định của Luật Đầu tư 2020, pháp luật về quy hoạch, đất đai, môi trường, xây dựng, lao động, phòng cháy và chữa cháy, quy định khác của pháp luật có liên quan, văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có) và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có) trong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];