TIÊU CHUẨN VIỆT
NAM
TCVN 7177:
2002
ISO
8265: 1988
CHẤT
LƯỢNG NƯỚC - THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG DỤNG CỤ LẤY MẪU ĐỊNH LƯỢNG ĐỂ LẤY MẪU ĐỘNG VẬT
KHÔNG XƯƠNG SỐNG ĐÁY CỠ LỚN TRÊN NỀN CÓ ĐÁ Ở VÙNG NƯỚC NGỌT NÔNG
Water quality – Design and use of quantitative samplers for benthic
macro-invertebrates on stony substrata in shallow freshwaters
Lời nói đầu
TCVN 7177: 2002 hoàn toàn tương đương với ISO
8265: 1988. TCVN 7177: 2002 do Ban kĩ thuật Tiêu chuẩn TCVN /TC 147 "Chất lượng
nước " biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa
học và Công nghệ ban hành.
CHẤT LƯỢNG NƯỚC - THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG
DỤNG CỤ LẤY MẪU ĐỊNH LƯỢNG ĐỂ LẤY MẪU ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG ĐÁY CỠ LỚN TRÊN
NỀN CÓ ĐÁ Ở VÙNG NƯỚC NGỌT NÔNG
Water quality –
Design and use of quantitative samplers for benthic macro-invertebrates on
stony substrata in shallow freshwaters
Cảnh báo an toàn - Không nên làm việc một
mình dưới nước, ở nơi nước sâu, có dòng chảy xiết, và có nền đáy không ổn định.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này hướng dẫn sử dụng dụng cụ và
qui trình lấy mẫu định lượng của động vật không xương sống đáy cỡ lớn (ĐVĐCL)
bằng dụng cụ lấy mẫu phẫu diện hình vuông ở độ sâu nhỏ hơn 500 mm, mặc dù các
phương pháp được mô tả cho phép lấy mẫu trong những điều kiện cụ thể, ở độ sâu
của nước tới 1 m.
Những quy trình này có thể áp dụng để lấy mẫu
ở tất cả các loại hình môi trường sống thuỷ sinh có thể tiếp cận được ở sông,
suối và cửa sông nơi vận tốc dòng nước thường vượt quá 0,1 m/s, nhưng những
dụng cụ lấy mẫu đã có cải tiến, có thể sử dụng ở những nơi mà dòng chảy có vận
tốc nhỏ như: ao, hồ (xem phụ lục A). Việc lấy mẫu có thể khó khăn hoặc không
thể thực hiện được ở những nơi mà đáy có nhiều đá lớn và đá cuội hoặc nơi có
nhiều rễ cây thực vật bậc cao. Những kết quả của việc sử dụng dụng cụ lấy mẫu
cung cấp các dữ liệu định lượng về hiện trạng, tính đa dạng và sự phong phú về
mối quan hệ họ hàng của các đơn vị phân loại.
2 Tiêu chuẩn viện dẫn
TCVN 5993: 1995 (ISO 5667-3: 1985) Chất lượng
nước - Lấy mẫu - Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu.
3 Nguyên tắc
Lấy mẫu động vật không xương sống đáy cỡ lớn
ở những vùng nước chảy, nông bằng cách sử dụng dụng cụ lấy mẫu phẫu diện hình
vuông, dụng cụ này làm tách biệt phần nền đáy của thuỷ vực. Việc làm xáo trộn
nền đáy dẫn tới giải phóng động vật không xương sống đáy cỡ lớn khỏi sự bám
dính hoặc chôn vùi trong chất nền và chúng được thu vào trong lưới theo dòng
chảy.
4 Thiết bị lấy mẫu
4.1 Dụng cụ lấy mẫu kiểu Surber
Cấu tạo của dụng cụ này (xem hình 1a) gồm 2
khung gắn vào nhau, một khung để đỡ lưới và khung kia xác định diện tích lấy
mẫu. Toàn bộ dụng cụ lấy mẫu này nặng khoảng 2 kg, gập phẳng lại được và mang
xách dễ dàng. Mỗi khung là hình vuông với kích thước 300 mm ì 300 mm và đó cũng
là diện tích lấy mẫu, phần khung để lấy mẫu và miệng lưới có diện tích 0,09 m2 (xem
hình 1b). Hai thanh giằng giữ chặt 2 khung khi làm việc ở vị trí vuông góc với
nhau, 2 cánh hình tam giác bằng lưới hoặc vải bạt để giảm bớt sự mất của động
vật không xương sống xung quanh các phía của lưới.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Lưới lấy mẫu nên dài khoảng 700 mm, có vòng
đai làm bằng vật liệu nặng (thí dụ: vải bạt hoặc vải buồm) vòng quanh miệng lưới
một đoạn ngắn (xem hình 1a). Vòng đai này làm tăng độ bền của lưới và có thể mở
rộng được ở phía bên dưới lưới để bảo vệ lưới khỏi bị mài mòn. Lưới dùng trước
đây thường có hình thuôn nhẹ dần về phía sau thành hình vòm nhưng hiện nay thường
dùng những lưới có dạng hình túi (bao) và hình nón. Lưới nêu trong hình 1d có
đoạn vòng đai bằng vải buồm ngắn vòng quanh miệng lưới và mở rộng ra ở phía dưới
của lưới.
Một kiểu dụng cụ lấy mẫu Surber khác có cấu
tạo vững chắc hơn được nêu ở hình 2. Dụng cụ này thay thế 2 khung bằng một cái
hộp có phần đỉnh và phần đáy hở, các mặt bên đặc, một lưới ở mặt ngược dòng
chảy và một tấm chắn ở mặt trước. Hộp này làm giảm tối đa sự mất động vật không
xương sống đáy khi lấy mẫu và làm tăng thêm độ ổn định và chắc chắn của dụng cụ
lấy mẫu. Mặt khác, dụng cụ này cũng dễ dàng sử dụng hơn so với dụng cụ trước
đây khi lấy mẫu ở nơi có vận tốc dòng chảy cao.
Sự lựa chọn kích thước mắt lưới phụ thuộc vào
mục đích khảo sát. Bảng 1 đưa ra chi tiết về các kích thước thích hợp.
4.2 Dụng cụ lấy mẫu hình trụ
Dụng cụ này, về cơ bản, được cấu tạo từ một cái
ống hình trụ hở đáy, làm bằng thép không rỉ dày khoảng 0,5 mm, gờ phía dưới có
răng cưa, độ sâu của mỗi răng cưa là 10 mm. Gờ phía trên có thể bọc một băng
nhựa để bảo vệ người thao tác. Tay cầm ở mặt bên tạo thuận lợi cho việc ấn dụng
cụ vào trong nền suối. Để nước có thể chảy vào dụng cụ lấy mẫu, một lỗ hình ô
van (hình bầu dục) được khoét ra ở mặt bên của dụng cụ này, gần gờ đáy dưới. Để
giảm bớt các mảnh vụn trôi vào trong, lỗ mở này được che bằng một tấm lưới bằng
thép không gỉ dạng thô có đường kinh mắt lưới khoảng 1 mm. Đối diện với lỗ
khoét này là một lỗ thứ hai có đính một lưới lấy mẫu có thể tháo lắp được (xem
hình 3). Sự lựa chọn kích thước phù hợp của mắt lưới phụ thuộc vào mục đích
nghiên cứu, tuy nhiên đã được hướng dẫn nêu ở bảng 1. Lưới nên có chiều sâu là
500 mm và làm bằng ni lon, có vòng đai vải bạt buông xuống sâu 50 mm với một
sợi dây kéo để buộc vào lối nước ra của dụng cụ lấy mẫu. Một gờ nông ở rìa của
lối nước ra đảm bảo để buộc lưới được chắn chắn. Dụng cụ này sử dụng hai loại
kích thước thông dụng, một loại có diện tích thiết diện ngang là 0,05 m2
và loại kia là 0,1 m2. Chiều cao của cả hai loại dụng cụ này thường
khoảng 450 mm (hình 4). Khối lượng của loại có diện tích thiết diện 0,05 m2
là 3 kg và của loại 0,1 m2 là xấp xỉ 4 kg. Hình 4 giới thiệu một
kiểu dáng được vạch ra trên mặt một tấm kim loại phẳng, cùng với một vài chi
tiết về cấu trúc để làm dụng cụ lấy mẫu có thiết diện 0,05 m2.
5 Quy trình lấy mẫu
và mẫu lấy
5.1 Chọn dụng cụ lấy mẫu
Việc lựa chọn giữa dụng cụ lấy mẫu kiểu
Surber và kiểu hình trụ tuỳ thuộc vào người thao tác dựa trên cơ sở kinh nghiệm
thao tác và điều kiện hiện tại. Trong điều kiện nước chảy chậm, hoặc nước sâu
và có thảm thực vật, dụng cụ lấy mẫu hình trụ có nhiều ưu thế do ít phụ thuộc
vào vận tốc dòng nước và phát huy tối đa công dụng của nó. Trong những tình
huống khó khăn, không có khả năng khuấy động bằng tay vùng lấy mẫu một cách
hiệu quả thì sử dụng que khuấy cùng với dụng cụ hình trụ. Khi đất nền gây khó
khăn cho việc đặt dụng cụ lấy mẫu hình trụ do có đá cuội to trên nền đá thì
dụng cụ lấy mẫu kiểu Surber sẽ thích hợp hơn.
5.2 Dụng cụ lấy mẫu kiểu Surber
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chú thích 1 - Những khe hở dưới cạnh của
khung vuông có thể nhanh chóng bị lấp đầy sỏi để ngăn cản sự mất mát của động
vật không xương sống ở dưới khung khi chất nền trong phạm vi ô vuông bị xáo
trộn. Lắp chặt một dải bọt xốp cao su ở phần khung dưới tạo cho dụng cụ lấy mẫu
và nền được sát nhau. Phần khung có thể bám chắc chắn hơn với chất nền đáy nếu
có thêm 2 đinh nhọn ở góc nối giữa 2 khung (xem hình 1c).
Phần nền bên trong khung vuông phải được
khuấy cẩn thận bằng tay (tay đi găng tay cao su nếu nước rất lạnh). Những viên
đá lớn phải được cạo sạch và loại bỏ, những viên đá nhỏ và sỏi được khuấy và để
chìm trở lại đáy thuỷ vực nơi có độ sâu từ 50 mm đến 100 mm tuỳ theo từng lớp
nền đáy. Điều quan trọng là phải đảm bảo rằng tất cả các vật chất đã bị khuấy
bật ra đều đi vào trong lưới. Với dụng cụ lấy mẫu Suber có trọng lượng nhẹ, thường
chỉ giữ dụng cụ này bằng một tay.
Chú thích 2 - Một cái cán cầm để giữ yên
khung vuông trên nền đáy có thể được vặn bằng vít vào một ống chữ T làm bằng
đồng nằm trên đỉnh khung. Cán cầm này có thể thay đổi cho thích hợp vừa với
ngực của người lấy mẫu để người đó có thể ấn khung vuông lên nền đáy. Kỹ thuật
này đặc biệt có tác dụng ở nơi có dòng chảy xiết.
Cách khác, có thể gắn thêm vào góc dưới của
khung hai phần khung nới rộng. Những phần này có thể gập ra ngoài sao cho chúng
nằm bằng phẳng theo nền, bằng cách ấy cho phép người lấy mẫu giữ vững dụng cụ
lấy mẫu đúng chỗ bằng chân của mình.
Điều cần thiết là khi lấy mẫu bằng dụng cụ
này ở điều kiện vận tốc dòng nước cao (khoảng 0,8 m/s) thì cần hai người thao
tác, một người giữ dụng cụ và người kia khuấy động nền đáy.
Khi không còn nhiều vật chất cần loại bỏ ra
khỏi ô vuông, dụng cụ được nâng ra khỏi nước với miệng lưới hướng về phía ngược
dòng. Có thể ngâm lưới trong nước để rửa các chất thu được và đưa nó tới phần
cuối của lưới, cần nhớ rằng không được nhận chìm miệng lưới trở lại vì động vật
khác cũng có thể lọt vào trong lưới. Lưới phải được lộn từ trong ra ngoài và
những mẫu vật thu được trong lưới sẽ được chuyển tới nơi chứa đựng, chẳng hạn
như: khay, bát hoặc chai đựng loại nước lấy từ thuỷ vực đang được lấy mẫu. Một
số người thao tác lồng chai thu gom mẫu vào phần chỏm của lưới lấy mẫu. Một vài
sự phân loại sơ bộ có thể được thực hiện tại hiện trường để loại bỏ những rác
vụn không cần có (ví dụ: những mảnh gỗ, đá), và để giảm thiểu khối lượng của
mẫu vật thu được. Điều này có hiệu quả cao hơn nữa nếu dùng một lưới nhỏ (xem
hình 1e) cùng với một phương pháp kỹ thuật gạn lọc, tức là lắc xoáy chai đựng
mẫu và rót vào trong lưới nhỏ, lặp lại quá trình này đến khi tất cả các vật
chất hữu cơ cùng với động vật không xương sống được chuyển vào trong lưới nhỏ.
Lưới nhỏ sau đó sẽ lộn từ trong ra ngoài để cho toàn bộ mẫu vật đã thu được sẽ
được chuyển vào nơi chứa mẫu. Chất vô cơ còn lại phải được xem xét kỹ và bất cứ
sinh vật nào đều được chuyển vào mẫu. Mẫu vật phải được bảo quản ngay lập tức
để tránh sự đánh giá không đúng mức về số lượng. Nếu sự phân loại bị trì hoãn
chỉ trong vòng 1 giờ thì mẫu vật có thể được lưu giữ trong một bình chứa nước
đậy kín.
Mẫu phải được bảo quản phù hợp với quy định
trong TCVN 5993: 1995 (ISO 5667-3). Về việc cải tiến dụng cụ lấy mẫu kiểu
Surber, xem phụ lục A.
5.3 Dụng cụ lấy mẫu hình trụ
Với lưới lấy mẫu được gắn chắc vào ống trụ,
vị trí lấy mẫu sẽ được tiếp cận trên lòng sông xuôi theo dòng nước để tránh
khuấy động quá mức vùng lấy mẫu. Dụng cụ lấy mẫu được đặt lên nền đáy dòng chảy
sao cho lưới chắn chỗ nước vào phải hướng về phía dòng chảy. Dụng cụ lấy mẫu
này chỉ dùng ở nơi có độ sâu tối đa 70 mm, sử dụng chuyển động xoay luân phiên.
Lưới lấy mẫu được sắp xếp sao cho để mở hoàn toàn và duỗi thẳng xuôi theo dòng
với miệng lưới hướng vào phía dòng chảy; điều này cho phép luồng nước chảy qua
lưới không bị cản trở. Người thao tác đứng ngay sát dụng cụ lấy mẫu với hai chân
dạng ra nơi lưới thu, sử dụng cả hai bàn chân và cẳng chân để giữ chắc dụng cụ
lấy mẫu tại chỗ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nước chảy qua ống trụ đi vào trong lưới mang
theo những động vật lơ lửng trong nước, lưới chính là nơi chúng được giữ lại. ở
khu vực đô thị, nơi các mảnh thuỷ tinh vỡ thường lắng đọng xuống lòng sông,
phải cẩn thận khi lấy mẫu, đặc biệt trong môi trường nước bị ô nhiễm, ở những
nơi này khi làm xáo trộn chất nền nơi lấy mẫu một cách an toàn có thể dùng một
cái que. Nếu dùng tay thì nên đi găng tay cao su. Sau khi khuấy động vật chất
để chúng đi vào trong lưới lấy mẫu, lưới phải được tháo ra. Để làm việc này,
mẫu thu được phải được tập trung ở phần cuối của lưới để tháo lưới ra dễ dàng.
Lưới sẽ được lộn từ trong ra ngoài, sau đó chuyển mẫu vật vào một cái khay để
kiểm tra và phân loại sơ bộ, cần tiến hành cẩn thận để đảm bảo sao cho tất cả
động vật thu được trong lưới được chuyển hết vào khay.
Cách bảo quản mẫu xem 5.2.
Về việc cải tiến dụng cụ lấy mẫu hình trụ,
xem phụ lục A.
Bảng 1 – Các kích cỡ
mắt lưới được khuyến nghị sử dụng
Mục đích nghiên cứu
Kích thước tối đa
của mắt lưới
mm
Độ sâu tối thiểu
của lưới
mm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cần dữ liệu quan trắc chung/ dữ liệu quan trắc
sinh học thường nhật để khảo sát có sử dụng bảng điểm hoặc các chỉ số khu hệ
sinh học
0,5 hoặc 0,75
400
Có thể không bắt giữ được nhiều côn trùng ở
giai đoạn lột xác thứ nhất.
Để giám sát với các hồ sơ hoàn chỉnh hơn về
các đơn vị phân loại hiện có.
0,5
475
Có nhiều khả năng bắt giữ được côn trùng ở
giai đoạn lột xác thứ nhất hơn.
Để khảo sát đặc biệt có yêu cầu danh mục các
đơn vị phân loại hoàn chỉnh
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
625
Đảm bảo bắt giữ được côn trùng ở giai đoại lột
xác thứ nhất và những sinh vật rất nhỏ, những loại có thể xác nhận giá trị trong
xác định chất lượng nước.

a) Dụng cụ lấy mẫu
hoàn chỉnh cùng với lưới
Kích thước bằng
milimét

b) Chi tiết của khung
kim loại
Hình 1 - Dụng cụ lấy
mẫu nguyên bản kiểu Surber
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

e) Lưới tách để phân
loại sơ bộ mẫu tại hiện trường
Hình 1 - (kết thúc) - Dụng
cụ lấy mẫu cơ nguyên kiểu Surber

Hình 2 - Dụng cụ lấy
mẫu Surber cải tiến

Hình 3 - Dụng cụ lấy
mẫu hình trụ
Kích thước bằng
milimét
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình 4 - Kiểu dáng
dụng cụ lấy mẫu hình trụ cho diện tích 0,5 m2
Phụ
lục A
(qui định)
Những
cải tiến đối với các dụng cụ lấy mẫu
A.1 Cải tiến dụng cụ lấy mẫu cơ bản kiểu
Surber
Những cải tiến nhất định đối với cấu tạo của
dụng cụ lấy mẫu để sử dụng tại địa điểm lấy mẫu, nơi mà quá trình lấy mẫu kém hiệu
quả, gây ra thất thoát mẫu động vật không xương sống, tức là không lấy được
mẫu, có thể do những lý do sau:
a) Trên nền đáy có sỏi gồ ghề, đá vụn, nhiều
đá lớn hoặc đá cuội: nên dùng bọt xốp cao su hoặc ống cao su tách đôi để làm
một vòng đai ở chân đế của khung vuông để khung vuông bám sát hơn với nền đáy;
b) Thất thoát động vật không xương sống loại
nhỏ do lưới: Nên dùng thêm một cái lưới thứ hai có kích thước mắt lưới bé hơn;
c) Nơi dòng chảy mạnh gây ra thất thoát mẫu
vật ở khu vực xung quanh lưới: phải bao che một phần hoặc toàn bộ diện tích
khung vuông bằng lưới kim loại hoặc bằng một cái hộp, hoặc điều khiển dòng chảy
vào dụng cụ lấy mẫu bằng một cửa vào hình nón.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
A.2 Cải tiến dụng cụ lấy mẫu hình trụ
ở nơi nước chảy chậm hoặc nước đứng, có thể
sử dụng dụng cụ lấy mẫu hình trụ đơn giản không có nước chảy qua vào có thể sử
dụng các phương tiện thu gom mẫu; lưới múc hoặc rây có kích thước lỗ thích hợp
hoặc bơm hút đều có thể được dùng để thu thập động vật không xương sống đã được
rời ra bằng cách khuấy động khu vực được bao vây.