|
QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------
|
|
Luật
số: 26/2008/QH12
|
Hà
Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2008
|
LUẬT
THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật thi
hành án dân sự.
Chương
I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc,
trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu
tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án
phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản
án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có
liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh và quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết
định); hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành viên; quyền, nghĩa vụ của
người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động
thi hành án dân sự.
Điều
2. Bản án, quyết định được thi hành
Những bản án, quyết định được
thi hành theo Luật này bao gồm:
1. Bản
án, quyết định quy định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật:
a) Bản án, quyết định hoặc phần
bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm;
b) Bản án, quyết định của Toà án
cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm của Toà án;
d) Bản án, quyết định dân sự của
Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ) Quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30
ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không
khởi kiện tại Toà án;
e) Quyết
định của Trọng tài thương mại.
2. Những bản án, quyết định
sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo,
kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp
dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm,
trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn
thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;
b) Quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều
3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ
ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Đương sự bao
gồm người được thi hành án, người phải thi hành án.
2. Người được thi
hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản
án, quyết định được thi hành.
3. Người phải thi hành án
là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định
được thi hành.
4. Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
5. Thời
hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải
thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.
6. Có điều kiện thi
hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi
hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ
thi hành án.
7. Phí thi hành án
là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản
theo bản án, quyết định.
8. Chi
phí cưỡng chế thi hành án là các khoản chi phí do người phải thi hành án chịu
để tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp pháp luật quy định chi phí cưỡng
chế thi hành án do người được thi hành án hoặc do ngân sách nhà nước chi trả.
Điều
4. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định
Bản án, quyết định quy định tại
Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công
dân tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có
liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết
định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.
Điều
5. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan
Trong quá trình thi hành án,
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được
tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Điều
6. Thoả thuận thi hành án
1. Đương sự có quyền thoả thuận
về việc thi hành án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và
không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thoả thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, Chấp
hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thoả thuận về thi hành án.
2. Trường hợp đương sự không
thực hiện đúng thoả thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi
hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Điều
7. Quyền yêu cầu thi hành án
Người
được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền
yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án.
Điều
8. Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự
1. Tiếng nói và chữ viết
dùng trong thi hành án dân sự là tiếng Việt.
Đương sự có quyền dùng
tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng phải có người phiên dịch. Đương sự
là người dân tộc thiểu số mà không biết tiếng Việt thì cơ quan thi hành án dân
sự phải bố trí phiên dịch.
2. Người phiên dịch phải dịch
đúng nghĩa, trung thực, khách quan, nếu cố ý dịch sai thì phải chịu trách nhiệm
theo quy định của pháp luật.
Điều
9. Tự nguyện và cưỡng chế thi hành án
1. Nhà nước khuyến
khích đương sự tự nguyện thi hành án.
2. Người phải thi hành án có
điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định của Luật này.
Điều
10. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi
phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Điều
11. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án
dân sự, Chấp hành viên
1. Trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối
hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân
sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này.
Mọi hành vi cản trở,
can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều
12. Giám sát và kiểm sát việc thi hành án
1. Quốc hội,
Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan
thi hành án dân sự và các cơ quan nhà nước khác trong thi hành án dân sự theo
quy định của pháp luật.
2. Viện
kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân
theo pháp luật về thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên,
cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc
thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật.
Chương
II
HỆ
THỐNG TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ CHẤP HÀNH VIÊN
Điều
13. Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự
Hệ thống tổ chức thi hành án
dân sự bao gồm:
1. Cơ quan quản lý thi hành án
dân sự:
a) Cơ
quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;
b) Cơ
quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Cơ quan thi hành án
dân sự:
a) Cơ quan thi hành án
dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh);
b) Cơ quan thi hành án dân sự
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện);
c) Cơ quan thi hành án quân
khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân khu).
Chính phủ quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ
thể của cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 14.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
1. Quản lý, chỉ đạo về
thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm:
a) Bảo đảm việc áp dụng
thống nhất các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự;
b) Chỉ đạo hoạt động
thi hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp
vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, công chức khác của cơ quan thi hành
án dân sự trên địa bàn;
c) Kiểm tra công tác
thi hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
d) Tổng kết thực tiễn
thi hành án dân sự; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động
thi hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc
Bộ Tư pháp.
2. Trực tiếp tổ chức
thi hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật
này.
3. Lập hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan Công an trong
việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người
có nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt tù.
4. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
5. Thực hiện quản lý công chức,
cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự
tại địa phương theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự
thuộc Bộ Tư pháp.
6.
Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 173 của Luật này.
7. Báo
cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân cùng cấp khi có yêu cầu.
Điều
15. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án cấp quân khu
1. Trực tiếp tổ chức
thi hành bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật
này.
2. Tổng
kết thực tiễn công tác thi hành án theo thẩm quyền; thực hiện chế độ thống kê,
báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ
quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
3. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
4. Phối hợp với các cơ quan chức
năng của quân khu trong việc quản lý cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí và phương
tiện hoạt động của cơ quan thi hành án cấp quân khu theo hướng dẫn, chỉ đạo của
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Lập hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan thi hành án phạt
tù trong quân đội trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt
tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt
tù.
6. Giúp Tư lệnh quân khu và
tương đương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản
1 Điều 172 của Luật này.
Điều
16. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện
1. Trực tiếp tổ chức
thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật
này.
2. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
3. Thực hiện quản lý công chức,
cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động được giao theo hướng dẫn, chỉ
đạo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
4. Thực hiện chế độ thống kê,
báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án theo quy định của pháp luật và
hướng dẫn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
5. Lập hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự.
6. Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 174 của Luật này.
7. Báo
cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân khi có yêu cầu.
Điều
17. Chấp hành viên
1. Chấp hành viên là người được
Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành
viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.
2. Chấp
hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
3.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên.
Điều
18. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên
1. Công dân Việt Nam trung
thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ
cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể
được bổ nhiệm làm Chấp hành viên.
2. Người có đủ tiêu chuẩn quy
định tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp
hành viên sơ cấp:
a) Có thời gian làm công tác
pháp luật từ 03 năm trở lên;
b) Đã được đào tạo nghiệp vụ
thi hành án dân sự;
c) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp
hành viên sơ cấp.
3. Người có đủ tiêu chuẩn quy
định tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp
hành viên trung cấp:
a) Có thời gian làm Chấp hành
viên sơ cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp
hành viên trung cấp.
4. Người có đủ tiêu chuẩn quy
định tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp
hành viên cao cấp:
a) Có thời gian làm Chấp hành
viên trung cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp
hành viên cao cấp.
5. Người
có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều này, là sỹ quan quân đội tại ngũ thì
được bổ nhiệm làm Chấp hành viên trong quân đội.
Tiêu
chuẩn để được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp
hành viên cao cấp trong quân đội được thực hiện theo quy định tại các khoản 2,
3 và 4 Điều này.
6. Người
đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên chuyển công tác đến cơ quan thi
hành án dân sự có thể được bổ nhiệm làm Chấp hành viên ở ngạch tương đương mà
không qua thi tuyển.
7. Trường
hợp đặc biệt do Chính phủ quy định, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1
Điều này, đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 10 năm trở lên thì có thể
được bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp hoặc đã có thời gian làm công tác pháp
luật từ 15 năm trở lên thì có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên cao cấp.
Điều
19. Miễn nhiệm Chấp hành viên
1. Chấp hành viên đương
nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ
quan khác.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp
xem xét, quyết định miễn nhiệm Chấp hành viên trong các trường hợp sau đây:
a) Do hoàn cảnh gia
đình hoặc sức khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành
viên;
b) Năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác mà không
còn đủ tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên.
3.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục miễn nhiệm Chấp hành viên.
Điều
20. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên
1. Kịp thời tổ chức thi
hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền.
2. Thi hành đúng nội
dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự,
thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn
mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên.
3. Triệu tập đương sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án.
4. Xác minh tài sản, điều kiện
thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành
án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc
khác liên quan đến thi hành án.
5. Quyết định áp dụng biện
pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng
chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án.
6. Yêu cầu cơ quan Công an tạm
giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật.
7. Lập
biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hành
chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt
vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.
8. Quyết định áp dụng biện
pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy
định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác.
9. Được
sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ.
10. Thực
hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm và uy tín.
Điều
21. Những việc Chấp hành viên không được làm
1. Những việc mà pháp
luật quy định công chức không được làm.
2. Tư vấn cho đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật.
3. Can thiệp trái pháp luật
vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động
đến người có trách nhiệm thi hành án.
4. Sử dụng trái phép vật
chứng, tiền, tài sản thi hành án.
5. Thực
hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người
sau đây:
a) Vợ, chồng, con đẻ, con
nuôi;
b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị,
em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên;
c) Cháu ruột mà Chấp hành viên
là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
6. Sử dụng thẻ Chấp hành viên,
trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
7. Sách nhiễu, gây phiền
hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành
án.
8. Cố ý thi hành trái nội dung
bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án
được giao không có căn cứ pháp luật.
Điều
22. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
1. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự phải là Chấp hành viên. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm; Thủ
trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án trong quân đội do Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng bổ nhiệm, miễn nhiệm.
2.
Chính phủ quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng,
Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án trong quân đội.
Điều
23. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự
1. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ra quyết định về thi
hành án theo thẩm quyền;
b) Quản lý, chỉ đạo hoạt
động thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân phối hợp tổ chức thi hành án;
d) Yêu cầu cơ quan đã ra bản
án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp với
thực tế trong bản án, quyết định đó để thi hành;
đ) Kiến nghị người có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định
theo quy định của pháp luật;
e) Trả lời kháng nghị, kiến nghị
của Viện kiểm sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án, xử phạt vi phạm
hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ
luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
vi phạm;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của Chấp hành viên;
h) Tổ chức thực hiện chế độ
báo cáo, thống kê thi hành án;
i) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh có quyền điều động, hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra
công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, công chức cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn và những việc khác theo hướng dẫn, chỉ đạo
của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
2. Phó thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc
được giao.
Điều
24. Biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất của cơ quan thi hành án dân sự
Nhà nước bảo đảm biên chế,
kinh phí, trụ sở làm việc, công cụ hỗ trợ thi hành án, ứng dụng công nghệ thông
tin và phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác cho cơ quan thi hành án dân sự.
Điều
25. Trang phục, phù hiệu, chế độ đối với công chức làm công tác thi hành án dân
sự
Chấp hành viên, Thẩm tra viên
và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự được cấp trang phục, phù hiệu
để sử dụng trong khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp
phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ.
Chương
III
THỦ TỤC
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều
26. Hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án dân sự
Khi ra bản án, quyết định, Toà
án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương
mại phải giải thích cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong bản án, quyết định về quyền
yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Điều
27. Cấp bản án, quyết định
Toà án, Hội
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định
được quy định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự
bản án, quyết định có ghi “Để thi hành".
Điều
28. Chuyển giao bản án, quyết định
1. Đối
với bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c
và d khoản 1 Điều 2 của Luật này thì Toà án đã ra bản
án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Đối
với bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật này thì
Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.
3. Đối
với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Toà án đã ra quyết định
phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự ngay sau khi ra quyết định.
4. Trường hợp cơ quan có thẩm
quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các
tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết
định cho cơ quan thi hành án dân sự, Toà án phải gửi kèm theo bản sao biên bản
về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên
quan.
Điều
29. Thủ tục nhận bản án, quyết định
Khi nhận bản án, quyết định do
Toà án chuyển giao, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra, vào sổ nhận bản
án, quyết định.
Sổ nhận bản án, quyết định phải
ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản án, quyết định; số, ngày, tháng,
năm của bản án, quyết định và tên Toà án đã ra bản án, quyết định; họ, tên, địa
chỉ của đương sự và tài liệu khác có liên quan.
Việc giao, nhận trực tiếp bản
án, quyết định phải có chữ ký của hai bên. Trong trường hợp nhận được bản án,
quyết định và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án
dân sự phải thông báo bằng văn bản cho Toà án đã chuyển giao biết.
Điều
30. Thời hiệu yêu cầu thi hành án
1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ
ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải
thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết
định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện
nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ
ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định thi
hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày
nghĩa vụ đến hạn.
2. Đối với các trường hợp
hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm
đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được
thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.
3. Trường hợp người yêu cầu
thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả
kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại
khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành
án.
Điều
31. Đơn yêu cầu thi hành án
1. Đơn yêu cầu thi hành án có
các nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ của người
yêu cầu;
b) Tên cơ quan thi hành án dân
sự nơi yêu cầu;
c) Họ, tên, địa chỉ của người
được thi hành án; người phải thi hành án;
d) Nội dung yêu cầu thi hành
án;
đ) Thông tin về tài sản hoặc
điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
2. Người làm đơn yêu cầu thi
hành án phải ghi rõ ngày, tháng, năm và ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp là
pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp
nhân.
Trường hợp người yêu cầu thi
hành án trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì phải
lập biên bản ghi rõ các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc
điểm chỉ của người yêu cầu và chữ ký của người lập biên bản. Biên bản có giá trị
như đơn yêu cầu thi hành án.
Kèm theo đơn yêu cầu thi hành
án, phải có bản án, quyết định được yêu cầu thi hành và tài liệu khác có liên
quan, nếu có.
3. Người yêu cầu thi hành án
có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành
án quy định tại Điều 66 của Luật này.
Điều
32. Thủ tục gửi đơn yêu cầu thi hành án
1. Người yêu cầu thi hành án tự
mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình
thức sau đây:
a) Nộp đơn hoặc trực tiếp
trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự;
b) Gửi đơn qua bưu điện.
2. Ngày gửi đơn yêu cầu thi
hành án được tính từ ngày người yêu cầu thi hành án nộp đơn hoặc trình bày trực
tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.
Điều
33. Nhận đơn yêu cầu thi hành án
1. Khi nhận đơn yêu cầu thi
hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu
kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp
đơn.
2. Sổ nhận đơn yêu cầu thi
hành án phải thể hiện đầy đủ các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm nhận đơn
yêu cầu;
b) Số, ngày, tháng, năm ra bản
án, quyết định; tên cơ quan ra bản án, quyết định;
c) Họ, tên, địa chỉ của người yêu
cầu;
d) Họ, tên, địa chỉ của người
phải thi hành án; người được thi hành án;
đ) Nội dung yêu cầu thi hành
án;
e) Tài liệu khác kèm theo.
Điều
34. Từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án
1. Cơ quan thi hành án dân sự từ
chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu thi hành án
không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung đơn yêu cầu thi hành án không
liên quan đến nội dung của bản án, quyết định;
b) Cơ quan thi hành án dân sự
được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;
c) Hết thời hiệu yêu cầu
thi hành án.
2. Cơ quan thi hành án dân sự
từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án phải thông báo bằng văn bản cho người nộp
đơn yêu cầu thi hành án.
Điều
35. Thẩm quyền thi hành án
1. Cơ quan thi hành án dân sự
cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm
của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ
sở;
b) Bản án, quyết định phúc thẩm
của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơ thẩm của
Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện
có trụ sở;
c) Quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện có trụ sở;
d) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác.
2. Cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định
sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm
của Toà án cấp tỉnh trên cùng địa bàn;
b) Bản án, quyết định của Toà
án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
c) Bản án, quyết định của Tòa
án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Toà án công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam;
d) Quyết định của Trọng tài
thương mại;
đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;
e) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác;
g) Bản án, quyết định
thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại
khoản 1 Điều này mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành;
h) Bản
án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước
ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp về thi hành án.
3. Cơ quan thi hành án cấp
quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Quyết định về hình phạt tiền,
tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng,
tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Toà
án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn;
b) Quyết định về hình phạt tiền,
tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng,
tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Toà
án quân sự khu vực trên địa bàn;
c) Quyết định về hình phạt tiền,
tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất
chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Toà án
quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
d) Bản
án, quyết định dân sự của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu;
đ) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan
thi hành án cấp quân khu khác ủy thác.
Điều
36. Ra quyết định thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định sau
đây:
a) Hình phạt tiền, truy thu tiền,
tài sản thu lợi bất chính, án phí;
b) Trả lại tiền, tài sản cho
đương sự;
c) Tịch thu sung quỹ nhà nước,
tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;
d) Thu hồi quyền sử dụng đất
và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
đ) Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được bản án, quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
phải ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ
khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển
giao hoặc do đương sự giao trực tiếp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải
ra quyết định thi hành án và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành.
2. Ngoài
các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án.
Thời hạn ra quyết định thi
hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu
thi hành án.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm
việc, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự phải phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó.
Điều
37. Thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ quyết định về thi hành án
1. Người có thẩm quyền ra quyết
định về thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án trong các
trường hợp sau đây:
a) Quyết định về thi hành án
được ban hành không đúng thẩm quyền;
b) Quyết định về thi hành án
có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc;
c) Căn
cứ ra quyết định về thi hành án không còn;
d) Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật này.
2. Người có thẩm quyền ra quyết
định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết
định sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án
trong trường hợp quyết định về thi hành án có sai sót mà không làm thay đổi nội
dung vụ việc thi hành án.
3. Người có thẩm quyền ra quyết
định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra quyết
định huỷ hoặc yêu cầu huỷ quyết định về thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp trong các
trường hợp sau đây:
a) Phát hiện các trường hợp
quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều này mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp không tự khắc phục
sau khi có yêu cầu;
b) Quyết định về thi hành án
có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
4. Quyết định thu hồi, sửa đổi,
bổ sung, huỷ bỏ quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu
quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ.
Điều
38. Gửi quyết định về thi hành án
Quyết định về thi hành án phải
được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Quyết định cưỡng chế thi hành
án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là
Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức
có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án.
Điều
39. Thông báo về thi hành án
1. Quyết định về thi hành án,
giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải
thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền,
nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.
2. Việc thông báo phải thực hiện
trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn
chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
3. Việc thông báo được thực hiện
theo các hình thức sau đây:
a) Thông báo trực tiếp hoặc
qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật;
b) Niêm yết công khai;
c) Thông báo trên các phương
tiện thông tin đại chúng.
4. Chi
phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định
ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án chịu.
Điều
40. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân
1. Văn bản thông báo cho cá
nhân phải được giao trực tiếp và yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ.
2. Trường hợp người được thông
báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người
thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó, bao gồm vợ,
chồng, con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của đương sự,
của vợ hoặc chồng của đương sự.
Việc giao thông báo phải lập
thành biên bản. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.
Trường hợp người được thông
báo không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có
nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt
mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về
việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện
việc niêm yết công khai theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
3. Trường hợp người được thông
báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải thông báo theo địa chỉ mới của người được
thông báo.
Điều
41. Thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
Trường hợp người được thông
báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người
đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ
chức đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được
thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận
văn bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận
là ngày được thông báo hợp lệ.
Điều
42. Niêm yết công khai
1. Việc niêm yết công khai văn
bản thông báo chỉ được thực hiện khi không rõ địa chỉ của người được thông báo
hoặc không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
Cơ quan thi hành án dân sự trực
tiếp hoặc ủy quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối
cùng của người được thông báo hoặc cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định
của pháp luật thực hiện việc niêm yết.
2. Việc niêm yết được thực hiện
theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết văn bản thông báo
tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư
trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo;
b) Lập biên bản về việc niêm yết
công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm, tên
của văn bản thông báo; có chữ ký của người chứng kiến.
3. Thời gian niêm yết công
khai văn bản thông báo là 10 ngày, kể từ ngày niêm yết. Ngày niêm yết là ngày
được thông báo hợp lệ.
Điều
43. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
1. Thông báo trên phương tiện thông
tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi đương sự có
yêu cầu.
2. Trường hợp xác định đương sự
đang có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện
trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình
của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của địa phương đó hai lần trong 02
ngày liên tiếp.
Trường hợp xác định đương sự
không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện
trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình
của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.
3. Ngày thực hiện việc thông
báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp lệ.
Điều
44. Xác minh điều kiện thi hành án
1. Trường hợp chủ động ra quyết
định thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án
của người phải thi hành án.
Trường hợp thi hành án theo
đơn yêu cầu, nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà
không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì
có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải được lập
thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết
quả, kèm theo tài liệu chứng minh.
2.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ
ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án, Chấp hành viên phải
tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời thì phải xác minh ngay.
Việc xác minh phải được lập
thành biên bản, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, công an
cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh. Biên bản
xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả xác minh.
Điều
45. Thời hạn tự nguyện thi hành án
1. Thời hạn tự nguyện
thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được
thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.
2. Trường hợp cần ngăn chặn
người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc
thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại
Chương IV của Luật này.
Điều
46. Cưỡng chế thi hành án
1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều
kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
2. Không tổ chức cưỡng chế thi
hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ,
ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ
quy định.
Điều
47. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án
1. Số tiền thi hành án, sau
khi trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản
5 Điều 115 của Luật này, được thanh toán theo thứ tự sau đây:
a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương,
tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức
lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần;
b) Án phí;
c) Các khoản phải thi hành án
khác theo bản án, quyết định.
2. Trường
hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được
thực hiện như sau:
a) Việc thanh toán được thực
hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp trong cùng một hàng
ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo
tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;
b) Số tiền thi hành án thu
theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được
thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó. Số
tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định
thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán.
Số tiền còn lại được trả cho
người phải thi hành án.
3. Số tiền thu được từ việc
bán tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê
biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể được ưu tiên thanh toán cho nghĩa
vụ được bảo đảm đó sau khi trừ các chi phí về thi hành án.
4. Thứ tự thanh toán tiền thi
hành án về phá sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày thu được tiền, Chấp hành viên phải thực hiện việc thanh toán tiền thi
hành án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều
48. Hoãn thi hành án
1. Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong các trường
hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án bị ốm
nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; chưa xác định được địa chỉ
của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành
án không thể tự mình thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
b) Người được thi hành
án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án. Việc đồng ý hoãn phải lập
thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của các bên. Trong thời gian hoãn
thi hành án do có sự đồng ý của người được thi hành án thì người phải thi hành
án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án;
c) Người
phải thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản
nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản
nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên;
d) Tài
sản kê biên có tranh chấp đã được Tòa án thụ lý để giải quyết;
đ) Việc
thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết
định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 179 của Luật này.
2.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận
được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ
trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế.
Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có
thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định
trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.
Trường hợp vụ việc đã
được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự
phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.
Người có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định
của Toà án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm
tránh hậu quả không thể khắc phục được.
Thời hạn hoãn thi hành
án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá
03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn
thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành
án.
3. Thời hạn ra quyết định hoãn
thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy định
tại khoản 1 Điều này. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì phải ra ngay
quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này không
còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền quy định
tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền
kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án.
Điều 49.
Tạm đình chỉ thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm
đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định
đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị.
Trong thời gian tạm
đình chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu
lãi suất chậm thi hành án.
2. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông
báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người
phải thi hành án.
Thời hạn ra quyết định
tạm đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của
Toà án.
3. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây:
a) Quyết định rút kháng
nghị của người có thẩm quyền;
b) Quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị;
c) Quyết định của Toà án về việc
đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Điều
50. Đình chỉ thi hành án
1. Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong
các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án chết
không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo
bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế;
b) Người được thi hành án chết
mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết
định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;
c) Đương sự có thoả thuận bằng
văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân
sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;
d) Bản án, quyết định bị hủy một
phần hoặc toàn bộ;
đ) Người phải thi hành án là tổ
chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ
của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác;
e) Có quyết định miễn hoặc giảm
một phần nghĩa vụ thi hành án;
g) Tòa án ra quyết định mở thủ
tục phá sản đối với người phải thi hành án;
h) Người chưa thành niên được
giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên.
2. Thời hạn ra quyết định đình
chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án
theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều
51. Trả đơn yêu cầu thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau
đây:
a) Người phải thi hành án
không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để
thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản đó theo quy định của pháp
luật không được xử lý để thi hành án;
b) Người phải thi hành án
không có thu nhập hoặc mức thu nhập thấp, chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho
người phải thi hành án và gia đình;
c) Tài sản kê biên không bán
được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án;
d) Người phải thi hành
án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc
hư hỏng đến mức không thể sử dụng được mà đương sự không có thoả thuận khác.
2. Khi người phải thi hành án
có điều kiện thi hành thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành bản
án, quyết định trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 30 của
Luật này, kể từ ngày phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi
hành.
Điều
52. Kết thúc thi hành án
Việc thi hành án đương nhiên kết
thúc trong các trường hợp sau đây:
1. Đương sự đã thực hiện xong quyền,
nghĩa vụ của mình;
2. Có quyết định đình chỉ thi
hành án;
3. Có quyết định trả đơn yêu cầu
thi hành án.
Điều
53. Xác nhận kết quả thi hành án
Đương sự có quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án.
Điều
54. Chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án
1. Việc chuyển giao quyền và
nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức được thực hiện như sau:
a) Trường hợp hợp nhất thì tổ
chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác;
b) Trường hợp sáp nhập thì tổ
chức sáp nhập tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác;
c) Trường hợp chia, tách thì
cơ quan ra quyết định chia, tách phải xác định rõ cá nhân, tổ chức tiếp tục thực
hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án theo quyết định chia, tách, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
Nếu quyết định chia, tách
không quy định nghĩa vụ của các tổ chức mới thì sau khi chia, tách các tổ chức
mới có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị chia,
tách;
d) Trường
hợp giải thể thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể phải thông báo
cho cơ quan thi hành án dân sự biết trước khi ra quyết định. Trường hợp quyền,
nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể được chuyển giao cho tổ chức khác
thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Cơ
quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên
quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải thể
theo quy định của pháp luật.
Trường
hợp tài sản để thi hành án không còn do thực hiện quyết định giải thể trái pháp
luật thì cơ quan ra quyết định giải thể phải chịu trách nhiệm thi hành phần
nghĩa vụ của tổ chức bị giải thể tương ứng với tài sản đó;
đ) Trường hợp phá sản thì quyền,
nghĩa vụ thi hành án được thực hiện theo quyết định về phá sản;
e)Trường
hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực
hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp
đó tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.
2. Trường
hợp người được thi hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền,
nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật
về thừa kế.
3. Trường
hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì tổ chức, cá nhân được chuyển
giao quyền và nghĩa vụ thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án hoặc phải
tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo quy định của Luật này.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự ra quyết định thi hành án đối với cá nhân, tổ chức mới tương ứng với quyền,
nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao và ra quyết định thu hồi quyết định thi
hành án trước đây.
Đối với các quyết định, thông
báo khác về thi hành án thì tùy từng trường hợp cụ thể mà cơ quan thi hành án
dân sự giữ nguyên, thu hồi hoặc ra các quyết định, thông báo khác phù hợp theo
quy định của Luật này.
4. Trường
hợp đương sự thỏa thuận về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ về thi hành án cho
người thứ ba thì người thứ ba có quyền, nghĩa vụ của đương sự.
Điều
55. Ủy thác thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự phải uỷ thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi
người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở.
2. Trường hợp người phải thi hành án có
tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở
nhiều địa phương thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác thi
hành án từng phần cho cơ quan thi hành án
dân sự nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án để thi hành phần
nghĩa vụ của họ.
Trường
hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành
án có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sản hoặc nơi có tài sản trùng
với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người phải thi hành án thì ủy thác đến
nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó.
Trường hợp
thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở
các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác toàn bộ
nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa
phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án.
3. Việc ủy
thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn
cứ ủy thác. Trường hợp cần thiết phải ủy thác việc thi hành quyết định của Tòa
án về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì việc uỷ thác phải thực hiện ngay
sau khi có căn cứ uỷ thác.
Điều
56. Thẩm quyền uỷ thác thi hành án
1. Cơ quan thi hành án dân sự
cấp tỉnh uỷ thác thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Uỷ thác cho cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh nơi khác thi hành các bản án, quyết định về nhận người lao động
trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi hành án là cơ quan
nhà nước cấp tỉnh trở lên; bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài hoặc liên
quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc
cạnh tranh;
b) Ủy thác cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu thi hành vụ việc mà đương sự hoặc tài sản có liên quan đến
quân đội trên địa bàn;
c) Ủy thác cho cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện vụ việc khác, trừ những trường hợp quy định tại điểm a
và điểm b của khoản này.
2. Cơ quan thi hành án dân sự
cấp huyện ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của mình cho cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh nơi khác, cơ quan thi hành án cấp quân khu, cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện khác có điều kiện thi hành.
3. Cơ quan thi hành án cấp
quân khu ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của mình cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện có điều kiện thi hành.
Điều
57. Thực hiện ủy thác thi hành án
1. Trước khi ủy thác, cơ quan
thi hành án dân sự phải xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên tại
địa bàn có liên quan đến khoản uỷ thác. Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng xét thấy cần ủy thác thì phải ra
quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án và ra quyết định
ủy thác cho nơi có điều kiện thi hành.
2. Cơ quan thi hành án dân sự
nhận ủy thác không được trả lại quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành án dân
sự đã ủy thác mà phải tiếp tục thực hiện việc thi hành án theo quy định của Luật
này, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót rõ ràng về thẩm
quyền của cơ quan nhận ủy thác thi hành án, nội dung thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
ra quyết định thi hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân
sự đã ủy thác về việc nhận được quyết định ủy thác.
Điều
58. Bảo quản tài sản thi hành án
1. Việc bảo quản tài sản
thi hành án được thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Giao cho người phải
thi hành án, người thân thích của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật này hoặc người đang sử dụng, bảo quản;
b) Cá nhân, tổ chức có
điều kiện bảo quản;
c)
Bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự.
2. Tài sản là kim khí quý, đá
quý, tiền hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc nhà nước.
3. Việc
giao bảo quản tài sản phải được lập biên bản ghi rõ loại tài sản, tình trạng
tài sản, giờ, ngày, tháng, năm giao; họ, tên Chấp hành viên, đương sự, người được
giao bảo quản, người làm chứng, nếu có; quyền, nghĩa vụ của người được giao bảo
quản tài sản và có chữ ký của các bên. Trường hợp có người từ chối ký thì phải
ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.
Người được giao bảo quản tài sản
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được trả thù lao và được thanh toán chi
phí bảo quản tài sản. Thù lao và chi phí bảo quản tài sản do người phải thi
hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Biên bản giao bảo quản tài
sản được giao cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người được
giao bảo quản tài sản hoặc người đang sử dụng, bảo quản tài sản và lưu hồ sơ
thi hành án.
5. Người được giao bảo quản
tài sản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tuỳ theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Điều
59. Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án
Trường hợp theo bản án, quyết
định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài
sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi và một
trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì tài sản được định giá
theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án.
Điều
60. Phí thi hành án dân sự
Người được thi hành án phải nộp
phí thi hành án dân sự.
Chính phủ quy định mức phí thi
hành án dân sự, thủ tục thu nộp, quản lý, sử dụng phí thi hành án dân sự.
Điều
61. Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách
nhà nước
1. Người phải thi hành án
không có tài sản để thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước thì có thể được
xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi hết thời hạn sau đây:
a) 05 năm, kể từ ngày ra quyết
định thi hành án đối với các khoản án phí không có giá ngạch;
b) 10 năm, kể từ ngày ra quyết
định thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới
5.000.000 đồng.
2. Người
phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà không
có tài sản để thi hành án thì có thể được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại
khi hết thời hạn sau đây:
a) 05 năm, kể từ ngày ra quyết
định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng;
b) 10 năm, kể từ ngày ra quyết
định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 10.000.000 đồng.
3. Người
phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà
không có tài sản để thi hành án thì có thể được xét giảm một phần nghĩa vụ thi
hành án sau khi hết thời hạn sau đây:
a) 05 năm, kể từ ngày ra quyết
định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng;
b) 10 năm, kể từ ngày ra quyết
định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng.
4.
Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được tiến hành thường xuyên nhưng mỗi
người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm. Trường
hợp một người phải thi hành nhiều khoản nộp ngân sách nhà nước trong nhiều bản
án, quyết định khác nhau thì đối với mỗi bản án, quyết định, người phải thi
hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm thi hành án một lần trong 01 năm.
Điều
62. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp
ngân sách nhà nước
Cơ quan thi hành án dân sự lập
hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Hồ
sơ bao gồm các tài liệu sau đây:
1. Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp đề
nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt;
2. Bản
án, quyết định của Toà án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự;
3. Biên bản xác minh điều kiện
thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm;
4. Tài
liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người
phải thi hành án, nếu có;
5. Ý kiến bằng văn bản của Viện
kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án.
Điều
63. Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp
ngân sách nhà nước
1. Việc
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,
Toà án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Toà
án cấp huyện) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang
tổ chức việc thi hành án có trụ sở.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án,
Toà án phải thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ
ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
3.
Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự
tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề
nghị xét miễn, giảm.
Khi tiến hành xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan thi hành án dân sự trình bày tóm tắt hồ
sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ đề
nghị xét miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện
kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp
nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Toà án
phải gửi quyết định đó cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát
cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề
nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, trại giam, trại tạm giam nơi người được
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang
chấp hành hình phạt tù.
Điều
64. Kháng nghị quyết định của Toà án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với
khoản thu nộp ngân sách nhà nước
1. Quyết định miễn, giảm nghĩa
vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.
Hết thời hạn kháng nghị, Viện
kiểm sát không kháng nghị thì quyết định của Toà án có hiệu lực thi hành.
2. Trong thời hạn 07 ngày, kể
từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Toà án đã ra quyết định
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị lên Toà
án cấp trên trực tiếp.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Toà án cấp trên trực tiếp phải mở phiên họp
để xét kháng nghị.
Phiên họp xét kháng nghị do một
Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Trong
trường hợp cần thiết, Toà án yêu cầu đại diện cơ quan thi hành án dân sự đã lập
hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tham dự. Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định
giải quyết kháng nghị.
Quyết định của Tòa án về giải
quyết kháng nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực thi hành.
4. Trường hợp Viện kiểm sát
rút quyết định kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Toà án
ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị. Quyết định của Toà án về việc miễn,
giảm thi hành án bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
5. Trường hợp sau khi quyết định
cho miễn, giảm thi hành án có hiệu lực mà phát hiện người phải thi hành án có
hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm, trốn tránh việc thi hành
án thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm có
trách nhiệm đề nghị Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự xem xét việc
kháng nghị quyết định miễn, giảm thi hành án theo thủ tục tái thẩm.
Điều
65. Bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án
Trường hợp cơ quan, tổ chức hoạt
động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp phải thi hành án đã áp dụng
mọi biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân
sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án. Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối
với người gây ra thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chính
phủ quy định thẩm quyền, điều kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm tài chính để thi
hành án.
Chương
IV
BIỆN
PHÁP BẢO ĐẢM VÀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Mục
1. BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN
Điều
66. Biện pháp bảo đảm thi hành án
1. Chấp hành viên có quyền tự
mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm
thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi
hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải
thông báo trước cho đương sự.
2. Người yêu cầu Chấp hành
viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu
của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt
hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi
thường.
3. Các
biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:
a) Phong toả tài khoản;
b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;
c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển
dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.
Điều
67. Phong tỏa tài khoản
1. Việc phong toả tài khoản được
thực hiện trong trường hợp cần ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản của
người phải thi hành án.
2. Khi
tiến hành phong toả tài khoản, Chấp hành viên phải giao quyết định phong toả
tài khoản cho cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành
án.
Cơ quan, tổ chức đang quản lý
tài khoản phải thực hiện ngay quyết định của Chấp hành viên về phong toả tài
khoản.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản, Chấp hành viên phải áp dụng
biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 76 của Luật này.
Điều
68. Tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
1. Chấp hành viên đang
thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng.
2. Việc tạm giữ tài sản,
giấy tờ phải lập biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và đương sự. Trường hợp
đương sự không ký thì phải có chữ ký của người làm chứng. Biên bản tạm giữ tài
sản, giấy tờ phải được giao cho đương sự.
3. Trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tạm giữ tài sản, giấy tờ, Chấp hành viên ra một trong các quyết
định sau đây:
a) Áp dụng biện pháp cưỡng
chế thi hành án nếu xác định được tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc sở hữu của người
phải thi hành án;
b) Trả lại tài sản, giấy
tờ tạm giữ cho đương sự trong trường hợp đương sự chứng minh tài sản, giấy tờ tạm
giữ không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án. Việc trả lại tài sản,
giấy tờ tạm giữ phải lập biên bản, có chữ ký của các bên.
Điều
69. Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng
tài sản
Trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát
hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, huỷ hoại, thay
đổi hiện trạng tài sản, Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký,
chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi
hành án và gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng
ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày ra quyết định, Chấp hành viên thực hiện việc kê biên tài sản hoặc chấm dứt
việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng
tài sản.
Mục
2. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Điều
70. Căn cứ cưỡng chế thi hành án
Căn cứ để cưỡng chế thi
hành án bao gồm:
1. Bản án, quyết định;
2. Quyết định thi hành
án;
3. Quyết định cưỡng chế
thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài
sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời của Toà án.
Điều
71. Biện pháp cưỡng chế thi hành án
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản;
thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người
phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển
giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án
thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Điều
72. Kế hoạch cưỡng chế thi hành án
1. Trước khi tiến hành cưỡng
chế thi hành án, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải
cưỡng chế ngay.
2. Kế
hoạch cưỡng chế thi hành án bao gồm các nội dung chính sau đây:
a) Biện pháp cưỡng chế cần áp
dụng;
b) Thời gian, địa điểm cưỡng
chế;
c) Phương án tiến hành cưỡng
chế;
d) Yêu cầu về lực lượng tham
gia và bảo vệ cưỡng chế;
đ) Dự trù chi phí cưỡng chế.
3. Kế
hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp,
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan
đến việc cưỡng chế thi hành án.
4. Căn
cứ vào kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Công an có
trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, bố trí lực lượng, phương tiện cần
thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi
tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống
đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội.
Điều
73. Chi phí cưỡng chế thi hành án
1. Người phải thi hành án chịu
chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
a) Chi phí thông báo về cưỡng
chế thi hành án;
b) Chi phí mua nguyên liệu,
nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các
thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;
c) Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản;
chi phí định giá lại tài sản, trừ trường hợp
quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;
d) Chi phí cho việc thuê, trông
coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân
công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định
mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;
đ) Chi phí cho việc tạm giữ,
thu giữ tài sản, giấy tờ;
e) Tiền bồi dưỡng cho những
người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.
2. Người
được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
a) Chi
phí xác minh theo quy định tại khoản 1 Điều
44 của Luật này; chi phí định giá lại tài sản nếu
người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có
vi phạm quy định về định giá;
b) Một phần hoặc toàn bộ chi
phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được
thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ.
3.
Ngân sách nhà nước trả chi phí cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau
đây:
a) Định giá lại tài sản khi có
vi phạm quy định về định giá;
b) Chi
phí xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp chủ động thi hành án quy định
tại khoản 1 Điều 44 của Luật này;
c) Chi
phí cần thiết khác theo quy định của Chính phủ;
d) Trường hợp đương sự được miễn,
giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành viên dự trù chi
phí cưỡng chế và thông báo cho người phải thi hành án biết ít nhất 03 ngày làm
việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng
chế ngay. Chi phí cưỡng chế thi hành án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.
5. Các khoản chi phí cưỡng chế
thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí
cưỡng chế thi hành án.
6. Chi phí cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền
thu được, tiền bán đấu giá tài sản kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ ba
giữ. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm
thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.
7.
Chính phủ quy định mức bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo
vệ cưỡng chế thi hành án; thủ tục thu, nộp, miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi
hành án.
Điều
74. Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung
1. Trước khi cưỡng chế đối với
tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền
sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng
chế.
Chủ sở hữu chung có quyền khởi
kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời
hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện
thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định
phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi
hành án.
Đối với tài sản thuộc quyền sở
hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng
theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng
biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà
án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được
Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp
hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người
phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.
2. Tài
sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu
chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể
chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng
với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không
thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì
Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và
thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở
hữu của họ.
3. Khi
bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản.
Điều
75. Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp
Trường hợp cưỡng chế đối với
tài sản của người phải thi hành án mà có tranh chấp với người khác thì Chấp
hành viên tiến hành cưỡng chế và yêu cầu đương sự, người có tranh chấp khởi kiện
tại Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Chấp hành viên xử lý
tài sản đã kê biên theo quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày Chấp hành viên yêu cầu mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại
Toà án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì tài sản được xử lý để
thi hành án theo quy định của Luật này.
Mục 3.
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ TIỀN
Điều
76. Khấu trừ tiền trong tài khoản
1. Chấp hành viên ra quyết định
khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ
không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.
2. Ngay sau khi nhận được quyết
định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ
chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ
quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định
khấu trừ.
Điều
77. Chấm dứt phong tỏa tài khoản
1. Việc phong toả tài khoản được
chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án đã
thi hành xong nghĩa vụ thi hành án;
b) Cơ quan, tổ chức đã thực hiện
xong yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải
thi hành án;
c) Có quyết định đình chỉ thi
hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết định
chấm dứt việc phong toả tài khoản ngay sau khi có căn cứ quy định tại khoản 1
Điều này.
Điều
78. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
1. Thu nhập của người phải thi
hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động
và thu nhập hợp pháp khác.
2. Việc trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận của đương sự;
b) Bản án, quyết định ấn định
trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
c) Thi hành án cấp dưỡng, thi
hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của
người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
3. Chấp hành viên ra quyết định
trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền
lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số
tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Đối với
thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi
hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người
được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan, tổ chức, người sử
dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền
công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm
thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều
79. Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án
1. Trường hợp người phải thi
hành án có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định
thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người đó để thi hành án.
Khi thu tiền, Chấp hành viên
phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người
phải thi hành án và gia đình.
2. Chấp hành viên cấp biên lai
thu tiền cho người phải thi hành án.
Điều
80. Thu tiền của người phải thi hành án đang giữ
Trường hợp phát hiện
người phải thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ xác định khoản tiền đó là của
người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành
án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền và cấp biên lai cho người phải thi
hành án. Trường hợp người phải thi hành án không ký vào biên bản thì phải có chữ
ký của người làm chứng.
Điều
81. Thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp phát hiện
người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết
định thu khoản tiền đó để thi hành án. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải
thi hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho Chấp hành viên để thi hành án. Chấp
hành viên lập biên bản thu tiền, cấp biên lai cho người thứ ba đang giữ tiền và
thông báo cho người phải thi hành án. Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền
không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
Mục
4. CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
Điều
82. Thu giữ giấy tờ có giá
1. Trường hợp phát hiện
người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của
người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để
thi hành án.
2. Người phải thi hành
án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án
phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của
pháp luật.
Trường hợp người phải
thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ
cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án.
Điều
83. Bán giấy tờ có giá
Việc bán giấy tờ có giá được
thực hiện theo quy định của pháp luật.
Mục
5. CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Điều
84. Kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
1. Chấp hành viên ra quyết định
kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành
án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.
2. Khi kê biên quyền sở hữu
trí tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ,
Chấp hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của
người phải thi hành án.
3. Trường hợp nhằm bảo đảm mục
tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại
Luật sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ
sở hữu trí tuệ phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác sử dụng trong thời gian nhất định thì Chấp hành viên không được kê biên
quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án trong thời gian bắt buộc phải
chuyển giao.
4. Chấp hành viên quyết định
giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp
số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân
sự để thi hành án.
Trường hợp cần thiết, Chấp
hành viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản
lý thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người
phải thi hành án.
5. Trường hợp người phải thi
hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành
viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền
chưa thanh toán để thi hành án.
Điều
85. Định giá quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền sở hữu trí tuệ được định
giá theo quy định tại Điều 98 và Điều 99 của Luật này và
pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục, phương pháp định giá và thẩm quyền định giá quyền sở hữu trí tuệ.
Điều
86. Bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền sở hữu trí tuệ được
bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản và pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục bán đấu giá và thẩm quyền bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ.
Mục
6. CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ VẬT
Điều
87. Tài sản không được kê biên
1. Tài sản bị cấm lưu thông
theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công
cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức.
2. Tài sản sau đây của người
phải thi hành án là cá nhân:
a) Số lương thực đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập,
thu hoạch mới;
b) Số thuốc cần dùng để phòng,
chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;
c) Vật dụng cần thiết của người
tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;
d) Đồ dùng thờ cúng thông thường
theo tập quán ở địa phương;
đ) Công cụ lao động cần thiết,
có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất
của người phải thi hành án và gia đình;
e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết
cho người phải thi hành án và gia đình.
3. Tài sản sau đây của người
phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc
phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản
khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở
y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải
là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương tiện,
công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm
môi trường.
Điều
88. Thực hiện việc kê biên
1. Trước khi kê biên tài sản
là bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại
diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên,
trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc
thi hành án.
Trường hợp đương sự vắng mặt
thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Trường
hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được uỷ quyền vắng mặt thì
Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và
ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên. Trường hợp không mời được người làm chứng
thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung
biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở,
công trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải thi hành án hoặc người đang quản
lý, sử dụng tài sản đó mà phải mở khoá, phá khoá, mở gói thì Chấp hành viên thực
hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
2. Việc
kê biên tài sản phải lập biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm
kê biên, họ, tên Chấp hành viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập
biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc
kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người
làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ ký của
đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã
hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập
biên bản.
Điều
89. Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc
đăng ký giao dịch bảo đảm
1. Trước khi kê biên tài sản
là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch
bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký
cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
2. Sau khi kê biên, Chấp hành
viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử
lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Luật này.
Điều
90. Kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp
1. Trường hợp người phải thi
hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành
án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
và chi phí cưỡng chế thi hành án.
2. Khi kê biên tài sản đang cầm
cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế
chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên
thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này.
Điều 91.
Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp xác định người thứ
ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản được
xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên
tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản
thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án.
Trường hợp tài sản kê biên
đang cho thuê thì người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.
Điều
92. Kê biên vốn góp
1. Chấp hành viên yêu cầu cá
nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin
về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó. Trong
trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần
vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn
xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành
án.
2. Đương sự có quyền yêu cầu
Toà án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án.
Điều
93. Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói
Khi kê biên đồ vật đang bị
khoá hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người
đang sử dụng, quản lý đồ vật mở khoá, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng
mặt thì Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khoá,
phá khoá hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải
thi hành án phải chịu thiệt hại do việc mở khoá, phá khóa, mở gói.
Trường hợp cần thiết, sau khi
mở khoá, phá khoá, mở gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản
theo quy định tại Điều 58 của Luật này.
Việc mở khoá, phá khoá, mở gói
hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người
làm chứng.
Điều
94. Kê biên tài sản gắn liền với đất
Khi kê biên tài sản là công
trình xây dựng gắn liền với đất phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp
quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách
rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
Điều
95. Kê biên nhà ở
1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở
duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác
định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án,
trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
2. Khi kê biên nhà ở phải kê
biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất
thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền
sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp
người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải
thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn
nhà.
3. Khi kê biên nhà ở của người
phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo
ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản kê biên là
nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn
lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy
định của Bộ luật dân sự.
4. Việc kê biên nhà ở bị khoá
được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
Điều
96. Kê biên phương tiện giao thông
1. Trường hợp kê biên phương
tiện giao thông của người phải thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu người phải
thi hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện đó phải giao giấy đăng ký
phương tiện đó, nếu có.
2. Đối với phương tiện giao
thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể thu
giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục
khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp.
Trường hợp giao cho người phải
thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương tiện
giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng ký để
phương tiện được phép tham gia giao thông.
3. Chấp
hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế
chấp, cho thuê hoặc hạn chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.
4. Việc
kê biên đối với tàu bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của
pháp luật về bắt giữ tàu bay, tàu biển.
Điều
97. Kê biên hoa lợi
Trường hợp người phải thi hành
án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm
thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp
hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87 của Luật này.
Điều
98. Định giá tài sản kê biên
1. Ngay khi kê biên tài sản mà
đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp
hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thoả thuận là
giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thoả thuận về tổ chức thẩm
định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
2.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký
hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự không thoả thuận
được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá;
b) Tổ chức thẩm định giá do
đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
c) Thi
hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản
1 Điều 36 của Luật này.
3. Chấp
hành viên xác định giá trong các trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện được việc
ký hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Tài sản kê biên thuộc loại
tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thoả thuận được với
nhau về giá. Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ.
Điều
99. Định giá lại tài sản kê biên
1. Việc định giá lại tài sản
kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Chấp hành viên có vi phạm
nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai
lệch kết quả định giá tài sản;
b)
Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu
giá tài sản.
2. Việc định giá lại tài sản
kê biên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
98 của Luật này.
Điều
100. Giao tài sản để thi hành án
1. Trường hợp đương sự
thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền
được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận.
Trường hợp có nhiều người
được thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được
thi hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số
tiền tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng.
2. Việc giao tài sản để
trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày có thoả thuận.
Điều
101. Bán tài sản đã kê biên
1. Tài
sản đã kê biên được bán theo các hình thức sau đây:
a) Bán
đấu giá;
b) Bán không qua thủ tục đấu
giá.
2. Việc
bán đấu giá đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng
và bất động sản do tổ chức bán đấu giá thực hiện.
Đương sự có quyền thoả thuận về
tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định
giá. Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu
giá do đương sự thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì Chấp
hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu
giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc bán đấu giá đối với động
sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45
ngày, kể từ ngày ký hợp đồng.
3. Chấp
hành viên bán đấu giá tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Tại tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức
bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản;
b) Động
sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc bán đấu giá đối với động
sản phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45
ngày, kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu
giá từ chối bán đấu giá.
4. Chấp
hành viên bán không qua thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới
2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản phải được thực
hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên.
5. Trước
khi mở cuộc bán đấu giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận
lại tài sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp
lý đã phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.
Người phải thi hành án có
trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức
phí tổn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải
quyết.
6. Thủ tục bán đấu giá được thực
hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
Điều
102. Huỷ kết quả bán đấu giá tài sản
1. Đương sự, Chấp hành viên có
quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài
sản.
2. Trường hợp kết quả bán đấu
giá tài sản bị huỷ theo bản án, quyết định của Toà án thì việc xử lý tài sản để
thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này.
3. Việc xử lý hậu quả và bồi
thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị huỷ được giải quyết theo quy
định của pháp luật.
Điều
103. Giao tài sản bán đấu giá
Người phải thi hành án, người
đang quản lý, sử dụng tài sản không giao tài sản bán đấu giá cho người mua được
tài sản thì thủ tục cưỡng chế giao tài sản được thực hiện theo quy định tại các
điều 114, 115, 116 và 117 của Luật này.
Điều
104. Xử lý tài sản bán đấu giá không thành
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp
hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm
giá không quá mười phần trăm giá đã định.
Trường hợp giá tài sản đã giảm
thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ
vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành
án.
Điều
105. Giải toả kê biên tài sản
1. Việc giải toả kê biên tài sản
được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự thoả thuận về việc
giải toả kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người
thứ ba;
b) Đương sự đã thực hiện xong
nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;
c) Có quyết định của người có
thẩm quyền hủy bỏ quyết định kê biên tài sản;
d) Có quyết định đình chỉ thi
hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết định
giải toả kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án trong thời hạn
05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều
106. Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản
1. Người mua được tài sản thi
hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được pháp luật
công nhận và bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người
mua, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Cơ quan thi hành
án dân sự có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những văn bản, giấy tờ quy định tại
khoản 3 Điều này cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ
vào số tiền được thi hành án.
3. Hồ
sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan
thi hành án dân sự;
b) Bản sao bản án, quyết định;
c) Quyết định thi hành án, quyết
định kê biên tài sản;
d) Văn bản bán đấu giá thành
hoặc biên bản giao nhận tài sản để thi hành án;
đ) Giấy tờ khác có liên quan đến
tài sản, nếu có.
4. Trường
hợp tài sản là quyền sử dụng đất mà không có giấy chứng nhận hoặc không thu hồi
được giấy chứng nhận thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Đối với tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng
ký thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký
quyền sở hữu.
Giấy tờ
được cấp mới có giá trị thay thế cho giấy tờ không thu hồi được.
Mục 7.
CƯỠNG CHẾ KHAI THÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Điều
107. Cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án
1. Chấp hành viên cưỡng chế
khai thác tài sản của người phải thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Tài sản của người phải thi
hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể
khai thác để thi hành án;
b) Người được thi hành án đồng
ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
2. Chấp hành viên phải ra quyết
định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác; số tiền,
thời hạn, thời điểm, địa điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân
sự để thi hành án.
Quyết định cưỡng chế khai thác
tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối với
tài sản đó và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản.
Việc thực hiện giao dịch, chuyển
giao quyền sở hữu tài sản đối với tài sản đang khai thác phải được sự đồng ý của
Chấp hành viên.
Điều
108. Hình thức cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án
Tài sản của người phải thi
hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức sau đây:
1. Tài sản mà người phải thi
hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang
khai thác được tiếp tục khai thác.
Trường hợp tài sản, bao gồm cả
quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi
hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác
tài sản.
2. Người khai thác tài sản quy
định tại khoản 1 Điều này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản
cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết.
3. Trong thời hạn 30 ngày, kể
từ ngày yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng khai thác với người
khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
Điều
109. Chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản
1. Chấp hành viên ra quyết định
chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp sau đây:
a) Việc khai thác tài sản
không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;
b) Người phải thi hành án, người
khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai
thác tài sản;
c) Người phải thi hành án đã
thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án;
d) Có quyết định đình chỉ thi
hành án.
2. Trường hợp việc cưỡng chế
khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này
thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế khai
thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này thì
trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định, Chấp hành viên ra
quyết định giải toả việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho người
phải thi hành án.
Mục 8.
CƯỠNG CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều
110. Quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án
1. Chấp hành viên chỉ
kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển
quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Người phải thi hành án chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện
quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được
kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó.
Điều
111. Kê biên quyền sử dụng đất
1. Khi kê biên quyền sử
dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy
tờ về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự.
2. Khi kê biên quyền sử
dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành
án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp đất của người phải
thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của
người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho
người có tài sản gắn liền với đất.
3. Việc kê biên quyền sử dụng
đất phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê
biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên.
Điều
112. Tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên
1. Trường hợp diện tích đất đã
kê biên đang do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp
hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho người đó.
Trường hợp diện tích đất đã kê
biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm giao
cho tổ chức, cá nhân đó.
2. Trường hợp người phải thi
hành án hoặc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này không nhận thì Chấp
hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho tổ chức, cá nhân khác quản lý,
khai thác, sử dụng. Trường hợp không có tổ chức, cá nhân nào nhận thì cơ quan
thi hành án dân sự tiến hành ngay việc định giá và bán đấu giá theo quy định của
pháp luật.
3. Việc tạm giao quản lý, khai
thác, sử dụng đất đã kê biên phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ:
a) Diện tích, loại đất, vị
trí, số thửa đất, số bản đồ;
b) Hiện trạng sử dụng đất;
c) Thời hạn tạm giao quản lý,
khai thác, sử dụng đất;
d) Quyền và nghĩa vụ cụ thể của
người được tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất.
4. Trong thời hạn tạm giao quản
lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên, người được tạm giao không được chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, hoặc góp
vốn bằng quyền sử dụng đất; không được làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất;
không được sử dụng đất trái mục đích.
Điều
113. Xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên
1. Trường hợp tài sản gắn
liền với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác thì xử lý như sau:
a) Đối với tài sản có
trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành
viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng
đất cho người phải thi hành án. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di
chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải
thi hành án thoả thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thoả thuận được thì Chấp hành
viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp người có tài
sản là người thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người phải
thi hành án mà không hình thành pháp nhân mới thì người có tài sản được quyền
tiếp tục ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người
trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn còn lại của hợp đồng
mà họ đã ký kết với người phải thi hành án. Trường hợp này, trước khi xử lý quyền
sử dụng đất, Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người tham gia đấu
giá, người được đề nghị nhận quyền sử dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng
của người có tài sản gắn liền với đất;
b) Đối với tài sản có
sau khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành
viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng
đất cho người phải thi hành án. Sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà
người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được
thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất.
Đối với tài sản có sau
khi kê biên, nếu người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể
di chuyển được thì tài sản phải bị tháo dỡ. Chấp hành viên tổ chức việc tháo dỡ
tài sản, trừ trường hợp người nhận quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá
quyền sử dụng đất đồng ý mua tài sản;
c) Người có tài sản gắn liền với
đất của người phải thi hành án được hoàn trả tiền bán tài sản, nhận lại tài sản,
nếu tài sản bị tháo dỡ nhưng phải chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu
giá, tháo dỡ tài sản.
2. Trường hợp tài sản thuộc sở
hữu của người phải thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất đã kê biên thì Chấp
hành viên xử lý tài sản cùng với quyền sử dụng đất.
3. Đối với tài sản là cây trồng,
vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản
xuất khép kín chưa kết thúc thì sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ tiến hành xử
lý khi đến mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất khép kín.
Mục 9.
CƯỠNG CHẾ TRẢ VẬT, GIẤY TỜ, CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều
114. Thủ tục cưỡng chế trả vật
1. Đối với vật đặc định, việc
cưỡng chế được thực hiện như sau:
a) Chấp hành viên yêu cầu người
phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành
án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người
được thi hành án;
b) Trường hợp vật phải trả giảm
giá trị mà người được thi hành án không đồng ý nhận thì Chấp hành viên hướng dẫn
đương sự thoả thuận việc thi hành án. Việc thi hành án được thực hiện theo thoả
thuận.
Trường hợp đương sự không thoả
thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế trả vật cho người được thi hành án.
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt hại do vật phải
trả bị giảm giá trị;
c) Trường
hợp vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự có thoả
thuận khác về việc thi hành án thì Chấp hành viên thi hành theo thoả thuận.
Trường hợp đương sự không thoả
thuận được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả đơn yêu
cầu thi hành án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về thiệt
hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.
2. Đối với vật cùng loại thì
Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định.
Trường hợp vật phải trả không
còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành
án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường hợp
đương sự có thoả thuận khác.
3. Trường hợp người phải thi
hành án, người đang quản lý, sử dụng vật phải trả có thể tẩu tán, huỷ hoại vật
đó thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định
tại Điều 68 của Luật này.
Điều
115. Cưỡng chế trả nhà, giao nhà
1. Trường hợp người phải thi
hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và
những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài
sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực
lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà.
Trường hợp họ từ chối nhận tài
sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng
loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo
quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để
người có tài sản nhận lại tài sản.
2. Trường hợp người phải thi
hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì Chấp
hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ
ngày thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này mà người có tài sản bảo quản
không đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định tại khoản
2 Điều 126 của Luật này, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
4. Việc cưỡng chế để trả lại
công trình xây dựng, vật kiến trúc theo bản án, quyết định được thực hiện theo
quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Trường
hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người
mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ
thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập
nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp
hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi
hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời
hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định
của Luật này.
Điều
116. Cưỡng chế trả giấy tờ
1. Chấp hành viên ra quyết định
cưỡng chế buộc người phải thi hành án trả giấy tờ cho người được thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế
buộc người đó trả giấy tờ để thi hành án.
Trường hợp xác định người thứ
ba đang giữ giấy tờ phải trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao giấy tờ
đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc
người đó giao giấy tờ để thi hành án.
2. Trường hợp giấy tờ không thể
thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được
thi hành án.
Đối với giấy tờ không thể thu
hồi và cũng không thể cấp lại được thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra
quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án và hướng dẫn đương sự khởi kiện yêu cầu
Toà án giải quyết.
Điều
117. Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
1. Trường hợp bản án, quyết định
tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức giao diện
tích đất cho người được thi hành án.
Khi tiến hành giao đất phải có
sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Uỷ ban
nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.
2. Việc xử lý tài sản gắn liền
với đất được chuyển giao thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp tài sản gắn liền
với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp
hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện
tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Nếu người có tài sản
không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi
diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Chi
phí cưỡng chế do người có tài sản chịu.
Trường hợp người có tài sản gắn
liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng,
chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có
điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và
thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
Hết thời hạn thông báo mà người
có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật này;
b) Trường hợp tài sản gắn liền
với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm nhưng bản án, quyết định được
thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành án
dân sự yêu cầu Toà án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối với
tài sản hoặc đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Việc cưỡng chế giao quyền sử
dụng đất cho người trúng đấu giá hoặc cho người nhận quyền sử dụng đất để trừ
vào số tiền được thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Mục
10. CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ BUỘC THỰC HIỆN HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN CÔNG
VIỆC NHẤT ĐỊNH
Điều
118. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định
1. Trường hợp thi hành nghĩa vụ
phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi
hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện
nghĩa vụ thi hành án.
2. Hết thời hạn đã ấn định mà
người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên
xử lý như sau:
a) Trường hợp công việc đó có
thể giao cho người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người có điều
kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu;
b) Trường hợp công việc đó phải
do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có
thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều
119. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định
Người phải thi hành án không tự
nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được
thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong
trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp
người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện
trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều
120. Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản
án, quyết định
1. Chấp hành viên ra quyết định
buộc giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết
định. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi
dưỡng, Chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị -
xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.
2. Trường hợp người phải thi
hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa
thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt
tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để
người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn
đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế
buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều
121. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc
1. Trường hợp người sử dụng
lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì
Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá
nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động
thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà
người sử dụng lao động không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm
quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành
án.
2. Trường hợp không thể bố trí
người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì người
sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo
quy định của pháp luật lao động.
Trường hợp người lao động
không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh
toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động
phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án.
3. Người sử dụng lao động phải
thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được
công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến
khi người lao động được nhận trở lại làm việc hoặc được giải quyết theo quy định
tại khoản 2 Điều này.
Chương
V
THI
HÀNH ÁN TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
Mục 1.
THI HÀNH KHOẢN TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC; TIÊU HUỶ TÀI SẢN; HOÀN TRẢ TIỀN, TÀI
SẢN KÊ BIÊN, TẠM GIỮ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
Điều
122. Chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ kèm theo bản án, quyết định
1. Vật chứng, tài sản tạm giữ
trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được
chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự thì phải
chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự tại thời điểm Toà án chuyển giao bản
án, quyết định.
2. Việc giao, nhận vật chứng,
tài sản tạm giữ được tiến hành tại kho của cơ quan thi hành án dân sự. Bên giao
có trách nhiệm vận chuyển vật chứng, tài sản tạm giữ đến kho của cơ quan thi
hành án dân sự.
Đối với vật chứng, tài sản tạm
giữ không thể vận chuyển, di dời về bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án
dân sự thì địa điểm giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ là nơi đang gửi, giữ
hoặc nơi đang có tài sản.
3. Việc tiếp nhận tài sản phải
có sự tham gia đầy đủ của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc người được
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ quyền, thủ kho, kế toán.
Điều
123. Thủ tục tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ
Việc tiếp nhận vật chứng, tài
sản tạm giữ được tiến hành theo thủ tục sau đây:
1. Thủ kho có trách nhiệm trực
tiếp nhận, kiểm tra hiện trạng vật chứng, tài sản tạm giữ và nhập kho thi hành
án. Việc giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ phải được lập biên bản ghi rõ giờ,
ngày, tháng, năm giao nhận; số lượng, chủng loại, hiện trạng của từng loại vật
chứng, tài sản tạm giữ, có so sánh với biên bản thu giữ ban đầu của cơ quan
Công an hoặc Toà án. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận tài sản đủ và
đúng với hiện trạng ghi trong biên bản thu giữ ban đầu. Trong trường hợp vật chứng,
tài sản tạm giữ giao, nhận đã bị thay đổi so với biên bản thu giữ ban đầu thì
Thủ trưởng cơ quan bên giao, bên nhận có trách nhiệm kiểm tra, kết luận và cơ
quan thi hành án dân sự chỉ nhận khi đã được các cơ quan có thẩm quyền làm rõ về
những thay đổi đó.
Biên bản giao, nhận vật chứng,
tài sản tạm giữ phải có chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên nhận,
chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, nếu có.
2. Trường hợp vật chứng, tài sản
tạm giữ được bàn giao dưới hình thức gói niêm phong, cơ quan thi hành án dân sự
chỉ nhận khi có kết quả giám định rõ số lượng, chủng loại, chất lượng của từng
loại vật chứng, tài sản tạm giữ trong gói niêm phong đó của cơ quan có thẩm quyền.
Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ là các chất ma tuý, cơ quan thi hành án dân
sự chỉ nhận dưới hình thức gói niêm phong kèm theo kết luận giám định của cơ
quan có thẩm quyền.
Khi giao, nhận phải lập biên bản
ghi rõ hiện trạng của vật chứng, tài sản được niêm phong, có chữ ký của bên
giao, bên nhận. Trường hợp niêm phong bị rách hoặc có dấu hiệu khả nghi trên đó
thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận khi có kết luận giám định của cơ
quan có thẩm quyền.
Điều
124. Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước
1. Đối với vật chứng, tài sản
tạm giữ mà bản án, quyết định tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước thì trong thời
hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự
phải thông báo bằng văn bản và tiến hành giao vật chứng, tài sản tạm giữ đó cho
cơ quan tài chính cùng cấp. Đối với tài sản tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ
quan thi hành án cấp quân khu thi hành thì chuyển cho cơ quan tài chính cấp tỉnh
nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở.
Chi phí xử lý vật chứng, tài sản
tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan tài chính nơi nhận vật
chứng, tài sản tạm giữ chi trả theo quy định của pháp luật.
2. Khi chuyển giao vật chứng,
tài sản tạm giữ phải kèm theo quyết định thi hành án, bản án, quyết định hoặc bản
sao bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự sao y bản chính.
3. Việc chuyển giao vật chứng,
tài sản tạm giữ phải có sự tham gia của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
hoặc người được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ quyền, kế toán, thủ
kho và đại diện cơ quan tài chính. Việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ
được lập biên bản, mô tả cụ thể thực trạng vật chứng, tài sản tạm giữ, có chữ
ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, chữ ký của người đại diện và
dấu của cơ quan bên nhận, nếu có.
4. Trường
hợp quyết định tịch thu vật chứng, tài sản tạm giữ đã được thi hành nhưng sau
đó phát hiện có sai lầm và đã được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định huỷ bỏ
quyết định tịch thu thì cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với cơ quan tài
chính cùng cấp hoặc cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân
khu có trụ sở để làm thủ tục hoàn trả lại số tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước
theo quy định của pháp luật.
Điều
125. Tiêu huỷ vật chứng, tài sản
1. Trong thời hạn 01
tháng, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự phải ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu huỷ vật chứng, tài sản thuộc diện
tiêu huỷ theo bản án, quyết định, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tiêu
huỷ ngay.
2. Hội đồng tiêu huỷ vật
chứng, tài sản gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài
chính cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan chuyên môn tham gia Hội đồng khi
cần thiết.
3. Viện kiểm sát cùng cấp
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiêu huỷ vật chứng, tài sản.
Điều
126. Trả lại tiền, tài sản tạm giữ cho đương sự
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ trong trường hợp bản án,
quyết định tuyên trả lại tài sản cho đương sự.
Trường hợp người được trả lại
tiền, tài sản tạm giữ đồng thời là người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền không
tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án.
2. Sau
khi có quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ, Chấp hành viên thông báo cho
đương sự thời gian, địa điểm nhận lại tiền, tài sản.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số
tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ
ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do
chính đáng thì Chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được theo
hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền
đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng thì cơ quan thi hành án dân
sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.
3. Đối
với tài sản không bán được hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định tiêu huỷ và tổ chức tiêu
huỷ tài sản theo quy định tại Điều 125 của
Luật này.
Đối với giấy tờ liên quan đến
tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu
đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã
ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định.
4. Trường hợp tài sản trả lại
là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các cơ
quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình bảo quản và
đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng nhà nước
đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho đương sự.
Đối với tài sản là tiền Việt
Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan tiến
hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận thì cơ quan
thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng nhà nước xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Việc trả lại tiền tạm ứng
án phí theo bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2,
3 và 4 Điều này.
Điều
127. Xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án
Chấp hành viên xử lý theo quy
định tại các điều 98, 99, 100 và 101 của Luật này đối với
tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án trong trường
hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án.
Điều
128. Thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi
hành án đang chấp hành hình phạt tù
1. Giám thị trại giam, trại tạm
giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền,
tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp để
thi hành án và chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định của
pháp luật.
2. Trường hợp người phải thi
hành án chuyển trại giam, trại tạm giam hoặc được đặc xá, được miễn chấp hành
hình phạt tù hoặc chết thì Giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người đó chấp
hành hình phạt tù phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự.
Điều
129. Thủ tục trả lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành
hình phạt tù
1. Chấp hành viên gửi thông
báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang
chấp hành hình phạt tù thông qua Giám thị trại giam, trại tạm giam.
Trường hợp người được thi hành
án uỷ quyền cho người khác nhận tiền, tài sản thì văn bản uỷ quyền phải có xác
nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam. Chấp hành viên trả tiền, tài sản
cho người được uỷ quyền.
2. Trường hợp người được thi
hành án có yêu cầu và được nhận tiền, tài sản tại nơi đang chấp hành hình phạt
tù theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên gửi tiền, tài sản cho người
đó thông qua Giám thị trại giam, trại tạm giam. Chi phí cho việc gửi tiền, tài
sản do người được thi hành án chịu. Khi giao tiền, tài sản cho đương sự, Giám
thị trại giam, trại tạm giam lập biên bản và gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.
3. Trường hợp người được thi
hành án đang chấp hành hình phạt tù từ chối nhận lại tiền, tài sản bằng văn bản
có xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam thì Chấp hành viên xử lý tiền,
tài sản để sung quỹ nhà nước hoặc tiêu huỷ theo quy định của Luật này.
Mục
2. THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều
130. Thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trong thời hạn 24 giờ,
kể từ khi nhận được quyết định thi hành án, Chấp hành viên phải áp dụng ngay
các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế sau đây:
a) Biện pháp cưỡng chế
quy định tại các điều 118, 119, 120 và 121 của Luật này để
bảo đảm thi hành quyết định về cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định;
giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;
b) Biện pháp cưỡng chế quy định
tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 71 của Luật này để bảo đảm
thi hành quyết định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc
thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị
xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi
thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
c) Biện pháp cưỡng chế quy định
tại Điều 75 của Luật này để đảm bảo thi hành biện pháp khẩn
cấp tạm thời quy định về kê biên tài sản đang tranh chấp.
d) Biện pháp bảo đảm quy định
tại các điều 66, 67, 68 và 69 của Luật này để bảo đảm thi
hành quyết định về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh
chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong toả tài khoản tại
ngân hàng, tổ chức tín dụng khác; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ; phong toả
tài sản của người có nghĩa vụ;
đ) Biện pháp cưỡng chế quy định
tại khoản 3 Điều 71 và các điều 98, 99, 100
và 101 của Luật này để bảo đảm thi hành quyết định về cho thu hoạch, cho
bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hoá khác.
2. Trường hợp người phải thi
hành án cư trú hoặc có tài sản ở địa phương khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định uỷ thác cho cơ quan thi
hành án dân sự nơi người đó cư trú hoặc nơi có tài sản tổ chức thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều
131. Thi hành quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trường hợp nhận được
quyết định thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời của Toà án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra ngay quyết định
thi hành án, đồng thời thu hồi quyết định thi hành án đối với quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời đã bị thay đổi.
2. Trường hợp quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời bị thay đổi đã thi hành được một phần hoặc đã thi
hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Toà án và giải
thích cho đương sự quyền yêu cầu Toà án giải quyết.
Điều
132. Đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trường hợp Toà án hủy bỏ
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì ngay sau khi nhận được quyết
định của Toà án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ
thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ
khi có quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, Chấp hành viên làm thủ tục giải toả kê biên, trả lại tài sản, giải toả việc
phong toả tài sản hoặc tài khoản của người có nghĩa vụ.
2. Trường hợp quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời bị Toà án hủy bỏ, nhưng cơ quan thi hành án dân sự
đã thi hành được một phần hoặc thi hành xong thì việc giải quyết quyền lợi của
đương sự được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 131 của
Luật này.
Điều
133. Chi phí thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án
1. Chí phí thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước
và thực hiện theo quy định tại Điều 73 của Luật này.
Trường hợp người yêu cầu Toà
án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì người đó phải
thanh toán các chi phí thực tế do việc thi hành quyết định đó. Khoản tiền đặt
trước được đối trừ, tài sản bảo đảm bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ.
2. Trường hợp Toà án tự mình
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì chi phí thi hành án được thanh toán từ
ngân sách nhà nước.
Mục
3. THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
Điều
134. Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật
Trường hợp quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà
bản án, quyết định đó chưa thi hành hoặc đã thi hành được một phần thì Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án. Trường hợp bản
án, quyết định đó đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
thông báo cho Toà án đã ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát
cùng cấp và đương sự.
Điều
135. Thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng
pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa
1. Trường hợp quyết định giám
đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới
đã bị huỷ hoặc bị sửa thì việc thi hành được thực hiện theo quyết định giám đốc
thẩm và bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị
sửa.
2. Đối với phần bản án, quyết
định của Toà án cấp dưới không bị huỷ, bị sửa mà chưa được thi hành thì Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án; nếu đã thi hành
xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Toà án đã ra quyết
định giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự.
3. Đối
với phần bản án, quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp
dưới mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa
thuận với nhau về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản.
Trường hợp tài sản thi hành án
là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì cưỡng
chế trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu.
Trường hợp tài sản đã được chuyển
dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc
giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản
do bản án, quyết định bị huỷ, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện
trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bồi
hoàn giá trị của tài sản.
Trường hợp có yêu cầu về bồi
thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án, quyết định bị huỷ, sửa giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Điều
136. Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật
1. Trường hợp quyết định giám
đốc thẩm, tái thẩm tuyên huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét
xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại thì việc thi hành án được thực hiện
theo bản án, quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm
mới.
2. Trường hợp quyết định giám
đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án mà phần tài sản trong bản
án, quyết định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì thực
hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 135 của Luật này.
Mục
4. THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH VỀ PHÁ SẢN
Điều
137. Tạm đình chỉ, đình chỉ và khôi phục thi hành án đối với người phải thi
hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản
1. Sau khi nhận được văn bản của
Toà án thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ đối với các trường hợp thi
hành về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án theo quy
định tại khoản 2 Điều 49 của Luật này.
Sau khi ra quyết định tạm đình
chỉ thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Toà án
đang giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản về kết quả thi hành án đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
2. Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành án về
tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án lâm vào tình trạng
phá sản ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án về việc mở thủ tục phá sản.
Việc
tiếp tục thi hành nghĩa vụ về tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là người
phải thi hành án trong trường hợp này thực hiện theo quy định của Luật phá sản. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách
nhiệm chỉ đạo Chấp hành viên bàn giao cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản các tài
liệu thi hành án có liên quan đến việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ
tục phá sản hoặc đình chỉ thủ tục phục hồi kinh doanh, Thẩm phán tiến hành thủ
tục phá sản phải gửi quyết định đó kèm theo toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc
thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định đình chỉ việc thi
hành án về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án lâm
vào tình trạng phá sản.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ
thủ tục phục hồi kinh doanh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
thu hồi quyết định đình chỉ thi hành án và tiếp tục thi hành án đối với phần
nghĩa vụ về tài sản còn phải thi hành đã đình chỉ đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc theo quy định của Luật
này.
Điều
138. Thi hành các quyết định của Toà án trong quá trình mở thủ tục phá sản
1. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự không ra quyết định thi hành án đối với các quyết định của
Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản, kể cả quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời, trừ trường hợp quy định tại Điều 139 của Luật này.
Chấp hành viên và Tổ quản lý,
thanh lý tài sản căn cứ các quyết định của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản
để tổ chức thi hành.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, Tổ trưởng Tổ quản lý,
thanh lý tài sản phải lập hồ sơ thi hành án phá sản.
Điều
139. Thi hành nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phát sinh sau
khi có quyết định tuyên bố phá sản
Trường hợp doanh nghiệp, hợp
tác xã chưa thanh toán nợ phát sinh sau khi có quyết định tuyên bố phá sản thì
chủ nợ chưa được thanh toán nợ có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Khi
có quyết định giải quyết của Toà án, đương sự có quyền gửi đơn yêu cầu cơ quan
thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành theo quy định
của Luật này.
Chương
VI
KHIẾU
NẠI, TỐ CÁO VÀ KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Mục
1. KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều
140. Quyền khiếu nại về thi hành án
1. Đương sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng
quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.
2. Thời hiệu khiếu nại đối với
quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên
như sau:
a) Đối với quyết định, hành vi
về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
b) Đối với quyết định về áp dụng
biện pháp phong toả tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;
Đối với quyết định, hành vi về
áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc
biết được hành vi đó;
c) Đối với quyết định, hành vi
về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc
biết được hành vi đó;
d) Đối với quyết định, hành vi
sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
hoặc biết được hành vi đó.
Trường hợp do trở ngại khách
quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền
khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện
bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.
Lần khiếu nại tiếp theo, thời hiệu
là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có
thẩm quyền.
Điều
141. Những trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết
1. Quyết định, hành vi
bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người
khiếu nại.
2. Người khiếu nại
không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Người đại diện không
có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại
đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có
quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại
điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này.
Điều
142. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp
luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại quyết định, hành
vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại quyết định, hành
vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
c) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện. Quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có
hiệu lực thi hành.
3. Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại quyết định, hành
vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh. Quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc
Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.
4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải
quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ
Tư pháp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này. Quyết định giải quyết khiếu nại của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành;
b)
Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải
quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
này.
5. Thủ trưởng cơ quan
thi hành án cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái
pháp luật của Chấp hành viên cơ quan thi hành án cấp quân khu.
6. Thủ trưởng cơ quan
quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với
quyết định, hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu;
b) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu. Quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc
phòng có hiệu lực thi hành.
7. Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc
phòng. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có hiệu lực
thi hành;
b) Trường hợp cần thiết, Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại của
Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng được quy định tại điểm
b khoản 6 Điều này.
Điều
143. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có
các quyền sau đây:
a) Tự mình khiếu nại hoặc
thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại;
b) Nhờ luật sư giúp đỡ
về pháp luật trong quá trình khiếu nại;
c) Được nhận quyết định
giải quyết khiếu nại;
d) Được biết các bằng
chứng để làm căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại
và giải trình ý kiến của mình về bằng chứng đó;
đ) Được khôi phục quyền,
lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi thường thiệt hại, nếu có;
e) Được khiếu nại tiếp
nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại;
g) Rút khiếu nại trong
bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.
2. Người khiếu nại có
các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng
người có thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực
sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu
trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin,
tài liệu đó;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh
quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng
Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tại điểm b khoản 4
và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này.
Điều
144. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
1. Người bị khiếu nại
có các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ
khiếu nại của người khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định,
hành vi bị khiếu nại;
b) Được nhận quyết định
giải quyết khiếu nại.
2. Người bị khiếu nại
có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết
định, hành vi bị khiếu nại, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh
quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tại điểm b
khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này;
c) Bồi thường, bồi
hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra
theo quy định của pháp luật.
Điều
145. Quyền và nghĩa vụ của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
1. Người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người khiếu
nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp thông
tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại;
b) Tạm dừng việc thực
hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tạm
ngừng việc thi hành án trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật
này, nếu xét thấy việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại.
2. Người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tiếp nhận, giải quyết
khiếu nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại;
b) Thông báo bằng văn bản
về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại;
c) Chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.
Điều
146. Thời hạn giải quyết khiếu nại
1. Đối với quyết định, hành vi
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời
hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ
lý đơn khiếu nại.
2. Đối với quyết định, hành vi
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời
hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
3. Đối
với quyết định, hành vi quy định tại điểm c khoản
2 Điều 140 của Luật này thì thời hạn giải quyết
khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
Trường hợp cần thiết, đối
với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể
kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
4.
Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 của Luật này thì
thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ
ngày thụ lý đơn khiếu nại.
Điều
147. Hình thức khiếu nại
Người khiếu nại thực hiện
việc khiếu nại bằng một trong các hình thức sau đây:
1. Gửi đơn khiếu nại đến
cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Đơn của người khiếu nại phải ghi rõ
ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; họ, tên, địa
chỉ của người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải
quyết. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.
2. Trình bày trực tiếp
nội dung khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người có
trách nhiệm tiếp nhận việc khiếu nại phải hướng dẫn người khiếu nại viết thành
đơn hoặc ghi lại nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm
chỉ của người khiếu nại.
3. Khiếu nại thông qua
người đại diện. Người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc
đại diện và việc khiếu nại phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này.
Điều
148. Thụ lý đơn khiếu nại
Trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết và
không thuộc trường hợp quy định tại Điều 141 của Luật này,
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và
thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp người có thẩm quyền
không thụ lý đơn khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu rõ lý do.
Điều
149. Hồ sơ giải quyết khiếu nại
1. Việc giải quyết khiếu
nại phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết khiếu nại gồm có:
a) Đơn khiếu nại hoặc văn
bản ghi nội dung khiếu nại;
b) Văn bản giải trình của
người bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra,
xác minh, kết luận, kết quả giám định;
d) Quyết định giải quyết
khiếu nại;
đ) Tài liệu khác có
liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu
nại phải được đánh số bút lục và được lưu giữ theo quy định của pháp luật.
Điều
150. Trình tự giải quyết khiếu nại lần đầu
Sau khi thụ lý đơn khiếu
nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành xác minh, yêu cầu người
bị khiếu nại giải trình, trong trường hợp cần thiết, có thể trưng cầu giám định
hoặc tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại
và hướng giải quyết khiếu nại.
Người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thuộc
thẩm quyền.
Điều
151. Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
1. Ngày, tháng, năm ra
quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của
người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội
dung khiếu nại;
5. căn cứ pháp luật để
giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận nội dung
khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.
7. Giữ nguyên, sửa đổi,
huỷ bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại
hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt
hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
9. Hướng dẫn quyền khiếu
nại lần hai của đương sự.
Điều
152. Thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai
1. Trường hợp tiếp tục
khiếu nại thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu và tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại lần hai.
2. Trong quá trình giải
quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các quyền
được quy định tại Điều 145 của Luật này và có quyền yêu cầu
người giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung
cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại;
triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại khi cần thiết;
xác minh; trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của
pháp luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận được yêu
cầu phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
Người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại lần hai phải ra quyết định giải quyết khiếu nại.
Điều
153. Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai
1. Ngày, tháng, năm ra
quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của
người khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội
dung khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để
giải quyết khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung
khiếu nại và việc giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.
7. Giữ nguyên, sửa đổi,
huỷ bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại
hoặc buộc chấm dứt thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt
hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
Mục
2. TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều
154. Người có quyền tố cáo
Công dân có quyền tố cáo với
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác
thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Điều
155. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền
sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên,
địa chỉ, bút tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết
quả giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe doạ, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ
sau đây:
a) Trình bày trung thực, cung
cấp tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của
mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp
luật về việc tố cáo sai sự thật.
Điều
156. Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có các quyền
sau đây:
a) Được thông báo về nội dung
tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng
minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do
việc tố cáo không đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố
cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết
định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, khắc
phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp
luật.
Điều
157. Thẩm quyền, thời hạn và thủ tục giải quyết tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì
người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
2. Trường
hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi
hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là
Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi
hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo là
60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố
cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.
3. Tố cáo về hành vi vi phạm
pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự.
4. Thủ tục giải quyết tố cáo
được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Điều
158. Trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận
và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng
biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định
giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về
quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải
quyết tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải
quyết trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
Điều
159. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thi hành án dân sự
Viện kiểm sát kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với
cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có
trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp
luật.
Mục
3. KHÁNG NGHỊ VÀ GIẢI QUYẾT KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều
160. Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát kháng nghị đối
với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện
kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm.
Điều
161. Trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm trả lời kháng nghị của Viện kiểm
sát đối với quyết định về thi hành án của mình hoặc của Chấp hành viên thuộc
quyền quản lý trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị.
Trường
hợp chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát thì trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày có văn bản trả lời kháng nghị, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
phải thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát.
2. Trường hợp Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự không nhất trí với kháng nghị của Viện kiểm sát thì giải
quyết như sau:
a) Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi có quyết định, hành vi bị kháng
nghị phải báo cáo với Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và Viện
trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
cấp tỉnh phải xem xét, trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo
cáo. Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có hiệu
lực thi hành;
b) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ
trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo.
Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp có hiệu lực thi hành;
c) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án cấp quân khu có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ trưởng
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát quân sự trung
ương. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng phải xem xét
và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời
của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi
hành.
3. Trường
hợp xét thấy văn bản trả lời kháng nghị được quy định tại khoản 2 Điều này
không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu Bộ trưởng
Bộ Tư pháp xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân
sự thuộc Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét lại văn bản trả lời đã có
hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu, Thủ trưởng
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
Chương
VII
XỬ LÝ
VI PHẠM
Điều
162. Hành vi vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự
1. Đã nhận
giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai nhưng không có mặt để thực hiện việc thi
hành án mà không có lý do chính đáng.
2. Cố
tình không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án
hoặc bản án, quyết định phải thi hành ngay.
3. Không
thực hiện công việc phải làm hoặc không chấm dứt thực hiện công việc không được
làm theo bản án, quyết định.
4. Có điều
kiện thi hành án nhưng cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
5. Tẩu
tán hoặc làm hư hỏng tài sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn
tránh việc kê biên tài sản.
6. Không
thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên về việc cung cấp thông tin, giao giấy tờ
liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án mà không có lý do chính đáng.
7. Sử dụng
trái phép, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi tình trạng
tài sản đã kê biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
8. Chống
đối, cản trở hay xúi giục người khác chống đối, cản trở; có lời nói, hành động
lăng mạ, xúc phạm người thi hành công vụ trong thi hành án; gây rối trật tự nơi
thi hành án hoặc có hành vi vi phạm khác gây trở ngại cho hoạt động thi hành án
dân sự nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
9. Phá hủy
niêm phong hoặc hủy hoại tài sản đã kê biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
10.
Không chấp hành quyết định của Chấp hành viên về việc khấu trừ tài khoản, trừ
vào thu nhập, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
Điều 163. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
1. Những người sau đây có quyền xử phạt vi phạm hành
chính trong thi hành án dân sự:
a) Chấp
hành viên đang giải quyết việc thi hành án;
b) Tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản của vụ án phá
sản;
c) Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
d) Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
quân khu.
2. Mức xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Điều 164. Xử phạt vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố
cáo về xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự
1. Nguyên tắc xử phạt, thời hiệu
xử phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trình tự, thủ tục xử phạt cụ thể thực
hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Việc khiếu nại, tố cáo và
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong xử phạt vi phạm hành chính về thi hành án
dân sự thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Điều
165. Xử lý vi phạm
1. Người phải thi hành án cố ý
không chấp hành bản án, quyết định; không tự nguyện thi hành các quyết định về
thi hành án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
không thực hiện các quyết định về thi hành án thì tuỳ theo tính chất và mức độ
vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường;
nếu là cá nhân thì còn có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự.
3. Người lợi dụng chức vụ, quyền
hạn cố ý cản trở việc thi hành án hoặc ép buộc Chấp hành viên thi hành án trái
pháp luật; phá huỷ niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu,
huỷ hoại vật chứng, tài sản tạm giữ, tài sản bị kê biên thì tuỳ theo tính chất,
mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu
gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc ra quyết định về thi hành
án trái pháp luật; Chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định, trì
hoãn việc thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật;
vi phạm quy chế đạo đức của Chấp hành viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Chương
VIII
NHIỆM
VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 166.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong thi hành án dân sự
1. Thống nhất quản lý nhà nước
về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước.
2. Chỉ đạo các cơ quan của
Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự.
3. Phối hợp với Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự.
4. Định kỳ hàng năm báo cáo Quốc
hội về công tác thi hành án dân sự.
Điều
167. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong thi hành án dân sự
1. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, có các nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ quan
có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự;
b) Xây dựng và tổ chức thực hiện
chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự;
c) Phổ biến, giáo dục pháp luật
về thi hành án dân sự;
d) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải
thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành
viên, Thẩm tra viên;
đ) Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác thi
hành án dân sự;
e) Kiểm
tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự;
giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự;
g) Quyết định kế hoạch phân bổ
kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án
dân sự;
h) Hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực thi hành án dân sự;
i) Tổng kết công tác thi hành
án dân sự;
k) Ban hành và thực hiện chế độ
thống kê về thi hành án dân sự;
l) Báo cáo Chính phủ về công
tác thi hành án dân sự.
2. Cơ quan quản lý thi hành án
dân sự thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác
thi hành án dân sự và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự theo
quy định của Chính phủ.
Điều
168. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng trong thi hành án dân sự
1. Phối
hợp với Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội:
a) Ban hành hoặc trình cấp có
thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự trong quân
đội;
b) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp
hành viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên,
Thẩm tra viên và nhân viên làm công tác thi hành án dân sự trong quân đội;
c) Tổng
kết, báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự;
2. Thực hiện các nhiệm vụ sau
đây:
a) Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ
thi hành án cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; phổ biến, giáo dục pháp luật
về thi hành án dân sự trong quân đội;
b) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án trong quân đội;
bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu; khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân làm công tác thi hành án trong quân
đội;
c) Kiểm
tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về thi hành án
trong quân đội;
d) Quản lý, lập kế hoạch phân
bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án trong
quân đội.
3. Cơ quan quản lý thi hành án
thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại Điều này theo quy định của Chính phủ.
Điều
169. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo cơ quan Công an bảo
vệ cưỡng chế thi hành án, phối hợp bảo vệ kho vật chứng của cơ quan thi hành án
dân sự trong trường hợp cần thiết.
3. Chỉ đạo trại giam, trại tạm
giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền,
tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp để
thi hành án.
4. Chỉ đạo cơ quan Công an có
thẩm quyền phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Toà án xét, quyết định
miễn, giảm hình phạt cho những người phải thi hành án có đủ điều kiện theo quy
định của pháp luật.
5. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều
170. Nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo Toà án các cấp phối
hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong công tác thi hành án dân sự, giải quyết
các yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn quy định của pháp luật.
3. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều
171. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án
dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm
sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án dân sự theo quy định của pháp
luật.
3. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều
172. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tư lệnh quân khu và tương đương trong thi hành án
dân sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức
phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc thi hành các vụ án lớn, phức tạp,
có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quân
khu và tương đương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu.
2. Yêu cầu cơ quan thi hành án
cấp quân khu báo cáo công tác, kiểm tra, thanh tra công tác thi hành án trên địa
bàn quân khu và tương đương.
3. Có ý kiến bằng văn bản về
việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
quân khu.
4. Quyết định khen thưởng hoặc
đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công
tác thi hành án dân sự.
Điều
173. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp
các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn.
2. Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng
chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh.
3. Có ý kiến bằng văn bản
về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh.
4. Quyết định khen thưởng hoặc
đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong
công tác thi hành án dân sự.
5. Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
6. Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án ở địa phương.
Điều
174. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thi hành án dân sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp
các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn.
2. Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng
chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện.
3. Có ý kiến bằng văn bản
về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự cấp huyện.
4. Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện tự kiểm tra, đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
5. Quyết định khen thưởng
hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích
trong công tác thi hành án dân sự.
6. Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
Điều 175.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án dân sự
Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành
viên và cơ quan thi hành án dân sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh
điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành
án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn.
Điều
176. Trách nhiệm của Kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong
thi hành án dân sự
1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp
thời thông tin, số liệu về tài khoản của người phải thi hành án theo yêu cầu của
Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp
thời yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, phong toả tài sản; khấu
trừ tiền trong tài khoản; giải toả việc phong toả tài khoản, phong toả tài sản
của người phải thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu
khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
Điều
177. Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội trong thi hành án dân sự
1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp
thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án đang
được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi
hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp
thời yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án
để thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu
khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
Điều
178. Trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong
thi hành án dân sự
1. Tạm dừng hoặc dừng việc thực
hiện các yêu cầu liên quan đến các giao dịch đối với tài sản của người phải thi
hành án đăng ký tại cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm ngay sau
khi nhận được yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện việc đăng ký quyền
sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi
hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
3. Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy
tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm
đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy
định của pháp luật.
Điều
179. Trách nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định trong thi hành án
1. Bảo đảm bản án, quyết định
đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thực tế.
2. Có
văn bản giải thích những nội dung mà bản án, quyết định tuyên chưa rõ trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc của cơ quan thi hành
án dân sự.
Trường hợp vụ việc phức tạp
thì thời hạn trả lời không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
3. Trả
lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết
định của Toà án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn 45 ngày, kể
từ ngày nhận được kiến nghị.
4. Thụ
lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về
việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền
sở hữu, quyền sử dụng tài sản thuộc thẩm quyền của Toà án phát sinh trong quá
trình thi hành án.
Điều
180. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người
đang chấp hành án hình sự
Cơ quan, tổ chức được giao
theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp
với cơ quan thi hành án dân sự về các việc sau đây:
1. Giáo dục người đang chấp
hành án hình sự thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của
Toà án;
2. Cung cấp cho cơ quan thi
hành án dân sự thông tin liên quan về người phải thi hành nghĩa vụ về dân sự
đang chấp hành án hình sự; thực hiện việc thông báo giấy tờ về thi hành án dân
sự cho người phải thi hành án đang chấp hành án hình sự;
3. Phối hợp với cơ quan thi
hành án dân sự thu tiền thi hành án theo quy định của Luật này;
4. Kịp thời thông báo cho cơ
quan thi hành án dân sự về nơi cư trú của người bị kết án đã chấp hành xong
hình phạt tù, được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù.
Chương
IX
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH
Điều
181. Tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án
1. Việc yêu cầu nước
ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án, việc tiếp nhận và xử lý uỷ
thác tư pháp về thi hành án của nước ngoài trong quá trình thi hành án được thực
hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
2. Cơ quan thi hành án dân sự
có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án phải lập hồ
sơ uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều
182. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Điều 183. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Chính phủ, Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng
dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà
nước.
Luật
này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XII, kỳ họp
thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008.
|
|
CHỦ
TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Phú Trọng
|