Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Quên mật khẩu?   Đăng ký mới
Đăng nhập bằng Google

Thông tư 120/2003/TT-BTC Luật thuế giá trị gia tăng và Luật bổ sung Luật thuế giá trị gia tăng

Số hiệu: 120/2003/TT-BTC Loại văn bản: Thông tư
Nơi ban hành: Bộ Tài chính Người ký: Trương Chí Trung
Ngày ban hành: 12/12/2003 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

BỘ TÀI CHÍNH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 120/2003/TT-BTC

Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2003

 

THÔNG TƯ

VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2003/NĐ-CP NGÀY 10/12/2003 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Căn cứ Luật thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày 10 tháng 5 năm 1997;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng số 07/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003;

Căn cứ Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT;

Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 1/7/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau:

A. PHẠM VI ÁP DỤNG THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

I. ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ, ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG:

1. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng:

Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế nêu tại Mục II, Phần A Thông tư này.

2. Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng:

Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế giá trị gia tăng (gọi chung là người nhập khẩu) đều là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng.

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm:

- Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Hợp tác xã;

- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác;

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu.

II. ĐỐI TƯỢNG KHÔNG CHỊU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG:

Hàng hóa, dịch vụ sau đây không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng:

1. Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc mới sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, trực tiếp đánh bắt bán ra.

Các sản phẩm mới qua sơ chế thông thường quy định tại điểm này là các sản phẩm mới được phơi, sấy khô, ướp đông, làm sạch, bóc vỏ, mà chưa được chế biến ở mức độ cao hơn hoặc chế biến thành các sản phẩm hàng hóa khác.

Ví dụ: Phơi, sấy khô, bóc vỏ, tách hạt các sản phẩm nông nghiệp; ướp đá, ướp muối, phơi khô cá, tôm và các sản phẩm thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt khác.

2. Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, như: trứng giống, con giống, cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền ở các khâu nuôi trồng, nhập khẩu và kinh doanh thương mại. Sản phẩm giống vật nuôi, cây trồng thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng là sản phẩm do các cơ sở nhập khẩu, kinh doanh thương mại có giấy đăng ký kinh doanh giống vật nuôi, cây trồng do cơ quan quản lý nhà nước cấp. Đối với sản phẩm là giống vật nuôi, cây trồng thuộc loại nhà nước ban hành tiêu chuẩn, chất lượng phải đáp ứng các điều kiện do nhà nước quy định.

3. Sản phẩm muối bao gồm: muối sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt.

4. Hàng hoá nhập khẩu sau đây thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng:

- Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp;

- Thiết bị, máy móc, vật tư, phương tiện vận tải thuộc loại trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;

- Máy bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuộc loại trong nước chưa sản xuất được thuê của nước ngoài dùng cho sản xuất, kinh doanh.

- Thiết bị, máy móc, phụ tùng, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư cần thiết để tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ dầu khí; phụ tùng, khí tài máy bay, thiết bị đặc chủng chuyên dùng cho máy bay (loại trong nước chưa sản xuất được).

Trường hợp cơ sở sản xuất, kinh doanh nhập khẩu dây chuyền thiết bị, máy móc đồng bộ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng nhưng trong dây chuyền đồng bộ đó có cả loại thiết bị, máy móc trong nước đã sản xuất được thì không tính thuế giá trị gia tăng cho cả dây chuyền thiết bị, máy móc đồng bộ.

Doanh nghiệp trong trường hợp này bao gồm các doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Ví dụ: Công ty Dệt A nhập khẩu một số máy dệt loại trong nước chưa sản xuất được, trong đó có cả một số mô tơ điện đồng bộ của máy dệt là loại trong nước đã sản xuất được thì mô tơ nhập khẩu đồng bộ này cũng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Để xác định hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu quy định tại điểm này, cơ sở nhập khẩu phải xuất trình cho cơ quan Hải quan các hồ sơ sau:

+ Hợp đồng nhập khẩu.

Trường hợp nhập khẩu uỷ thác phải có thêm Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu.

Trường hợp cơ sở đã trúng thầu cung cấp hàng hóa cho các đối tượng, sử dụng cho các mục đích quy định tại điểm này phải có thêm Giấy báo trúng thầu và hợp đồng bán cho các doanh nghiệp theo kết quả đấu thầu.

Trường hợp Công ty cho thuê tài chính nhập khẩu để cho thuê tài chính phải có thêm Hợp đồng cho thuê tài chính.

Trường hợp nhập khẩu để nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phải có thêm Văn bản của cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ cho các tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hoặc Hợp đồng khoa học và công nghệ giữa bên đặt hàng và bên nhận đặt hàng thực hiện hợp đồng khoa học và công nghệ.

+ Xác nhận của Giám đốc doanh nghiệp hoặc thủ trưởng cơ quan nghiên cứu khoa học về các loại hàng hóa nhập khẩu để sử dụng làm tài sản cố định; sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; sử dụng vào hoạt động thăm dò, phát triển mỏ dầu khí; là loại chuyên dùng cho máy bay.

Riêng đối với máy bay, giàn khoan, tầu thuỷ thuê của nước ngoài, loại trong nước chưa sản xuất được, dùng cho sản xuất, kinh doanh không phải nộp thuế giá trị gia tăng, các cơ sở đi thuê chỉ phải xuất trình cho cơ quan Hải quan hợp đồng thuê ký với nước ngoài.

Các loại hàng hoá nhập khẩu trên thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu được xác định căn cứ vào danh mục các loại máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng, vật tư xây dựng, vật tư, phụ tùng trong nước đã sản xuất được do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.

5. Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước bán cho người đang thuê theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở.

6. Chuyển quyền sử dụng đất.

7. Dịch vụ tín dụng và quỹ đầu tư bao gồm hoạt động cho vay vốn, bảo lãnh cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá trị như tiền, bán tài sản đảm bảo tiền vay để thu hồi nợ, cho thuê tài chính của các tổ chức tài chính tín dụng tại Việt Nam; các hoạt động chuyển nhượng vốn theo Pháp luật và hoạt động kinh doanh chứng khoán.

Hoạt động kinh doanh chứng khoán nêu tại điểm này bao gồm các hoạt động như môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán.

8. Bảo hiểm nhân thọ; bảo hiểm học sinh và các dịch vụ bảo hiểm con người như bảo hiểm tai nạn thuỷ thủ, thuyền viên, bảo hiểm tai nạn con người (bao gồm cả bảo hiểm tai nạn, sinh mạng, kết hợp nằm viện), bảo hiểm tai nạn hành khách, bảo hiểm khách du lịch, bảo hiểm tai nạn lái - phụ xe và người ngồi trên xe, bảo hiểm cho người đình sản, bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật, bảo hiểm sinh mạng cá nhân, bảo hiểm người sử dụng điện và các bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, cây trồng, bảo hiểm nông nghiệp khác và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm lao động.

9. Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng dịch bệnh, dịch vụ sinh đẻ có kế hoạch, dịch vụ điều dưỡng sức khoẻ, phục hồi chức năng cho người bệnh và dịch vụ thú y.

10. Các sản phẩm, dịch vụ thuộc lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao dưới đây:

- Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục, thể thao, tổ chức luyện tập, thi đấu mang tính phong trào, quần chúng, không thu tiền hoặc có thu tiền dưới hình thức bán vé vào xem, thu tiền luyện tập nhưng không nhằm mục đích kinh doanh. Các khoản doanh thu khác như: bán hàng hoá, cho thuê sân bãi, gian hàng tại hội chợ, triển lãm... phải chịu thuế giá trị gia tăng.

- Hoạt động biểu diễn nghệ thuật như: tuồng, chèo, cải lương, ca, múa, nhạc, kịch, xiếc; hoạt động biểu diễn nghệ thuật khác và dịch vụ tổ chức biểu diễn nghệ thuật.

- Sản xuất phim các loại (phim đã ghi hình) không phân biệt chủ đề, loại hình phim.

- Nhập khẩu phim đã ghi hình, phát hành và chiếu phim nhựa, phim vi-đi-ô tài liệu:

+ Đối với phim nhựa không phân biệt chủ đề, loại phim.

+ Đối với phim ghi trên băng hình, đĩa hình chỉ là phim tài liệu, phóng sự, khoa học.

Loại phim và chủ đề phim được xác định theo các quy định của Bộ Văn hoá và Thông tin.

11. Dạy học, dạy nghề bao gồm: dạy văn hóa, ngoại ngữ, tin học, dạy múa, hát, hội hoạ, nhạc, kịch, xiếc, thể dục, thể thao, nuôi dạy trẻ và dạy các nghề khác nhằm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá, kiến thức chuyên môn nghề nghiệp cho mỗi người.

12. Phát sóng truyền thanh, truyền hình theo chương trình, bằng nguồn tiền Ngân sách nhà nước cấp.

13. Xuất bản, nhập khẩu và phát hành: báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa (kể cả dưới dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử), giáo trình, sách văn bản pháp luật (sách in các văn bản pháp luật, các Văn kiện, Nghị quyết, văn bản pháp quy khác); sách khoa học kỹ thuật; sách in bằng chữ dân tộc thiểu số, tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động; in tiền và các chứng chỉ có giá trị như tiền (séc, trái phiếu, ngân phiếu, tín phiếu...); tiền mặt từ nước ngoài chuyển về Việt Nam.

Báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, bao gồm cả hoạt động truyền trang báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành.

Sách chính trị là sách tuyên truyền đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị theo chuyên đề, chủ đề, phục vụ các ngày kỷ niệm, ngày truyền thống của các tổ chức, các cấp, các ngành, địa phương; các loại sách thống kê, tuyên truyền phong trào người tốt việc tốt; sách in các bài phát biểu, nghiên cứu lý luận của lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

Sách giáo khoa là sách dùng để giảng dạy và học tập trong tất cả các cấp từ mầm non đến phổ thông trung học (bao gồm cả sách tham khảo dùng cho giáo viên và học sinh phù hợp với nội dung chương trình giáo dục).

Sách giáo trình là sách dùng để giảng dạy và học tập trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Sách văn bản pháp luật là sách in các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

Sách khoa học kỹ thuật là sách dùng để giới thiệu, hướng dẫn những kiến thức khoa học, kỹ thuật có quan hệ trực tiếp đến sản xuất và các ngành khoa học, kỹ thuật.

Sách in bằng chữ dân tộc thiểu số bao gồm cả sách in song ngữ chữ phổ thông và chữ dân tộc thiểu số.

Tranh, ảnh, áp phích, các loại tờ rơi, tờ gấp phục vụ cho mục đích tuyên truyền, cổ động, khẩu hiệu, ảnh lãnh tụ, Đảng kỳ, Quốc kỳ, Đoàn kỳ, Đội kỳ.

Băng, đĩa âm thanh hoặc ghi hình ghi nội dung các loại sách trên.

14. Dịch vụ công cộng như vệ sinh, thoát nước; duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng; dịch vụ tang lễ. Các dịch vụ này không phân biệt nguồn kinh phí chi trả.

Dịch vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố bao gồm các hoạt động thu, dọn, vận chuyển, xử lý rác và chất phế thải, thoát nước, xử lý nước thải.

Duy trì vườn thú, công viên bao gồm hoạt động quản lý, trồng cây, chăm sóc, bảo vệ chim, thú, cây ở các công viên, vườn thú, khu vực công cộng, vườn quốc gia.

Dịch vụ tang lễ bao gồm các hoạt động cho thuê nhà, xe ô tô phục vụ tang lễ của các tổ chức làm dịch vụ tang lễ; mai táng, hoả táng.

Các hoạt động có thu phí, lệ phí theo chế độ phí và lệ phí của Nhà nước thì khoản thu này không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng.

15. Duy tu, sửa chữa, phục chế, xây dựng các công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ lợi ích công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà tình nghĩa bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân và vốn viện trợ nhân đạo, kể cả trường hợp được nhà nước cấp hỗ trợ một phần vốn không quá 30% tổng số vốn thực chi cho công trình.

16. Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện của các cơ sở vận tải xe buýt, xe điện được thành lập và hoạt động theo quy chế của Bộ Giao thông vận tải phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong nội thành, nội thị, trong các khu công nghiệp hoặc giữa thành thị với khu công nghiệp lân cận theo tuyến đường, điểm đỗ, thời gian chạy, giá vé cước do cấp có thẩm quyền quy định.

17. Điều tra cơ bản của nhà nước do ngân sách nhà nước cấp phát kinh phí để thực hiện (bao gồm điều tra, thăm dò địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, khí tượng thuỷ văn, môi trường; đo đạc, lập bản đồ).

18. Tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp; nước sạch do tổ chức, cá nhân tự khai thác tại địa bàn miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa để phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.

19. Vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.

- Danh mục vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh quy định tại Phụ lục số 3 ban hành kèm theo Thông tư này.

Các vũ khí, khí tài này bao gồm các sản phẩm hoàn chỉnh, đồng bộ hoặc các bộ phận, linh kiện, bao bì chuyên dùng để lắp ráp, bảo quản sản phẩm hoàn chỉnh.

Hoạt động sửa chữa vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh do các doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện.

- Vũ khí, khí tài (kể cả vật tư, máy móc, thiết bị, phụ tùng) chuyên dùng phục vụ cho quốc phòng, an ninh nhập khẩu thuộc diện được miễn thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hoặc nhập khẩu theo hạn ngạch hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Cơ sở nhập khẩu vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng nói trên phải gửi cho cơ quan Hải quan các hồ sơ sau:

+ Giấy xác nhận hàng hoá nhập khẩu phục vụ quốc phòng, an ninh của Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an.

+ Danh mục hàng hoá nhập khẩu trong chỉ tiêu hạn ngạch nhập khẩu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (do Bộ Thương mại hoặc Tổng cục Hải quan cấp).

+ Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu (trường hợp nhập khẩu uỷ thác).

20. Hàng nhập khẩu trong các trường hợp sau: hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại (bao gồm cả hàng hoá nhập khẩu thuộc nguồn vốn ODA không hoàn lại), quà tặng cho cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; quà biếu, quà tặng cho cá nhân ở Việt Nam; đồ dùng của các tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế; hàng là đồ dùng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi về nước mang theo.

Mức hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu theo mức miễn thuế nhập khẩu quy định tại Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Hàng hoá nhập khẩu của tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng miễn trừ ngoại giao theo Pháp lệnh miễn trừ ngoại giao được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ thuế giá trị gia tăng theo quy định hiện hành. Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam có thuế giá trị gia tăng sẽ được hoàn thuế theo hướng dẫn tại Điểm 8, Mục I, Phần D Thông tư này. Đối tượng, hàng hóa, thủ tục hồ sơ để được hưởng ưu đãi miễn trừ thuế giá trị gia tăng hướng dẫn tại điểm này thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 08/2003/TT-BTC ngày 15/1/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng đối với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Đối với hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại phải có văn bản xác nhận của Bộ Tài chính.

Tổng cục Hải quan hướng dẫn cụ thể hồ sơ, thủ tục xử lý hàng nhập khẩu không phải chịu thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu trong các trường hợp này.

21. Hàng hoá bán cho các tổ chức quốc tế, người nước ngoài để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam;

Thủ tục để các tổ chức quốc tế, người nước ngoài mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam được miễn thuế giá trị gia tăng: các tổ chức quốc tế, người nước ngoài phải có văn bản gửi cho cơ sở bán hàng trong đó ghi rõ tên tổ chức quốc tế, người nước ngoài mua hàng để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam, số lượng hoặc giá trị loại hàng mua; văn bản xác nhận của Bộ Tài chính về khoản viện trợ này.

Khi bán hàng, cơ sở phải lập hoá đơn theo đúng quy định tại Điểm 5.1, Mục IV, Phần B Thông tư này, trên hoá đơn ghi rõ là hàng bán cho tổ chức, người nước ngoài để viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo không tính thuế giá trị gia tăng và lưu giữ văn bản của tổ chức quốc tế hoặc của cơ quan đại diện của Việt Nam để làm căn cứ kê khai và quyết toán thuế.

22. Hàng chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua Việt Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu đã ký với nước ngoài.

Hàng hoá thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng trong trường hợp này do cơ quan Hải quan giải quyết. Tổng cục Hải quan hướng dẫn thủ tục để xác định và xử lý không thu thuế giá trị gia tăng trong các trường hợp này.

23. Hàng hóa, dịch vụ cung ứng cho các đối tượng và trường hợp sau đây:

- Hàng hóa, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế như: cung ứng nhiên liệu, nguyên vật liệu, phụ tùng, nước và các loại thực phẩm, suất ăn phục vụ hành khách, dịch vụ vệ sinh cho tầu biển, máy bay, tầu hoả quốc tế, bốc xếp hàng hóa xuất khẩu.

- Vận tải hàng hoá, hành khách quốc tế.

Vận tải quốc tế bao gồm vận tải của nước ngoài hoặc của các cơ sở kinh doanh vận tải trong nước tham gia vận tải hàng hoá, hành khách từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc ngược lại, vận tải hàng hoá giữa các cảng nước ngoài.

Trường hợp cơ sở làm dịch vụ vận tải ký hợp đồng vận tải hàng hóa, hành khách ra nước ngoài thì doanh thu dịch vụ vận tải không chịu thuế giá trị gia tăng là doanh thu thực thu của khách hàng. Trường hợp trong hợp đồng vận tải có cả chặng vận tải nội địa mà không tách được doanh thu vận tải nội địa, quốc tế thì doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm cả doanh thu vận tải nội địa.

- Dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài.

- Hàng hóa bán miễn thuế ở các cửa hàng miễn thuế tại các sân bay, bến cảng, nhà ga quốc tế và cửa khẩu biên giới.

- Hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra.

- Hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài; hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp chế xuất mua bán với nhau; hàng hoá, dịch vụ do các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp cho doanh nghiệp chế xuất.

24. Chuyển giao công nghệ, phần mềm máy tính, trừ phần mềm xuất khẩu.

Chuyển giao công nghệ được xác định theo quy định tại Chương III "Chuyển giao công nghệ" của Bộ luật dân sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với những hợp đồng chuyển giao công nghệ có kèm theo máy móc, thiết bị thì việc không thu thuế chỉ thực hiện đối với phần giá trị công nghệ chuyển giao.

Phần mềm máy tính (trừ phần mềm máy tính xuất khẩu) bao gồm sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định tại Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghiệp phần mềm.

25. Dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet phổ cập theo chương trình của Chính phủ.

26. Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng và các loại vàng chưa chế tác thành sản phẩm, mỹ nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm khác.

Vàng dạng thỏi, miếng và các loại vàng chưa chế tác được xác định phù hợp với các quy định quốc tế.

27. Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác, cụ thể dưới đây:

- Dầu thô.

- Đá phiến, cát, đất hiếm.

- Đá quý.

- Quặng măng-gan, quặng thiếc, quặng sắt, quặng cờ-rôm-mít, quặng êmênhít, quặng a-pa-tít.

28. Sản phẩm là bộ phận nhân tạo dùng để thay thế cho bộ phận của người bệnh; nạng, xe lăn và dụng cụ chuyên dùng khác dùng cho người tàn tật.

29. Hàng hóa, dịch vụ của những cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu Nhà nước quy định đối với công chức Nhà nước. Thu nhập được xác định bằng doanh thu từ hoạt động kinh doanh trừ (-) chi phí hợp lý của hoạt động kinh doanh đó.

Hộ kinh doanh có mức thu nhập thấp không phải nộp thuế giá trị gia tăng do Chi cục thuế phối hợp với Hội đồng tư vấn thuế kiểm tra, xác định, lập danh sách và thông báo bằng văn bản cho hộ kinh doanh biết.

Hộ kinh doanh trong thời gian được thông báo không phải nộp thuế giá trị gia tăng nếu tình hình kinh doanh có thay đổi, thu nhập cao hơn mức thu nhập theo quy định, Chi cục thuế phải thông báo cho hộ kinh doanh biết và đưa vào diện phải nộp thuế giá trị gia tăng kể từ tháng có thu nhập cao hơn mức quy định.

Cơ sở kinh doanh không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại điều này mà phải tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh.

B. CĂN CỨ TÍNH THUẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ

Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất.

I. GIÁ TÍNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG:

Giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định cụ thể như sau:

1. Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra hoặc cung ứng cho đối tượng khác là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng.

Giá tính thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng, trừ các khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp ngân sách nhà nước. Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán thì giá tính thuế giá trị gia tăng là giá bán đã giảm ghi trên hóa đơn.

2. Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng (+) thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập khẩu tại cửa khẩu làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng được xác định theo các quy định về giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu.

Ví dụ: Cơ sở nhập khẩu xe ô tô 4 chỗ ngồi nguyên chiếc, giá tính thuế nhập khẩu là 300.000.000 đ/chiếc

- Thuế suất thuế nhập khẩu là 100%, thuế suất thuế TĐB là 80%, thuế suất thuế giá trị gia tăng là 10%.

- Thuế nhập khẩu phải nộp:

300.000.000 đ x 100% = 300.000.000 đ

- Thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp:

(300.000.000đ+300.000.000đ) x 80% = 480.000.000 đ

- Giá tính thuế giá trị gia tăng là:

(300.000.000 đ + 300.000.000đ + 480.000.000đ) = 1.080.000.000 đ

- Thuế giá trị gia tăng phải nộp là:

1.080.000.000 đ x 10% = 108.000.000 đ

Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế giá trị gia tăng là giá hàng hoá nhập khẩu cộng với (+) thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm.

3. Sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng hoặc để trả thay lương (trừ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo theo qui định tại Nghị định số 32/1999/NĐ-CP ngày 5/5/1999 của Chính phủ về khuyến mại quảng cáo thương mại, hội chợ triển lãm thương mại không phải tính thuế giá trị gia tăng), giá tính thuế giá trị gia tăng được xác định theo giá tính thuế của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm phát sinh các hoạt động này.

Ví dụ: Đơn vị A sản xuất quạt điện, dùng 50 sản phẩm quạt để trao đổi với cơ sở B lấy sắt thép, giá bán (chưa có thuế) là 400.000 đ/chiếc. Thuế giá trị gia tăng phải nộp tính trên số quạt xuất trao đổi là:

400.000 đồng/chiếc x 50 chiếc x 10% = 2.000.000 đồng.

4. Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cơ sở kinh doanh xuất để tiêu dùng không phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hoặc cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng thì phải tính thuế giá trị gia tăng đầu ra. Giá tính thuế tính theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại cùng thời điểm phát sinh.

Đối với hàng hoá luân chuyển nội bộ như xuất hàng hoá để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh không phải tính, nộp thuế giá trị gia tăng.

5. Đối với dịch vụ do phía nước ngoài cung ứng cho các đối tượng tiêu dùng ở Việt Nam, giá tính thuế giá trị gia tăng là giá dịch vụ phải thanh toán cho phía nước ngoài.

Ví dụ: Công ty A ở Việt Nam thuê một Công ty ở nước ngoài sửa chữa tàu biển, giá thanh toán theo hợp đồng phải trả Công ty ở nước ngoài là 100 triệu đồng thì Công ty A phải tính và nộp thuế giá trị gia tăng 10% trên giá 100 triệu đồng.

6. Dịch vụ cho thuê tài sản như cho thuê nhà, văn phòng, xưởng, kho tàng, bến, bãi, phương tiện vận chuyển; máy móc thiết bị v.v...

Giá để tính thuế giá trị gia tăng là giá cho thuê chưa có thuế. Trường hợp cho thuê theo hình thức thu tiền thuê từng kỳ hoặc thu trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì thuế giá trị gia tăng tính trên số tiền thu từng kỳ hoặc thu trước, bao gồm cả các khoản thu dưới hình thức khác như thu tiền để hoàn thiện, sửa chữa, nâng cấp nhà cho thuê theo yêu cầu của bên thuê.

Giá cho thuê tài sản do các bên thỏa thuận được xác định theo hợp đồng. Trường hợp pháp luật có quy định về khung giá thuê thì giá thuê được xác định trong phạm vi khung giá quy định.

7. Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, giá tính thuế là giá bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hoá đó (không bao gồm lãi trả góp), không tính theo số tiền trả góp từng kỳ.

Ví dụ: Công ty kinh doanh xe máy bán xe Honda loại 100 cc, giá bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng là 25,5 triệu đồng (trong đó lãi trả góp là 0,5 triệu đồng) thì giá tính thuế giá trị gia tăng tính theo giá 25 triệu đồng/chiếc.

8. Đối với gia công hàng hóa, giá tính thuế là giá gia công chưa có thuế giá trị gia tăng, bao gồm: tiền công, tiền nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và các chi phí khác để gia công do bên nhận gia công phải chịu.

9. Đối với xây dựng, lắp đặt.

- Trường hợp xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu thì giá tính thuế bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu chưa có thuế giá trị gia tăng.

Ví dụ: Công ty xây dựng A nhận thầu xây dựng công trình bao gồm cả giá trị vật tư xây dựng, tổng giá trị thanh toán chưa có thuế giá trị gia tăng là 1.500 triệu đồng trong đó giá trị vật tư xây dựng là 1.100 triệu đồng thì giá tính thuế giá trị gia tăng là 1.500 triệu đồng.

- Đối với trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu chưa có thuế giá trị gia tăng.

Ví dụ: Công ty xây dựng X nhận thầu xây dựng công trình, vật tư do bên chủ công trình cấp, giá trị xây dựng chưa có thuế giá trị gia tăng không bao gồm vật tư xây dựng là 600 triệu đồng, thì giá tính thuế giá trị gia tăng trong trường hợp này là 600 triệu đồng.

- Trường hợp xây dựng, lắp đặt thực hiện thanh toán theo hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành bàn giao thì giá tính thuế tính theo giá trị hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng công việc hoàn thành bàn giao chưa có thuế giá trị gia tăng.

Ví dụ: Công ty dệt X (gọi là bên A) thuê Công ty XD Y (gọi là bên B) thực hiện xây dựng lắp đặt mở rộng xưởng sản xuất.

Tổng giá trị công trình chưa có thuế giá trị gia tăng là 200 tỷ, trong đó:

- Giá trị xây lắp: 80 tỷ

- Giá trị thiết bị bên B cung cấp và lắp đặt: 120 tỷ

+ Bên B sẽ tính thêm phần thuế GTGT 10% bằng 20 tỷ

+ Tổng số tiền bên A phải thanh toán là: 220 tỷ

+ Bên A: - Nhận bàn giao nhà xưởng, hạch toán tăng giá trị tài sản cố định để tính khấu hao là 200 tỷ (giá trị không có thuế giá trị gia tăng)

- Tiền thuế giá trị gia tăng đã trả 20 tỷ được khấu trừ vào thuế đầu ra của hàng hoá bán ra hoặc đề nghị hoàn thuế theo quy định.

Trường hợp bên A chấp nhận thanh toán cho bên B theo từng hạng mục công trình (giả định phần xây nhà xưởng làm xong trước và thanh toán trước) thì khi bên A tính tiền trả phần xây nhà 80 tỷ sẽ phải cộng thêm 10% thuế giá trị gia tăng trả cho bên B; số tiền phải thanh toán có thuế giá trị gia tăng sẽ là 80 tỷ + 8 tỷ = 88 tỷ.

10. Đối với các cơ sở kinh doanh được nhà nước giao đất xây nhà, cơ sở hạ tầng kỹ thuật để bán, để chuyển nhượng gắn với chuyển quyền sử dụng đất, giá tính thuế giá trị gia tăng đối với nhà, cơ sở hạ tầng bán ra hoặc chuyển nhượng là giá bán, giá chuyển nhượng chưa có thuế, trừ tiền sử dụng đất theo giá đất quy định khi giao đất.

Ví dụ: Công ty Đầu tư và phát triển nhà X được Nhà nước giao 10.000 m2 đất để xây dựng nhà bán, trong đó 3.000 m2 đất sử dụng làm đường nội bộ trong khu quy hoạch không phải nộp tiền sử dụng đất. Tiền sử dụng đất phải nộp Ngân sách Nhà nước theo giá 200.000 đồng/m2. Công ty bán 01 căn nhà có diện tích đất là 50 m2, giá bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất chưa có thuế giá trị gia tăng là 300 triệu đồng (trong đó giá nhà 200 triệu, giá chuyển quyền sử dụng đất là 100 triệu).

Giá tính thuế giá trị gia tăng đối với căn nhà trên là:

300 triệu đồng - (50 m2 x 200.000 đồng/m2) = 290 triệu đồng

Thuế giá trị gia tăng đầu ra là: 290 triệu đồng x 10% = 29 triệu đồng

- Đối với cơ sở kinh doanh được Nhà nước cho thuê đất để đầu tư cho thuê cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế khác theo quy định của Chính phủ để cho thuê lại, giá tính thuế là giá cho thuê chưa có thuế giá trị gia tăng, trừ giá thuê đất phải nộp Ngân sách Nhà nước.

Ví dụ:Công ty Đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Y được Nhà nước cho thuê 500.000 m2 đất trong thời gian 50 năm để xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho thuê. Giá cho thuê đất là 30.000 đồng/m2/năm. Sau khi đầu tư hạ tầng, Công ty Y cho Công ty Z thuê 5.000 m2 trong 20 năm để xây dựng nhà máy sản xuất, giá thuê đất chưa có thuế giá trị gia tăng (chưa kể phí tiện ích công cộng) là 100.000 đồng/m2/năm. Công ty Z trả tiền thuê hạ tầng một năm một lần.

Giá tính thuế giá trị gia tăng đối với tiền thu từ cho thuê hạ tầng một năm là:

(5.000 m2 x 100.000 đ) - (5.000 m2 x 30.000 đ) x 01 năm = 350.000.000 đ.

Thuế giá trị gia tăng là: 350.000.000 đ x 10% = 35.000.000 đ.

11. Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế giá trị gia tăng đối với nhà, hạ tầng gắn với đất được trừ giá đất theo giá do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm bán bất động sản.

12. Đối với dịch vụ đại lý tàu biển, dịch vụ môi giới, ủy thác xuất nhập khẩu và dịch vụ khác hưởng tiền công hoặc tiền hoa hồng, giá tính thuế là tiền công hoặc tiền hoa hồng được hưởng chưa có thuế giá trị gia tăng.

13. Đối với vận tải, bốc xếp, giá tính thuế là giá cước vận tải, bốc xếp chưa có thuế giá trị gia tăng, không phân biệt cơ sở trực tiếp vận tải, bốc xếp hay thuê lại.

14. Đối với hàng hóa, dịch vụ có tính đặc thù dùng các chứng từ như tem bưu chính, vé cước vận tải, vé xổ số kiến thiết... ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá chưa có thuế được xác định như sau:

Giá chưa có thuế giá trị gia tăng

=

Giá thanh toán (tiền bán vé, bán tem...)

1 + (%) thuế suất của hàng hóa, dịch vụ đó

Ví dụ: Một bưu điện tỉnh bán 10.000 con tem, giá mỗi con tem là 400đ thì giá không có thuế và thuế giá trị gia tăng của số tem này được tính như sau:

+ Giá ghi trên tem vé (giá bán có thuế ) = 10.000 x 400 đ = 4.000.000 đ

Giá chưa có thuế giá trị gia tăng

=

4.000.000 đồng

= 3.636.363 đồng

1 + 10%

+ Thuế giá trị gia tăng phải nộp 10% = 3.636.363 đ x 10 % = 363.636 đ

- Đối với dịch vụ du lịch theo hình thức lữ hành, hợp đồng ký với khách hàng theo giá trọn gói (ăn, ở, đi lại) thì giá trọn gói được xác định là giá đã có thuế để tính thuế giá trị gia tăng và doanh thu của cơ sở kinh doanh. Trường hợp giá trọn gói bao gồm các khoản không chịu thuế giá trị gia tăng như chi vé máy bay vận chuyển khách du lịch từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam đi nước ngoài, các chi phí ăn, nghỉ, thăm quan ở nước ngoài (nếu có chứng từ hợp pháp) thì các khoản chi này được tính giảm trừ trong giá (doanh thu) tính thuế giá trị gia tăng.

Ví dụ 1: Công ty Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện hợp đồng du lịch với Thái Lan theo hình thức trọn gói 50 khách du lịch trong 05 ngày tại Việt Nam với tổng số tiền thanh toán là 32.000 USD. Phía Việt Nam phải lo chi phí toàn bộ vé máy bay, ăn, ở, thăm quan theo chương trình thoả thuận; trong đó riêng tiền vé máy bay đi từ Thái Lan sang Việt Nam và ngược lại hết 10.000 USD. Thuế giá trị gia tăng đầu ra theo hợp đồng này được xác định như sau:

+ Doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng là:

32.000 USD - 10.000 USD = 22.000 USD

+ Thuế giá trị gia tăng đầu ra là:

22.000 USD

x 10%

= 2.000 USD

1 + 10%

+ Doanh thu của cơ sở được xác định để tính kết quả kinh doanh là:

32.000 USD - 2.000 USD = 30.000 USD

+ Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ xác định theo quy định để tính thuế giá trị gia tăng phải nộp.

Ví dụ 2: Công ty du lịch Hà Nội thực hiện hợp đồng đưa khách du lịch từ Việt Nam đi Trung Quốc thu theo giá trọn gói là 400 USD/người đi năm ngày, Công ty du lịch Hà Nội phải chi trả cho Công ty du lịch Trung Quốc 300 USD/người thì doanh thu tính thuế của Công ty du lịch Hà Nội là 100 USD/người (400 USD - 300 USD).

15. Đối với dịch vụ cầm đồ, giá tính thuế là tiền phải thu từ dịch vụ này bao gồm tiền lãi phải thu từ cho vay cầm đồ và chênh lệch thu được từ bán hàng cầm đồ {doanh thu bán hàng phát mại trừ (-) phần phải trả khách hàng (nếu có), trừ (-) số tiền cho vay}.

Khoản thu từ dịch vụ này được xác định như trên là giá đã có thuế giá trị gia tăng.

Ví dụ:

Công ty kinh doanh cầm đồ trong kỳ tính thuế có doanh thu cầm đồ là 110 triệu đồng.

+ Thuế giá trị gia tăng đầu ra được xác định bằng:

110 triệu đồng

x 10%

= 10 triệu đồng

1 + 10%

+ Doanh thu cầm đồ của cơ sở được xác định để tính kết quả kinh doanh là:

110 triệu đồng - 10 triệu đồng = 100 triệu đồng

16. Đối với sách, báo, tạp chí bán theo đúng giá phát hành (giá bìa) theo quy định của Luật Xuất bản thì giá bán đó được xác định là giá đã có thuế giá trị gia tăng để tính thuế giá trị gia tăng và doanh thu của cơ sở (đối với loại chịu thuế giá trị gia tăng). Các trường hợp bán không theo giá bìa thì thuế giá trị gia tăng tính trên giá bán ra.

Xuất bản là quá trình xuất bản ấn phẩm được tiến hành từ khâu bản thảo đến khâu phát hành xuất bản phẩm cho người tiêu dùng.

Ví dụ: Nhà xuất bản Văn học bán sách văn học cho Công ty phát hành sách:

Giá in trên bìa (giá có thuế giá trị gia tăng) với giá 6.300 đồng/quyển. Phí phát hành (25%) là: 1.575 đồng/quyển

Giá tính thuế giá trị gia tăng xác định như sau:

+ Trường hợp Nhà xuất bản phát hành xuất bản phẩm qua cơ sở phát hành thì giá tính thuế của xuất bản phẩm được xác định như sau:

Giá tính thuế ở khâu xuất bản

=

Giá ghi trên bìa - Phí phát hành

1 + thuế suất

 

Giá tính thuế giá trị gia tăng ở khâu xuất bản (Nhà xuất bản Văn học) bằng:

6.300 đ - 1.575 đồng

=

4.500 đồng/quyển

1 + 5%

Thuế giá trị gia tăng đầu ra ở khâu xuất bản là:

4.500 đồng/quyển x 5% = 225 đồng/quyển.

Tổng số tiền thanh toán là:

4.500 đồng/quyển + 225 đồng/quyển = 4.725 đồng/quyển

Giá tính thuế ở khâu phát hành (ở Công ty phát hành sách) là:

6.300 đồng

=

6.000 đồng/quyển

1 + 5%

Thuế giá trị gia tăng đầu ra: 6.000 đồng/quyển x 5% = 300 đồng/quyển.

Thuế giá trị gia tăng phải nộp ở khâu phát hành sách là:

300 đồng/quyển - 225 đồng/quyển = 75 đồng/quyển

(Giả định không có thuế giá trị gia tăng đầu vào khác).

+ Trường hợp Nhà xuất bản xuất bản phẩm trực tiếp cho người sử dụng, giá tính thuế giá trị gia tăng của hoạt động xuất bản được xác định như sau:

Giá tính thuế ở khâu xuất bản

=

Giá ghi trên bìa

1 + thuế suất

Trường hợp Nhà xuất bản ký gửi bán xuất bản phẩm đúng giá (đại lý) thì việc sử dụng hoá đơn chứng từ, kê khai nộp thuế của Nhà xuất bản, cơ sở nhận ký gửi thực hiện như trường hợp bán hàng hoá thông qua đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng.

Giá bán ghi trên bìa trừ chi phí phát hành không được thấp hơn giá thành trang tiêu chuẩn. Trường hợp giá bán ghi trên bìa trừ chi phí phát hành thấp hơn giá thành trang tiêu chuẩn, cơ sở xuất bản phát sinh thuế giá trị gia tăng đầu vào lớn hơn thuế giá trị gia tăng đầu ra thì không được hoàn thuế.

17. Đối với hoạt động in, giá tính thuế là tiền công in. Trường hợp cơ sở in thực hiện các hợp đồng in, giá thanh toán bao gồm cả tiền công in và tiền giấy in thì giá tính thuế bao gồm cả tiền giấy.

18. Đối với dịch vụ đại lý giám định, đại lý xét bồi thường, đại lý đòi người thứ ba của dịch vụ kinh doanh bảo hiểm, giá tính thuế là tiền công hoặc tiền hoa hồng được hưởng, bao gồm cả khoản phí tổn cơ sở kinh doanh bảo hiểm thu được.

II. THUẾ SUẤT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG:

Thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ được áp dụng như sau:

1. Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả hàng gia công xuất khẩu, hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng xuất khẩu (trừ dịch vụ du lịch lữ hành ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ tín dụng, đầu tư tài chính, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài và hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điểm 23, Điểm 27, Mục II, Phần A Thông tư này).

- Hàng hóa xuất khẩu bao gồm xuất khẩu ra nước ngoài, bán cho doanh nghiệp khu chế xuất và các trường hợp được coi là xuất khẩu theo quy định của Chính phủ, như:

+ Hàng hoá gia công xuất khẩu chuyển tiếp theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài. Trường hợp này áp dụng đối với hàng gia công xuất khẩu của cơ sở trực tiếp gia công theo hợp đồng gia công cơ sở đã ký với bên nước ngoài (gọi là cơ sở giao hàng), nhưng hàng gia công chưa được xuất khẩu ra nước ngoài mà được giao chuyển tiếp cho cơ sở khác ở trong nước (gọi là cơ sở nhận hàng) theo chỉ định của bên nước ngoài để tiếp tục gia công thành sản phẩm hoàn chỉnh theo hợp đồng gia công đã ký với nước ngoài, tiền gia công do bên nước ngoài trực tiếp thanh toán.

+ Hàng hóa uỷ thác gia công xuất khẩu. Trường hợp này là trường hợp cơ sở ký hợp đồng gia công trực tiếp với nước ngoài nhưng ký hợp đồng giao lại cho cơ sở khác gia công. Cơ sở ký hợp đồng gia công trực tiếp với nước ngoài chỉ hưởng hoa hồng trên tiền gia công.

+ Hàng hóa do doanh nghiệp tại Việt Nam sản xuất bán cho nước ngoài nhưng hàng hóa được giao cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ định của phía nước ngoài (gọi tắt là hàng hóa xuất khẩu tại chỗ) để làm nguyên liệu sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu.

+ Hàng hóa xuất khẩu để bán tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài.

- Dịch vụ xuất khẩu là dịch vụ đã được cung cấp trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và được tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Các loại hàng hóa, dịch vụ bán cho doanh nghiệp chế xuất và khu chế xuất: bảo hiểm; ngân hàng; bưu chính viễn thông; tư vấn; kiểm toán, kế toán; vận tải, bốc xếp; cho thuê nhà, văn phòng, kho bãi; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân người lao động; xăng dầu bán cho phương tiện vận tải không được coi là xuất khẩu để áp dụng thuế suất 0% mà phải chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng theo thuế suất quy định như đối với hàng hóa tiêu dùng tại Việt Nam.

2. Mức thuế suất 5% đối với hàng hóa, dịch vụ:

2.1. Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt do các cơ sở sản xuất, kinh doanh nước khai thác từ nguồn nước tự nhiên cung cấp cho các đối tượng sử dụng nước (trừ nước sạch do các cơ sở tự khai thác ở nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở vùng đó không thuộc diện chịu thuế và các loại nước giải khát thuộc nhóm thuế suất 10%).

2.2. Phân bón, quặng để sản xuất phân bón; thuốc trừ sâu bệnh và chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng.

- Phân bón bao gồm phân hữu cơ và phân vô cơ như: phân lân, phân đạm (urê), phân NPK, phân đạm hỗn hợp, phân phốt phát, bồ tạt, phân vi sinh v.v...

- Quặng làm nguyên liệu để sản xuất ra phân bón như quặng Apatít dùng để sản xuất phân lân, đất bùn làm phân vi sinh.

- Các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh, thuốc diệt dán, diệt chuột, diệt mối, mọt, côn trùng, thuốc trừ nấm, trừ cỏ, thuốc hạn chế hoặc kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng v.v...

2.3. Thiết bị, máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế như các loại máy soi, chiếu, chụp dùng để khám, chữa bệnh, các thiết bị, dụng cụ chuyên dùng để mổ, điều trị vết thương, ô tô cứu thương, dụng cụ đo huyết áp, tim, mạch, bơm kim tiêm, truyền máu, dụng cụ phòng tránh thai và các dụng cụ, thiết bị chuyên dùng cho y tế khác; bông, băng, gạc y tế và băng vệ sinh y tế.

2.4. Thuốc chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi (bao gồm cả vắc - xin, sinh phẩm, nước cất để pha chế thuốc tiêm); sản phẩm hoá dược, dược liệu là nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh, phòng bệnh theo Danh mục mặt hàng quy định tại Phụ lục số 1 và 2 ban hành kèm theo Thông tư này.

2.5. Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập là các loại mô hình, hình vẽ, thước kẻ, bảng, phấn, com pa dùng để giảng dạy, học tập và các loại thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho giảng dạy, nghiên cứu, thí nghiệm.

2.6. In các loại sản phẩm thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điểm 13, Mục II, Phần A Thông tư này (trừ in tiền và các chứng chỉ có giá trị như tiền).

2.7. Đồ chơi cho trẻ em.

2.8. Các loại sách (trừ sách không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điểm 13, Mục II, Phần A Thông tư này).

2.9. Băng từ, đĩa đã ghi hoặc chưa ghi chương trình.

2.10. Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế làm sạch, ướp đông, phơi sấy khô ở khâu kinh doanh thương mại (trừ các đối tượng quy định tại Điểm 2, Mục II, Phần A Thông tư này).

2.11. Thực phẩm tươi sống, lương thực; lâm sản (trừ gỗ, măng) chưa qua chế biến ở khâu kinh doanh thương mại.

Lương thực bao gồm thóc, gạo, ngô, khoai, sắn, lúa mỳ; bột gạo, ngô, khoai, sắn, mỳ.

Thực phẩm tươi sống là các loại thực phẩm chưa qua chế biến, chỉ sơ chế dưới dạng làm sạch, bóc vỏ, cắt lát, đông lạnh, phơi khô mà qua sơ chế vẫn còn là thực phẩm tươi sống như thịt gia súc, gia cầm, tôm, cua, cá, và các sản phẩm thuỷ, hải sản khác.

Lâm sản chưa qua chế biến là các loại lâm sản khai thác từ rừng tự nhiên thuộc nhóm: song, mây, tre, nứa, nấm, mộc nhĩ; rễ, lá, hoa, cây làm thuốc, nhựa cây và các loại lâm sản khác.

2.12. Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, gồm gỉ đường, bã mía, bã bùn.

2.13. Sản phẩm bằng đay, cói, tre, song, mây, nứa, lá là các loại sản phẩm được sản xuất, chế biến từ nguyên liệu chính là đay, cói, tre, song, mây nứa, lá như: thảm đay, sợi đay, bao đay, thảm sơ dừa, chiếu sản xuất bằng đay, cói, dây thừng, dây buộc làm bằng tre nứa, xơ dừa; rèm, mành bằng tre, trúc, nứa, chổi tre, nón lá .v.v...

2.14. Bông sơ chế từ bông trồng trong nước là bông đã được bỏ vỏ, hạt và phân loại (bông nhập khẩu đã qua sơ chế, phân loại không thuộc nhóm này).

2.15. Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác bao gồm các loại đã hoặc chưa được chế biến tổng hợp như cám, bã khô lạc, bột cá, bột xương v.v...

2.16. Dịch vụ khoa học và công nghệ bao gồm các hoạt động ứng dụng, hướng dẫn về khoa học, kỹ thuật cụ thể sau đây:

- Xử lý số liệu, tính toán, phân tích phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;

- Lập báo cáo nghiên cứu khả thi và tiền khả thi, báo cáo đánh giá tác động môi trường;

- Hướng dẫn và tổ chức triển khai thực nghiệm để nhằm tạo ra công nghệ mới và sản phẩm mới.

2.17. Dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp bao gồm các hoạt động như cầy, bừa đất sản xuất nông nghiệp; đào, đắp, nạo, vét kênh, mương, ao, hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp; nuôi, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu, bệnh; thu, hái, sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp.

2.18. Than đá, than cám, than cốc, than bùn và than đóng cục, đóng bánh.

2.19. Đất, đá, cát, sỏi (không bao gồm các sản phẩm được làm từ đất, đá, cát, sỏi như đá xẻ, đá ốp lát, ganitô).

2.20. Hoá chất cơ bản gồm các loại hoá chất ghi trong Danh mục tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư này.

2.21. Sản phẩm cơ khí (trừ sản phẩm cơ khí tiêu dùng) bao gồm:

- Các loại máy móc, thiết bị như: máy nổ, máy phay, máy tiện, máy bào, máy cán kéo, đột, dập; các loại thiết bị đồng bộ, thiết bị rời, thiết bị đo điện, ổn áp trên 50 KVA, thiết bị đo nước, kết cấu dầm cầu, khung kho và sản phẩm kết cấu bằng kim loại; các loại ô tô (trừ ô tô chịu thuế TĐB), tầu, thuyền các loại, phương tiện vận tải khác; các loại phụ tùng, bán thành phẩm của các loại sản phẩm nói trên làm bằng kim loại (kể cả phụ tùng, bán thành phẩm của ô tô chịu thuế TĐB).

- Các loại công cụ sản xuất như máy khoan, máy cơ khí nông nghiệp nhỏ, máy cưa các loại, máy bào, máy tuốt lúa, máy bơm nước có công suất trên 10 m3/h; máy móc, công cụ làm đất và thu hoạch.

- Các sản phẩm là công cụ sản xuất nhỏ như: kìm, búa, cưa, đục, xẻng, cuốc, liềm hái, bộ đồ nghề là sản phẩm cơ khí, đinh.

- Lưới rào bằng thép từ B27 đến B41, dây thép gai, tấm lợp bằng kim loại, dây cáp chịu lực bằng kim loại, băng tải bằng kim loại.

2.22. Khuôn đúc các loại bao gồm các loại khuôn dùng làm công cụ để sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá được tạo hình bằng khuôn như khuôn đúc các chi tiết máy, khuôn để sản xuất các loại ống.

2.23. Vật liệu nổ bao gồm thuốc nổ, dây cháy chậm, kíp nổ và các dạng được chế biến thành sản phẩm nổ chuyên dụng nhưng không thay đổi tính năng tác dụng của vật liệu nổ.

2.24. Đá mài.

2.25. Giấy in báo.

2.26. Bình bơm thuốc trừ sâu.

2.27. Mủ cao su sơ chế như mủ cờ rếp, mủ tờ, mủ bún, mủ cốm, mủ đông.

2.28. Nhựa thông sơ chế.

2.29. Ván ép nhân tạo được sản xuất từ các nguyên liệu như tre, nứa, bột gỗ, dăm gỗ, sợi gỗ, mùn cưa, bã mía, trấu... được ép thành tấm, không bao gồm sản phẩm gỗ dán.

2.30. Sản phẩm bê tông công nghiệp, gồm dầm cầu bê tông, dầm và khung nhà bê tông, cọc bê tông, cột điện bê tông, ống cống tròn bê tông và hộp bê tông các loại, pa-nen và các loại cấu kiện bê tông cốt thép đúc sẵn phi tiêu chuẩn (trừ gạch bê tông), bê tông thương phẩm (vữa bê tông).

2.31. Lốp và bộ xăm lốp cỡ từ 900 - 20 trở lên.

2.32. Ống thuỷ tinh trung tính (ống tuýp và ống được định hình như ống tiêm để đựng thuốc tiêm, ống nghiệm).

2.33. Lưới, dây giềng và sợi để đan lưới đánh cá bao gồm các loại lưới đánh cá, các loại sợi, dây giềng loại chuyên dùng để đan lưới đánh cá không phân biệt nguyên liệu sản xuất.

2.34. Sản phẩm luyện, cán, kéo kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý, trừ vàng nhập khẩu quy định tại Điểm 26, Mục II, Phần A Thông tư này.

Sản phẩm luyện cán, kéo, kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý bao gồm những sản phẩm trực tiếp của công nghiệp luyện cán kéo ở dạng nguyên liệu hoặc sản phẩm, như: sản phẩm kim loại ở dạng thỏi, thanh, tấm, dây.

Những sản phẩm luyện cán kéo đã sản xuất chế biến thành các sản phẩm khác thì thuế suất được xác định theo mặt hàng.

2.35. Máy xử lý dữ liệu tự động và các bộ phận, phụ tùng của máy (bao gồm cả máy vi tính các loại và các bộ phận của máy vi tính, máy in chuyên dùng cho máy vi tính), trừ bộ phận lưu giữ điện.

2.36. Duy tu, sửa chữa, phục chế di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng, trừ hoạt động quy định tại Điểm 15, Mục II, Phần A Thông tư này.

2.37. Vận tải, bốc xếp bao gồm hoạt động vận tải hàng hoá, hành lý, hành khách và bốc xếp hàng hoá, hành lý, không phân biệt cơ sở trực tiếp vận tải hay thuê lại, trừ hoạt động môi giới, đại lý chỉ hưởng hoa hồng.

2.38. Nạo vét luồng, lạch, cảng sông, cảng biển; hoạt động trục vớt, cứu hộ.

2.39. Phát hành và chiếu phim vi-đi-ô.

3. Mức thuế suất 10% đối với hàng hóa, dịch vụ:

3.1. Dầu mỏ, khí đốt, quặng và sản phẩm khai khoáng khác.

3.2. Điện thương phẩm do các cơ sở sản xuất, kinh doanh điện bán ra.

3.3. Sản phẩm điện tử.

3.4. Sản phẩm cơ khí tiêu dùng.

3.5. Đồ điện tiêu dùng.

3.6. Sản phẩm hóa chất (trừ hoá chất cơ bản hướng dẫn tại Điểm 2.20, Mục II, Phần B Thông tư này), mỹ phẩm;

3.7. Dây dẫn điện, dây điện thoại, các loại dây dẫn khác (trừ các loại dây là sản phẩm mới qua công đoạn cán, kéo quy định tại Điểm 2.34, Mục II, Phần B Thông tư này).

3.8. Que hàn.

3.9. Sợi, vải, sản phẩm may mặc, thêu ren; bỉm trẻ em; băng vệ sinh phụ nữ.

3.10. Giấy và sản phẩm bằng giấy (trừ giấy in báo hướng dẫn tại Điểm 2.25, Mục II, Phần B Thông tư này);

3.11. Sản phẩm bằng da, giả da.

3.12. Sữa, bánh, kẹo, nước giải khát và các loại thực phẩm chế biến khác, trừ các loại thực phẩm thuế suất 5%.

3.13. Sản phẩm gốm, sứ, thủy tinh, cao su, nhựa; gỗ và sản phẩm bằng gỗ; xi măng, gạch, ngói và vật liệu xây dựng khác (trừ các sản phẩm thuộc nhóm thuế suất 5%).

3.14. Xây dựng, lắp đặt.

3.15. Nhà, cơ sở hạ tầng do các cơ sở được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để đầu tư xây dựng nhà, cơ sở hạ tầng để bán hoặc chuyển nhượng.

3.16. Cho thuê cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các cơ sở được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật để cho thuê trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế khác theo quy định của Chính phủ.

3.17. Dịch vụ bưu điện, bưu chính, viễn thông và Internet (trừ dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet phổ cập theo chương trình của Chính phủ hướng dẫn tại Điểm 25, Mục II, Phần A Thông tư này).

3.18. Cho thuê nhà, văn phòng, kho tàng, bến bãi, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải.

3.19. Dịch vụ tư vấn pháp luật và các dịch vụ tư vấn khác.

3.20. Dịch vụ kiểm toán, kế toán, khảo sát, thiết kế; bảo hiểm, kể cả môi giới bảo hiểm (trừ loại bảo hiểm không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điểm 8, Mục II, Phần A Thông tư này).

3.21. Chụp ảnh, in ảnh, phóng ảnh; in băng, sang băng, cho thuê băng; sao chụp; quay vi-đi-ô.

3.22. Dịch vụ khách sạn, du lịch, ăn uống

3.23. Hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

3.24. Vàng bạc, đá quý (trừ vàng nhập khẩu quy định tại Điểm 26, Mục II, Phần A Thông tư này).

3.25. Đại lý tàu biển.

3.26. Dịch vụ môi giới.

3.27. Các loại hàng hóa, dịch vụ khác không quy định tại Mục II, Phần A và Mục II, Phần B Thông tư này.

Các mức thuế suất thuế giá trị gia tăng quy định trên đây được áp dụng thống nhất cho từng loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại. Hàng hóa không quy định tại Mục II, phần A; điểm 1, 2 Mục II, Phần B Thông tư này đều áp dụng thuế suất 10%.

Ví dụ: Hàng may mặc áp dụng thuế suất là 10% thì mặt hàng này ở khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại đều áp dụng thuế suất 10%.

Dịch vụ sửa chữa, bảo hành áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%. Riêng sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải là sản phẩm cơ khí áp dụng thuế suất 5%.

Ví dụ: Sửa chữa tàu biển áp dụng thuế suất của sản phẩm tàu biển là 5%.

Phế liệu, phế phẩm được thu hồi để tái chế, sử dụng lại khi bán ra áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng theo thuế suất của mặt hàng đó.

Ví dụ: Sắt thép phế liệu do các cơ sở thu hồi khi bán ra áp dụng thuế suất 5%; nhựa phế thải thu hồi khi bán ra áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng theo thuế suất của sản phẩm nhựa là 10%.

III. PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Thuế giá trị gia tăng cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo một trong hai phương pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ thì cơ sở phải hạch toán riêng hoạt động kinh doanh này để tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng.

Đối tượng áp dụng và việc xác định thuế phải nộp theo từng phương pháp như sau:

1. Phương pháp khấu trừ thuế:

1.1. Đối tượng áp dụng là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các đơn vị, tổ chức kinh doanh khác, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng nói tại Điểm 2, Mục này.

1.2. Xác định thuế giá trị gia tăng phải nộp:

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp

=

Thuế giá trị gia tăng đầu ra

-

Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ

Trong đó:

a) Thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng (=) giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với (x) thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó.

Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Khi lập hoá đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế giá trị gia tăng và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá chưa có thuế và thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ.

Ví dụ: Doanh nghiệp bán sắt, thép, giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng đối với sắt F 6 là: 4.600.000 đồng/tấn; thuế giá trị gia tăng 5% bằng 230.000 đồng/tấn, nhưng khi bán có một số hoá đơn doanh nghiệp chỉ ghi giá bán là 4.800.000 đồng/tấn thì thuế giá trị gia tăng tính trên doanh số bán được xác định bằng: 4.800.000 đ/tấn x 5% = 240.000 đ/tấn thay vì tính trên giá chưa có thuế là 4.600.000 đ/tấn và doanh thu được xác định lại bằng 4.560.000 đồng (= 4.800.000đ - 240.000 đ). Doanh nghiệp mua thép cũng không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hoá đơn mua không ghi thuế giá trị gia tăng này.

b) Thuế giá trị gia tăng đầu vào bằng (=) tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng, số thuế giá trị gia tăng ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì cơ sở được căn cứ vào giá đã có thuế và phương pháp tính nêu tại Điểm 14, Mục I, Phần B Thông tư này để xác định giá không có thuế và thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ.

Ví dụ: Trong kỳ, Công ty A thanh toán dịch vụ đầu vào được tính khấu trừ là loại đặc thù:

Tổng giá thanh toán 110 triệu đồng (giá có thuế giá trị gia tăng), dịch vụ này chịu thuế là 10%, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tính như sau:

110 triệu

x 10%

= 10 triệu đồng

1 + 10%

Giá chưa có thuế là 100 triệu đồng, thuế = 10 triệu đồng là 10 triệu đồng.

c) Xác định thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ:

- Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ là thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng.

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế giá trị gia tăng thì chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng; số thuế giá trị gia tăng đầu vào không được khấu trừ được tính vào chi phí của hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng.

Đối với tài sản cố định mua vào sử dụng riêng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế thì thuế giá trị gia tăng của tài sản cố định được tính vào nguyên giá của tài sản cố định.

Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế giá trị gia tăng. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ sử dụng chung cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế giá trị gia tăng nhưng cơ sở không hạch toán riêng được thuế đầu vào được khấu trừ, thì thuế đầu vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán ra.

Ví dụ 1: Doanh nghiệp A sử dụng điện trong tháng là 5.000 KWh, trong đó dùng cho sản xuất xi măng là 4.000 KWh, dùng cho khu tập thể cán bộ, công nhân viên là 1.000 KWh (cơ sở hạch toán riêng được số điện dùng cho cán bộ, công nhân viên) thì cơ sở chỉ được tính khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của điện dùng cho sản xuất xi măng, cụ thể như sau:

Thuế giá trị gia tăng đầu vào của điện được khấu trừ trong tháng là:

4.000 KWh x 700 đ/KWh x 10% = 280.000 đồng

Nếu hàng hoá, dịch vụ mua vào không sử dụng phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì thuế giá trị gia tăng đầu vào được tính vào chi phí của hoạt động đó.

Ví dụ 2: Trong kỳ tính thuế ở một doanh nghiệp sản xuất mặt hàng đạn súng để cung cấp cho Quốc phòng (mặt hàng không chịu thuế giá trị gia tăng) và pháo hoa (mặt hàng chịu thuế giá trị gia tăng) có chi phí mua một số loại nguyên vật liệu, nhiên liệu dùng chung cho sản xuất hai loại sản phẩm này nhưng không hạch toán được riêng dùng cho sản xuất từng loại sản phẩm là bao nhiêu thì thuế đầu vào của các vật tư này được tính khấu trừ như sau:

Tổng giá trị vật tư mua vào là 2.500 triệu đồng (giá không có thuế giá trị gia tăng).

Thuế giá trị gia tăng đầu vào tổng hợp theo hóa đơn giá trị gia tăng đầu vào là 250 triệu đồng, trong đó loại vật tư sử dụng chung không hạch toán riêng được là 500 triệu đồng (chưa có thuế giá trị gia tăng), thuế giá trị gia tăng là 50 triệu đồng.

Doanh số bán chưa có thuế giá trị gia tăng hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng là 800 triệu đồng.

Doanh số bán của hàng hóa không chịu thuế giá trị gia tăng là 3.200 triệu đồng.

Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ của vật tư sử dụng chung được tính khấu trừ như sau:

Xác định tỷ lệ doanh số hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng trên tổng doanh số hàng bán ra:

800 triệu đồng/4.000 triệu đồng = 20 %

Thuế đầu vào được khấu trừ tương ứng với tỷ lệ (%) này là:

50 triệu đồng x 20 % = 10 triệu đồng

- Đối với cơ sở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp xuất khẩu sản phẩm do mình trực tiếp nuôi, trồng, đánh bắt khai thác, thì chỉ được khấu trừ thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng trực tiếp cho giai đoạn khai thác sau giai đoạn xây dựng cơ bản; thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho giai đoạn xây dựng cơ bản cơ sở sản xuất không được tính khấu trừ, phải tính vào nguyên giá. Trường hợp cơ sở vừa bán sản phẩm trong nước vừa xuất khẩu sản phẩm, cơ sở phải phân bổ thuế đầu vào theo quy định trên.

- Hàng hoá mua vào bị tổn thất do thiên tai, hoả hoạn, bị mất, xác định do trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân phải bồi thường thì thuế giá trị gia tăng đầu vào của số hàng hoá này được tính vào giá trị hàng hoá tổn thất phải bồi thường, không được tính vào số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ khi kê khai thuế giá trị gia tăng phải nộp.

- Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho. Trường hợp hoá đơn giá trị gia tăng hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh trong tháng nhưng chưa kê khai kịp trong tháng thì được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau, thời gian tối đa là 03 tháng kể từ thời điểm kê khai của tháng phát sinh.

Văn phòng Tổng công ty không trực tiếp hoạt động kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc như: Bệnh viện, Trạm xá, Nhà nghỉ điều dưỡng, Viện, Trường đào tạo... không thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng thì không được khấu trừ hay hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này.

Trường hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế giá trị gia tăng riêng cho các hoạt động này.

Ví dụ: Văn phòng Tổng công ty A không trực tiếp sản xuất, kinh doanh, sử dụng kinh phí do các cơ sở trực thuộc đóng góp để hoạt động nhưng Văn phòng Tổng công ty có cho thuê nhà (văn phòng) phần không sử dụng hết thì Văn phòng Tổng công ty phải hạch toán, kê khai nộp thuế riêng cho hoạt động cho thuê văn phòng. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của Văn phòng Tổng công ty không được khấu trừ hay hoàn thuế. Văn phòng Tổng công ty phải sử dụng kinh phí nộp cấp trên để thanh toán.

d) Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào phải có đủ điều kiện và các thủ tục sau:

d1) Hợp đồng bán hàng hoá, gia công hàng hóa (đối với trường hợp gia công hàng hóa), cung ứng dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu là hợp đồng uỷ thác xuất khẩu và biên bản thanh lý hợp đồng uỷ thác xuất khẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc biên bản đối chiếu công nợ định kỳ giữa bên uỷ thác xuất khẩu và bên nhận uỷ thác xuất khẩu có ghi rõ: số lượng, chủng loại sản phẩm, giá trị hàng uỷ thác đã xuất khẩu; số, ngày hợp đồng xuất khẩu của bên nhận uỷ thác xuất khẩu ký với nước ngoài; số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng với nước ngoài của bên nhận uỷ thác xuất khẩu; số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán của bên nhận uỷ thác xuất khẩu thanh toán cho bên uỷ thác xuất khẩu; số, ngày tờ khai Hải quan hàng hóa xuất khẩu của bên nhận uỷ thác xuất khẩu.

d2) Tờ khai hải quan về hàng xuất khẩu có xác nhận của cơ quan hải quan đã xuất khẩu.

Đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì phải có biên bản thanh lý hợp đồng uỷ thác xuất khẩu hoặc biên bản đối chiếu công nợ định kỳ giữa bên uỷ thác xuất khẩu và bên nhận uỷ thác xuất khẩu đã nêu ở Điểm d1 nêu trên.

d3) Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thanh toán theo quy định sau đây:

- Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng.

Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ ngân hàng của bên nhập khẩu sang ngân hàng của bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp uỷ thác xuất khẩu thì bên nhận uỷ thác xuất khẩu phải thanh toán với nước ngoài qua ngân hàng.

- Các trường hợp thanh toán dưới đây cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng:

+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được thanh toán cấn trừ vào khoản tiền vay nợ nước ngoài cơ sở kinh doanh phải có đủ điều kiện, thủ tục, hồ sơ như sau:

* Hợp đồng vay nợ (đối với những khoản vay tài chính có thời hạn dưới 01 năm); hoặc giấy xác nhận đăng ký khoản vay của ngân hàng nhà nước Việt Nam (đối với những khoản vay trên 01 năm).

* Chứng từ chuyển tiền của phía nước ngoài vào Việt Nam qua ngân hàng.

Phương thức thanh toán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cấn trừ vào khoản nợ vay nước ngoài phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu.

* Bản xác nhận của phía nước ngoài về cấn trừ khoản nợ vay.

* Trường hợp sau khi cấn trừ giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu vào khoản nợ vay của nước ngoài có chênh lệch, thì số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại điểm này.

+ Trường hợp cơ sở xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng nhưng phía nước ngoài uỷ quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán thì việc thanh toán theo uỷ quyền phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (hoặc phụ lục hợp đồng nếu có).

+ Trường hợp phía nước ngoài thanh toán từ tài khoản tiền gửi vãng lai tại Việt Nam phải thanh toán qua ngân hàng. Chứng từ thanh toán là Giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản vãng lai của người mua phía nước ngoài.

- Các trường hợp thanh toán khác theo quy định của Chính phủ:

+ Trường hợp xuất khẩu lao động thu tiền trực tiếp của người lao động thì phải có chứng từ thu tiền mặt của người lao động;

+ Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hóa để bán tại hội chợ, triển lãm ở nước ngoài, nếu thu và chuyển về nước bằng tiền mặt ngoại tệ tại nước tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại cơ sở kinh doanh phải có chứng từ kê khai với cơ quan Hải quan về tiền ngoại tệ thu được do bán hàng hóa chuyển về nước và chứng từ nộp tiền vào ngân hàng tại Việt Nam;

+ Trường hợp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ để trả nợ nước ngoài cho Chính phủ thì phải có xác nhận của ngân hàng ngoại thương về lô hàng xuất khẩu đã được phía nước ngoài chấp nhận trừ nợ hoặc xác nhận bộ chứng từ đã được gửi cho phía nước ngoài để trừ nợ; chứng từ thanh toán thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.

+ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng hàng là trường hợp xuất khẩu hàng hóa (kể cả gia công hàng hóa xuất khẩu), dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài (gọi tắt là phía nước ngoài) nhưng việc thanh toán giữa doanh nghiệp Việt Nam và phía nước ngoài bằng hình thức bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, tiền công gia công hàng hóa xuất khẩu với giá trị hàng hóa, dịch vụ mua của phía nước ngoài.

Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng hàng phải có thêm thủ tục hồ sơ như sau:

* Phương thức thanh toán đối với hàng xuất khẩu bằng hàng phải được quy định trong Hợp đồng xuất khẩu.

* Hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ của phía nước ngoài;

* Tờ khai hải quan về hàng hóa nhập khẩu thanh toán bù trừ với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

* Văn bản xác nhận với phía nước ngoài về việc số tiền thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ mua của phía nước ngoài.

* Trường hợp sau khi thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu có chênh lệch, số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua Ngân hàng. Chứng từ thanh toán qua Ngân hàng theo hướng dẫn tại Điểm này.

+ Các hình thức thanh toán khác theo quy định của Chính phủ.

d4) Hóa đơn giá trị gia tăng bán hàng hóa, dịch vụ hoặc xuất trả hàng gia công cho nước ngoài, doanh nghiệp chế xuất.

đ) Điều kiện, thủ tục, hồ sơ để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với một số trường hợp hàng hoá được coi như xuất khẩu:

đ1) Hàng hoá gia công xuất khẩu chuyển tiếp theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài:

- Hợp đồng gia công xuất khẩu và các phụ kiện hợp đồng (nếu có) ký với nước ngoài, trong đó ghi rõ cơ sở nhận hàng tại Việt Nam.

- Hoá đơn giá trị gia tăng ghi rõ giá gia công và số lượng hàng gia công trả nước ngoài (theo giá quy định trong hợp đồng ký với nước ngoài) và tên cơ sở nhận hàng theo chỉ định của phía nước ngoài;

- Phiếu chuyển giao sản phẩm gia công chuyển tiếp (gọi tắt là Phiếu chuyển tiếp) có đủ xác nhận của bên giao, bên nhận sản phẩm gia công chuyển tiếp và xác nhận của Hải quan quản lý hợp đồng gia công của bên giao, bên nhận.

- Hàng hóa gia công cho nước ngoài phải thanh toán qua Ngân hàng theo hướng dẫn tại Điểm d3 Mục này.

Về thủ tục giao nhận sản phẩm gia công chuyển tiếp và Phiếu chuyển tiếp thực hiện theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan.

Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng gia công với nước ngoài 200.000 đôi đế giầy xuất khẩu. Giá gia công là 800 triệu đồng. Hợp đồng ghi rõ giao đế giầy cho Công ty B tại Việt nam để sản xuất ra giầy hoàn chỉnh.

Trường hợp này Công ty A thuộc đối tượng gia công hàng xuất khẩu chuyển tiếp. Khi lập chứng từ chuyển giao sản phẩm đế giầy cho Công ty B, Công ty A ghi rõ số lượng, chủng loại, quy cách sản phẩm đã giao, toàn bộ doanh thu gia công đế giầy 800 triệu đồng nhận được tính thuế giá trị gia tăng là 0%.

đ2) Hàng hoá uỷ thác gia công xuất khẩu:

- Hợp đồng gia công hàng hóa xuất khẩu ký với cơ sở trực tiếp ký hợp đồng gia công hàng xuất khẩu với nước ngoài. Cơ sở trực tiếp ký hợp đồng gia công với nước ngoài chỉ được hưởng hoa hồng uỷ thác gia công xuất khẩu.

- Biên bản thanh lý hợp đồng uỷ thác gia công xuất khẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc biên bản đối chiếu công nợ định kỳ giữa cơ sở trực tiếp ký hợp đồng gia công với nước ngoài và cơ sở trực tiếp gia công hàng hóa xuất khẩu có ghi rõ: số, ngày hợp đồng gia công hàng hóa ký với nước ngoài; số lượng, chủng loại sản phẩm gia công xuất khẩu, tiền gia công phải thanh toán, đã thanh toán; số, ngày tờ khai hải quan của hàng hóa gia công đã xuất khẩu; số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng của phía nước ngoài thanh toán cho cơ sở trực tiếp ký hợp đồng gia công với nước ngoài; số, ngày, số tiền ghi trên chứng từ thanh toán của cơ sở ký hợp đồng gia công trực tiếp với nước ngoài với cơ sở trực tiếp gia công hàng hóa xuất khẩu.

- Hàng hóa gia công cho nước ngoài phải thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại Điểm d3 Mục này.

- Hóa đơn giá trị gia tăng của cơ sở trực tiếp gia công hàng hóa xuất khẩu lập cho hàng hóa gia công xuất khẩu.

Ví dụ: Công ty X thực hiện hợp đồng gia công hàng may mặc cho nước ngoài may 100.000 bộ quần áo với tiền công là 200 triệu đồng, nhưng hợp đồng này do Công ty xuất nhập khẩu Y ký hợp đồng gia công trực tiếp với nước ngoài, hưởng hoa hồng bằng 5% trên tiền công.

Trường hợp này Công ty X thuộc đối tượng uỷ thác gia công hàng xuất khẩu. Khi lập hoá đơn xuất hàng giao cho Công ty Y, Công ty X được ghi thuế suất 0%, toàn bộ doanh thu gia công hàng xuất khẩu 200 triệu nhận được tính thuế giá trị gia tăng là 0%. Tiền hoa hồng xuất khẩu Công ty Y phải tính thuế giá trị gia tăng theo quy định.

đ3) Hàng hóa do doanh nghiệp tại Việt Nam sản xuất bán cho nước ngoài nhưng hàng hóa được giao cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ định của phía nước ngoài (gọi tắt là hàng hóa xuất khẩu tại chỗ) để làm nguyên liệu sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu.

- Hợp đồng bán hàng hóa ký với nước ngoài, trong đó ghi rõ mặt hàng, số lượng, giá trị, tên và địa chỉ của doanh nghiệp nhận hàng tại Việt Nam.

- Tờ khai Hải quan hàng hoá xuất khẩu - nhập khẩu tại chỗ có xác nhận của cơ quan Hải quan về hàng hóa đã giao cho doanh nghiệp tại Việt Nam theo chỉ định của phía nước ngoài.

- Hàng hóa bán cho thương nhân nước ngoài nhưng giao hàng tại Việt Nam phải thanh toán qua ngân hàng bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo hướng dẫn tại Điểm d3, Mục này.

- Hoá đơn giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu tại chỗ, ghi rõ tên người mua phía nước ngoài, tên doanh nghiệp nhận hàng và địa điểm giao hàng tại Việt Nam.

- Hàng hoá xuất khẩu tại chỗ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải phù hợp với quy định tại giấy phép đầu tư.

Các trường hợp có hàng hóa xuất khẩu hoặc được coi như xuất khẩu quy định tại điểm này nếu đã có xác nhận của cơ quan Hải quan (đối với hàng hóa xuất khẩu) nhưng không có đủ các thủ tục, hồ sơ còn lại nêu trên thì cơ sở kinh doanh không phải tính thuế giá trị gia tăng đầu ra nhưng không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào mà tính vào chi phí. Đối với dịch vụ xuất khẩu nếu không đủ 1 trong các thủ tục nêu trên thì cơ sở kinh doanh không phải tính thuế đầu ra và không được khấu trừ thuế đầu vào. Riêng đối với trường hợp quy định tại Điểm đ1, đ3 không có đủ một trong các thủ tục, hồ sơ quy định tại các điểm này thì cơ sở phải tính và nộp thuế giá trị gia tăng như hàng hóa tiêu thụ nội địa.

e) Đối với hộ kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng được chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, được khấu trừ thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh kể từ tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào trước tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế thì không được tính khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

1.3. Căn cứ để xác định số thuế đầu vào được khấu trừ quy định trên đây là số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào; chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu; chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Cơ sở kinh doanh không được tính khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với trường hợp: hoá đơn giá trị gia tăng sử dụng không đúng quy định của pháp luật như: hóa đơn giá trị gia tăng không ghi thuế giá trị gia tăng (trừ trường hợp đặc thù được dùng hoá đơn giá trị gia tăng ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng); không ghi hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán nên không xác định được người bán; hóa đơn, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng giả, hóa đơn bị tẩy xóa, hóa đơn khống (không bán hàng hóa, dịch vụ); hóa đơn ghi giá trị cao hơn giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ.

2. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng trực tiếp trên giá trị gia tăng.

2.1. Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng là:

- Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam;

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế;

- Cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ.

2.2. Xác định thuế giá trị gia tăng phải nộp:

Số thuế GTGT phải nộp

=

Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế

x

Thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó

 

GTGT của hàng hóa, dịch vụ

=

Doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán ra

-

Giá vốn của hàng hóa, dịch vụ bán ra

Giá trị gia tăng xác định đối với một số ngành nghề kinh doanh như sau:

- Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh bán hàng là số chênh lệch giữa doanh số bán với doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinh doanh. Trường hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán được doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng với doanh số hàng bán ra thì xác định như sau:

Giá vốn hàng bán ra bằng (=) Doanh số tồn đầu kỳ, cộng (+) doanh số mua trong kỳ, trừ (-) doanh số tồn cuối kỳ.

Ví dụ: Một cơ sở A sản xuất đồ gỗ, trong tháng bán được 150 sản phẩm, tổng doanh số bán là 25 triệu đồng.

- Giá trị vật tư, nguyên liệu mua ngoài để sản xuất 150 sản phẩm là 19 triệu đồng, trong đó:

+ Nguyên liệu chính (gỗ): 14 triệu.

+ Vật liệu và dịch vụ mua ngoài khác: 5 triệu.

Thuế suất thuế giá trị gia tăng là 10%, thuế giá trị gia tăng cơ sở A phải nộp được tính như sau:

+ Giá trị gia tăng của sản phẩm bán ra:

25 triệu đồng - 19 triệu đồng = 6 triệu đồng.

+ Thuế giá trị gia tăng phải nộp:

6 triệu đồng x 10% = 0,6 triệu đồng.

- Đối với xây dựng, lắp đặt là số chênh lệch giữa tiền thu về xây dựng, lắp đặt công trình, hạng mục công trình trừ (-) chi phí vật tư nguyên liệu, chi phí động lực, vận tải, dịch vụ và chi phí khác mua ngoài để phục vụ cho hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình, hạng mục công trình.

- Đối với hoạt động vận tải là số chênh lệch giữa tiền thu cước vận tải, bốc xếp trừ (-) chi phí xăng dầu, phụ tùng thay thế và chi phí khác mua ngoài dùng cho hoạt động vận tải.

- Đối với hoạt động kinh doanh ăn uống là số chênh lệch giữa tiền thu về bán hàng ăn uống, tiền phục vụ và các khoản thu khác trừ (-) giá vốn hàng hóa, dịch vụ mua ngoài dùng cho kinh doanh ăn uống.

- Đối với hoạt động kinh doanh vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ, giá trị gia tăng là số chênh lệch giữa doanh số bán ra vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ trừ (-) giá vốn của vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ bán ra.

- Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế có kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng, cơ sở phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào để kê khai thuế giá trị gia tăng phải nộp của hàng hoá, dịch vụ theo từng hoạt động kinh doanh và phương pháp tính thuế riêng.

Trường hợp không hạch toán được riêng thì được xác định phân bổ thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tương ứng với tỷ lệ doanh thu của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng tính theo phương pháp khấu trừ thuế trên tổng doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ.

- Đối với các hoạt động kinh doanh khác là số chênh lệch giữa tiền thu về hoạt động kinh doanh trừ (-) giá vốn của hàng hóa, dịch vụ mua ngoài để thực hiện hoạt động kinh doanh đó.

Doanh số hàng hóa, dịch vụ bán ra quy định trên đây bao gồm cả các khoản phụ thu, phí thu thêm ngoài giá bán mà cơ sở kinh doanh được hưởng, không phân biệt đã thu tiền hay chưa thu được tiền.

Doanh số hàng hóa, dịch vụ mua vào quy định trên đây bao gồm cả các khoản thuế và phí đã trả tính trong giá thanh toán hàng hóa, dịch vụ mua vào.

- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng không được tính giá trị tài sản mua ngoài, đầu tư, xây dựng làm tài sản cố định vào doanh số hàng hoá, dịch vụ mua vào để tính giá trị gia tăng.

2.3. Phương pháp xác định giá trị gia tăng làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng phải nộp đối với từng cơ sở kinh doanh như sau:

- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì giá trị gia tăng được xác định căn cứ vào giá mua, giá bán ghi trên chứng từ (đối tượng nộp thuế có kê khai).

- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng hóa, dịch vụ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ theo hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ thì giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu.

- Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng hộ ấn định mức doanh thu tính thuế; giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu ấn định nhân với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu.

Hóa đơn làm căn cứ để tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp này là hóa đơn được sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Các trường hợp sử dụng hóa đơn không đúng quy định của pháp luật theo hướng dẫn tại điểm 1.3, Mục III, Phần B Thông tư này không được xác định làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng.

Tổng cục thuế hướng dẫn các Cục thuế xác định tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh và hợp lý giữa các địa phương.

IV. HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ MUA BÁN HÀNG HÓA, DỊCH VỤ

Cơ sở kinh doanh khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ phải thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ theo quy định của Pháp luật.

1. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng phải sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng, kể cả trường hợp bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ trường hợp được dùng hoá đơn, chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng).

2. Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng khi bán hàng hoá, dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng.

3. Khi lập hoá đơn, cơ sở kinh doanh phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định trên hoá đơn. Đối với hoá đơn giá trị gia tăng phải ghi rõ giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng, phụ thu và phí tính ngoài giá bán (nếu có), thuế giá trị gia tăng, tổng giá thanh toán đã có thuế; nếu không ghi tách riêng giá bán chưa có thuế và thuế giá trị gia tăng, chỉ ghi chung giá thanh toán thì thuế giá trị gia tăng đầu ra phải tính trên giá thanh toán.

4. Hoá đơn, chứng từ hợp pháp là:

- Hoá đơn do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) phát hành do cơ quan thuế cung cấp cho các cơ sở kinh doanh.

- Hoá đơn do các cơ sở kinh doanh tự in để sử dụng theo mẫu quy định và đã được cơ quan Thuế chấp nhận cho sử dụng.

- Các loại hoá đơn, chứng từ đặc thù khác được phép sử dụng.

5. Hướng dẫn sử dụng và ghi hóa đơn đối với một số trường hợp cụ thể như sau:

5.1. Cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế bán hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng; bán cho đối tượng được miễn thuế giá trị gia tăng; bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ phải sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng. Trên hoá đơn giá trị gia tăng chỉ ghi dòng giá bán là giá không có thuế giá trị gia tăng, dòng thuế suất, số thuế giá trị gia tăng không ghi và gạch bỏ. Trường hợp bán hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, đối tượng được miễn thuế giá trị gia tăng, hoá đơn ghi rõ là hàng hoá không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc hàng hoá bán cho đối tượng được miễn thuế giá trị gia tăng.

5.2. Cơ sở kinh doanh xuất nhập khẩu là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế nhận nhập khẩu hàng hoá uỷ thác cho các cơ sở khác, khi trả hàng cơ sở nhận uỷ thác lập chứng từ như sau:

Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, nếu đã nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu, cơ sở lập hoá đơn giá trị gia tăng để cơ sở đi uỷ thác nhập khẩu làm căn cứ kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hoá uỷ thác nhập khẩu. Trường hợp cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác chưa nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu, khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, cơ sở lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) phát hành kèm theo lệnh điều động nội bộ làm chứng từ lưu thông hàng hoá trên thị trường. Sau khi đã nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu cho hàng hoá nhập khẩu uỷ thác, cơ sở mới lập hoá đơn theo quy định trên.

Hoá đơn giá trị gia tăng xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác ghi:

(a) Giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng bao gồm: giá trị hàng hoá thực tế nhập khẩu theo giá CIF, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và các khoản phải nộp theo chế độ quy định ở khâu nhập khẩu (nếu có).

(b) Thuế suất thuế giá trị gia tăng và tiền thuế giá trị gia tăng ghi theo Thông báo nộp thuế của cơ quan Hải quan.

(c) Tổng cộng tiền thanh toán (= a + b)

Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác lập hoá đơn giá trị gia tăng riêng để thanh toán tiền hoa hồng uỷ thác nhập khẩu.

5.3. Cơ sở sản xuất kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hàng hoá xuất khẩu (kể cả cơ sở gia công hàng hoá xuất khẩu), thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, khi xuất khẩu hàng hoá sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng.

Khi xuất hàng hoá để vận chuyển đến cửa khẩu hay đến nơi làm thủ tục xuất khẩu, nếu chưa có căn cứ để lập hoá đơn giá trị gia tăng cơ sở sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) phát hành kèm theo Lệnh điều động nội bộ làm chứng từ lưu thông hàng hoá trên thị trường. Sau khi làm xong thủ tục cho hàng hoá xuất khẩu, cơ sở lập hoá đơn giá trị gia tăng cho hàng hoá xuất khẩu.

Trường hợp uỷ thác xuất khẩu hàng hoá (kể cả trường hợp uỷ thác xuất khẩu hàng hoá gia công cho các cơ sở khác), khi xuất hàng giao cho cơ sở nhận uỷ thác, cơ sở đi uỷ thác sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) phát hành kèm theo Lệnh điều động nội bộ. Khi hàng hoá đã thực xuất khẩu có xác nhận của cơ quan Hải quan, căn cứ vào các chứng từ đối chiếu, xác nhận về số lượng, giá trị hàng hoá thực tế xuất khẩu của cơ sở nhận uỷ thác xuất khẩu, cơ sở có hàng hoá uỷ thác xuất khẩu lập hoá đơn giá trị gia tăng để kê khai nộp thuế, hoàn thuế giá trị gia tăng. Trường hợp này cơ sở kinh doanh xuất khẩu phải lưu liên 2 tại doanh nghiệp. Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu đăng ký với cơ quan Thuế tự in và phát hành hóa đơn sử dụng cho hàng hóa xuất khẩu để xuất cho khách hàng nước ngoài, thì cơ sở kinh doanh xuất khẩu sử dụng hóa đơn tự in để kê khai nộp thuế hoàn thuế.

5.4. Sử dụng hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá tiêu dùng nội bộ, cho, biếu, tặng, khuyến mại:

- Đối với sản phẩm, hàng hoá xuất để tiêu dùng nội bộ, khuyến mại, quảng cáo phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng, cơ sở sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng, trên hoá đơn ghi rõ là hàng tiêu dùng nội bộ phục vụ cho sản xuất kinh doanh hay khuyến mại, quảng cáo không thu tiền. Cơ sở kinh doanh sử dụng hóa đơn để làm chứng từ hạch toán.

- Đối với sản phẩm, hàng hoá xuất dùng để trao đổi, thưởng hoặc trả thay tiền lương cho người lao động, tiêu dùng nội bộ không phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hoặc phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng thì cơ sở phải lập hoá đơn giá trị gia tăng (hoặc hoá đơn bán hàng), trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế giá trị gia tăng như hoá đơn xuất bán hàng hoá cho khách hàng.

5.5. Hàng hoá, dịch vụ có giảm giá ghi trên hóa đơn thì trên hóa đơn phải ghi rõ: tỷ lệ % hoặc mức giảm giá, giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng (giá bán đã giảm giá), thuế giá trị gia tăng, tổng giá thanh toán đã có thuế giá trị gia tăng.

Nếu việc giảm giá áp dụng căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hoá, dịch vụ thực tế mua đạt mức nhất định thì số tiền giảm giá của hàng hoá đã bán được tính điều chỉnh trên hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trên hoá đơn phải ghi rõ số hóa đơn và số tiền được giảm giá.

5.6. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh xuất điều chuyển hàng hoá cho các cơ sở hạch toán phụ thuộc như các chi nhánh, cửa hàng... ở khác địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) để bán hoặc xuất điều chuyển giữa các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc với nhau; xuất trả hàng từ đơn vị hạch toán phụ thuộc về cơ sở kinh doanh; xuất hàng hoá cho các cơ sở nhận làm đại lý bán đúng giá, hưởng hoa hồng căn cứ vào phương thức tổ chức kinh doanh và hạch toán kế toán, cơ sở có thể lựa chọn một trong hai cách sử dụng hoá đơn, chứng từ như sau:

- Sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng để làm căn cứ thanh toán và kê khai nộp thuế giá trị gia tăng ở từng đơn vị và từng khâu độc lập với nhau.

- Sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) phát hành kèm theo Lệnh điều động nội bộ đối với hàng hoá điều chuyển nội bộ; sử dụng Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) phát hành đối với hàng hoá xuất cho cơ sở làm đại lý kèm theo Lệnh điều động nội bộ.

Cơ sở hạch toán phụ thuộc, cơ sở nhận làm đại lý khi bán hàng hoá dưới các hình thức phải lập hoá đơn theo quy định, đồng thời lập Bảng kê hàng hoá bán ra (theo mẫu số 02/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này) gửi về cơ sở có hàng hoá điều chuyển đến hoặc hàng hoá gửi bán đại lý để các cơ sở này lập hoá đơn giá trị gia tăng cho hàng hoá thực tế tiêu thụ. Trường hợp cơ sở có số lượng và doanh số hàng hoá bán ra lớn, Bảng kê có thể lập cho 05 ngày hay 10 ngày một lần. Trường hợp hàng hoá bán ra có thuế suất thuế giá trị gia tăng khác nhau phải lập bảng kê riêng cho hàng hoá bán ra theo từng nhóm thuế suất.

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ thực hiện một trong hai cách sử dụng hoá đơn, chứng từ tại điểm này, trước khi thực hiện phải đăng ký với cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ sở.

5.7. Cơ sở kinh doanh làm đại lý thu mua hàng hóa theo các hình thức khi trả hàng hóa cho cơ sở uỷ thác thu mua phải lập hóa đơn cho hàng hóa thu mua đại lý và hoa hồng được hưởng (nếu có).

5.8. Cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, người bán đã xuất hoá đơn, người mua đã nhận hàng, nhưng sau đó người mua phát hiện hàng hoá không đúng quy cách, chất lượng phải trả lại toàn bộ hay một phần hàng hoá, khi xuất hàng trả lại cho người bán, cơ sở phải lập hoá đơn, trên hoá đơn ghi rõ hàng hoá trả lại người bán do không đúng quy cách, chất lượng, tiền thuế giá trị gia tăng. Hoá đơn này là căn cứ để bên bán, bên mua điều chỉnh doanh số mua, bán, số thuế giá trị gia tăng đã kê khai.

Trường hợp người mua là đối tượng không có hoá đơn, khi trả lại hàng hoá, bên mua và bên bán phải lập biên bản hoặc thoả thuận bằng văn bản ghi rõ loại hàng hoá, số lượng, giá trị hàng trả lại theo giá không có thuế giá trị gia tăng, tiền thuế giá trị gia tăng theo hoá đơn bán hàng (số ký hiệu, ngày, tháng của hoá đơn), lý do trả hàng kèm theo hoá đơn gửi cho bên bán. Biên bản này được lưu giữ cùng với hoá đơn bán hàng để làm căn cứ điều chỉnh kê khai doanh số bán, thuế giá trị gia tăng của bên bán.

Trường hợp người bán đã xuất hàng và lập hoá đơn, người mua chưa nhận hàng nhưng phát hiện hàng hoá không đúng quy cách, chất lượng phải trả lại toàn bộ hàng hoá, hoặc một phần hàng hóa, khi trả lại hàng bên mua và bên bán phải lập biên bản ghi rõ loại hàng hoá, số lượng, giá trị chưa có thuế giá trị gia tăng, tiền thuế giá trị gia tăng lý do trả hàng theo hoá đơn bán hàng (số, ký hiệu, ngày tháng của hoá đơn) đồng thời kèm theo hoá đơn để gửi trả bên bán để bên bán lập lại hóa đơn giá trị gia tăng cho số lượng hàng hóa đã nhận, và làm căn cứ bên bán điều chỉnh doanh số và thuế giá trị gia tăng đầu ra.

5.9. Cơ sở kinh doanh đã xuất bán, cung ứng hàng hoá, dịch vụ và lập hoá đơn do hàng hoá, dịch vụ không đảm bảo chất lượng, quy cách... phải điều chỉnh (tăng, giảm) giá bán thì bên bán và bên mua phải lập biên bản hoặc có thoả thuận bằng văn bản ghi rõ số lượng, quy cách hàng hoá, mức giá tăng (giảm) theo hoá đơn bán hàng (số ký hiệu, ngày, tháng của hoá đơn, thời gian), lý do tăng (giảm) giá, đồng thời bên bán lập hoá đơn để điều chỉnh mức giá được điều chỉnh. Hoá đơn ghi rõ điều chỉnh giá cho hàng hoá, dịch vụ tại hoá đơn số, ký hiệu... Căn cứ vào hoá đơn điều chỉnh giá, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào.

5.10. Cơ sở kinh doanh xuất hàng hoá bán lưu động sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) phát hành kèm theo Lệnh điều động nội bộ, khi bán hàng cơ sở lập hoá đơn theo quy định.

5.11. Cơ sở kinh doanh trực tiếp bán lẻ hàng hóa, cung ứng dịch vụ có giá trị thấp dưới mức quy định không phải lập hoá đơn, nếu người mua yêu cầu cung cấp hoá đơn thì phải lập hoá đơn theo quy định, trường hợp không lập hoá đơn thì phải lập Bảng kê bán lẻ (theo mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này) để làm căn cứ tính thuế.

5.12. Cơ sở xây dựng có công trình xây dựng, lắp đặt mà thời gian thực hiện dài, việc thanh toán tiền thực hiện theo tiến độ hoặc theo khối lượng công việc hoàn thành bàn giao, phải lập hoá đơn thanh toán khối lượng xây lắp bàn giao. Hóa đơn giá trị gia tăng phải ghi rõ doanh thu chưa có thuế và thuế giá trị gia tăng. Trường hợp công trình xây dựng hoàn thành đã lập hóa đơn thanh toán giá trị công trình nhưng khi duyệt quyết toán giá trị công trình XDCB có điều chỉnh giảm giá trị khối lượng xây dựng phải thanh toán thì lập hóa đơn, chứng từ điều chỉnh giá trị công trình phải thanh toán như trường hợp quy định tại Điểm 5.9 mục này.

5.13. Cơ sở kinh doanh được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để đầu tư xây dựng nhà để bán, đầu tư cơ sở hạ tầng để cho thuê; dịch vụ vận tải có doanh thu vận tải quốc tế; dịch vụ du lịch lữ hành quốc tế thì lập hoá đơn như sau:

- Dòng giá bán ghi giá bán nhà, giá cho thuê cơ sở hạ tầng, doanh thu về vận tải, doanh thu du lịch lữ hành trọn gói chưa có thuế giá trị gia tăng.

- Dòng giá tính thuế giá trị gia tăng là giá bán nhà (hoặc giá cho thuê hạ tầng) đã trừ tiền sử dụng đất (hoặc tiền thuê đất) phải nộp Ngân sách Nhà nước; doanh thu du lịch đã trừ các chi phí phát sinh ở nước ngoài như ăn, ở, cước vận chuyển; doanh thu vận tải đã trừ doanh thu của vận tải quốc tế.

- Dòng thuế suất, tiền thuế giá trị gia tăng, giá thanh toán ghi theo quy định.

(Theo ví dụ tại điểm 10 Mục I Phần B Thông tư này).

5.14. Cơ sở cho thuê tài chính cho thuê tài sản thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng phải lập hoá đơn theo quy định.

Cơ sở hoạt động cho thuê tài chính cho thuê tài sản thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng phải có hoá đơn giá trị gia tăng (đối với tài sản mua trong nước) hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu (đối với tài sản nhập khẩu); tổng số tiền thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn dịch vụ cho thuê tài chính phải khớp với số tiền thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng (hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu).

Các trường hợp tài sản mua để cho thuê không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, không có hoá đơn giá trị gia tăng hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu thì không được ghi thuế giá trị gia tăng trên hoá đơn.

Khi thuế giá trị gia tăng của tài sản thuê mua tài chính đã được khấu trừ hết và chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho cơ sở đi thuê, bên cho thuê thực hiện chuyển cho cơ sở thuê các hoá đơn giá trị gia tăng hoặc hoá đơn mua tài sản nhập khẩu cùng chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của tài sản cho thuê tài chính.

5.15. Cơ sở kinh doanh ngoại tệ có hoạt động mua, bán ngoại tệ phát sinh ở nước ngoài, cơ sở lập Bảng kê chi tiết doanh số mua bán theo từng loại ngoại tệ. Cơ sở phải lưu giữ các chứng từ giao dịch với bên mua, bán ở nước ngoài theo đúng Pháp lệnh kế toán, thống kê. Các hoạt động mua, bán ngoại tệ phát sinh ở trong nước phải lập hoá đơn theo quy định.

5.16. Cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, nếu mua của cá nhân không kinh doanh, không có hoá đơn thì lập Bảng kê hàng hoá mua vào theo mẫu số 04/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.

5.17. Các doanh nghiệp chế xuất khi bán hàng hoá, dịch vụ sử dụng hoá đơn bán hàng (hoặc hoá đơn tự phát hành) theo quy định của Bộ Tài chính.

Các trường hợp sử dụng hóa đơn điều chỉnh cơ sở kinh doanh không được ghi số âm (-).

6. Đối với cá nhân, đơn vị hành chính sự nghiệp có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng phát sinh không thường xuyên có nhu cầu sử dụng hoá đơn thì được cơ quan thuế cung cấp hoá đơn lẻ để sử dụng cho từng trường hợp.

C. ĐĂNG KÝ, KÊ KHAI, NỘP THUẾ, QUYẾT TOÁN THUẾ

I. ĐĂNG KÝ NỘP THUẾ

1. Cơ sở kinh doanh, kể cả các Công ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng trực thuộc cơ sở kinh doanh chính phải đăng ký nộp thuế với Cục thuế hoặc Chi cục thuế nếu là cá nhân kinh doanh về địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, lao động, tiền vốn, nơi nộp thuế và các chỉ tiêu liên quan khác theo mẫu đăng ký nộp thuế và hướng dẫn của cơ quan thuế.

Đối với cơ sở mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cấp con dấu; trường hợp cơ sở chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng có hoạt động kinh doanh, cơ sở phải đăng ký nộp thuế trước khi kinh doanh.

Các cơ sở đã đăng ký nộp thuế nếu có thay đổi ngành nghề kinh doanh, chuyển trụ sở kinh doanh sang các địa điểm khác, sáp nhập, giải thể, phá sản, hợp nhất, chia, tách hay thành lập các Công ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng mới v.v... phải đăng ký bổ sung với cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trước khi có sự thay đổi đó.

2. Cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh có trụ sở chính ở một địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nhưng có cơ sở hạch toán phụ thuộc, như Công ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng trực tiếp bán hàng ở một địa phương khác thì cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế nơi đóng trụ sở, các cơ sở hạch toán phụ thuộc cũng phải đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quan thuế địa phương nơi cơ sở phụ thuộc đóng trụ sở.

Riêng các tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ tư vấn, khảo sát, thiết kế hoặc các hợp đồng tư vấn, dịch vụ đăng ký, kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế địa phương nơi đóng trụ sở.

3. Cơ sở xây dựng, lắp đặt phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế địa phương nơi đóng trụ sở. Trường hợp xây dựng, lắp đặt các công trình ở địa phương khác (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) do các cơ sở phụ thuộc không có tư cách pháp nhân như tổ, đội, ban quản lý công trình thực hiện... thì cơ sở xây dựng đồng thời phải đăng ký, kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế địa phương nơi xây dựng công trình.

4. Cơ sở thực hiện cơ chế khoán cho tập thể, cá nhân kinh doanh theo phương thức tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh thì tập thể, cá nhân nhận khoán phải trực tiếp đăng ký, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quan thuế nơi kinh doanh.

5. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng, nếu thực hiện được đúng, đủ các điều kiện mua, bán hàng hóa, dịch vụ có đầy đủ hoá đơn, chứng từ, ghi chép hạch toán sổ kế toán đúng chế độ, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng đúng chế độ và tự nguyện đăng ký thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế thì được áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế. Cơ sở phải lập và gửi bản đăng ký nộp thuế (theo mẫu số 09/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này) cho cơ quan thuế nơi cơ sở đăng ký nộp thuế. Cơ quan thuế khi nhận được đăng ký của cơ sở có trách nhiệm kiểm tra, thông báo kịp thời cho cơ sở về việc được áp dụng hay không được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng (nêu rõ lý do không được áp dụng) trong thời hạn chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ sở. Cơ sở chỉ được thực hiện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ khi được cơ quan thuế thông báo cho áp dụng.

Những cá nhân (hộ) kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng đã được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, nếu trong quá trình thực hiện, cơ sở không thực hiện đúng các điều kiện quy định thì cơ quan thuế áp dụng biện pháp ấn định thuế phải nộp và ra thông báo đình chỉ việc nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.

6. Về việc cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế: Các cơ sở kinh doanh đã thực hiện đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế, cơ quan thuế có trách nhiệm cấp mã số thuế và Giấy chứng nhận đăng ký thuế cho cơ sở kinh doanh.

Đối với các chủ dự án (hoặc đại diện được uỷ quyền như ban quản lý công trình), nhà thầu chính nước ngoài là đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng chưa có mã số thuế phải làm thủ tục với Cục thuế nơi đóng trụ sở để được cấp mã số thuế.

II. KÊ KHAI THUẾ GIÁ PHẢI NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh và người nhập khẩu hàng hoá phải kê khai thuế giá trị gia tăng phải nộp theo quy định như sau:

1. Các cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng phải lập và gửi cho cơ quan thuế tờ khai tính thuế giá trị gia tăng từng tháng kèm theo bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra theo mẫu quy định (mẫu số 01/GTGT, 02/GTGT, 03/GTGT, 04/GTGT, 05/GTGT,06/GTGT, 07A/GTGT, 07B/GTGT và 07C/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này). Thời gian gửi tờ khai của tháng cho cơ quan thuế chậm nhất là trong mười ngày đầu tháng tiếp theo.

Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu tờ khai thuế và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai. Trường hợp cơ sở kinh doanh đã gửi tờ khai cho cơ quan thuế, sau đó phát hiện có sự sai sót về số liệu kê khai trước thời hạn nộp thuế, cơ sở phải thông báo cho cơ quan thuế biết đồng thời lập lại tờ khai thay cho tờ khai không đúng. Trường hợp phát hiện sai sót sau thời hạn nộp thuế thì cơ sở điều chỉnh vào tờ khai của tháng tiếp sau.

Thời điểm để xác định doanh thu tính thuế giá trị gia tăng phát sinh là thời điểm cơ sở kinh doanh đã chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng sử dụng (đối với trường hợp bán theo hình thức trả góp) hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho người mua, không phân biệt người mua đã trả tiền hay chưa trả tiền.

2. Một số trường hợp cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế kê khai thuế phải nộp cụ thể như sau:

- Trường hợp cơ sở kinh doanh vừa có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng vừa có hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng nhưng không hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ thì thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh số bán ra của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và tổng doanh số bán hàng hóa, dịch vụ trong kỳ. Hàng tháng cơ sở kinh doanh tạm tính thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ % phát sinh của tháng kê khai, khi quyết toán năm điều chỉnh lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ (%) thực tế của doanh số bán năm quyết toán.

- Trường hợp các cơ sở xây dựng, lắp đặt có tổ chức các đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân như: tổ, đội xây dựng, ban quản lý công trình thực hiện xây lắp các công trình ở địa phương khác (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nơi cơ sở đóng trụ sở chính thì đơn vị xây dựng, lắp đặt hoặc cơ sở chính phải kê khai doanh thu và thuế giá trị gia tăng nộp tại địa phương nơi xây dựng công trình, hạng mục công trình theo tỷ lệ bằng 3% trên giá thanh toán công trình, hạng mục công trình chưa có thuế giá trị gia tăng. Cơ sở xây dựng, lắp đặt có trách nhiệm kê khai, quyết toán thuế giá trị gia tăng theo chế độ quy định với cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính. Số thuế giá trị gia tăng đã nộp nơi xây dựng công trình được tính vào số thuế giá trị gia tăng đã nộp khi cơ sở xây dựng kê khai nộp thuế giá trị gia tăng tại văn phòng trụ sở chính. Các đơn vị hạch toán phụ thuộc thực hiện xây dựng công trình, hạng mục công trình ở địa phương khác sử dụng mã số thuế, hoá đơn của đơn vị cấp trên; sử dụng Tờ khai thuế giá trị gia tăng (theo mẫu số 07C/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này). Các cơ sở xây dựng, lắp đặt ký hợp đồng xây dựng, lắp đặt (nhà thầu chính) nhưng giao lại một phần công việc hay công trình cho cơ sở khác thực hiện (nhà thầu phụ) thì cơ sở xây dựng, lắp đặt phải đăng ký, khai báo với cơ quan Thuế tại địa phương nơi có công trình xây dựng, lắp đặt về hợp đồng xây dựng, lắp đặt và hợp đồng giao thầu lại cho cơ sở khác, để các cơ sở thực hiện kê khai nộp thuế giá trị gia tăng tại địa phương cho phần giá trị công trình do mình thực hiện. Nếu cơ sở xây dựng, lắp đặt (nhà thầu phụ) không đăng ký, kê khai nộp thuế thì cơ sở xây dựng, lắp đặt (nhà thầu chính) phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng trên toàn bộ giá trị công trình theo Hợp đồng.

- Trường hợp cơ sở xây dựng, lắp đặt thực hiện thi công xây lắp những công trình, hạng mục công trình liên quan tới nhiều địa phương như: xây dựng đường giao thông, đường dây tải điện, đường ống dẫn nước, dẫn dầu, khí... không xác định được doanh thu và chi phí phát sinh của công trình ở từng địa phương thì cơ sở kinh doanh thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng ở địa phương nơi cơ sở đóng trụ sở.

- Dịch vụ kinh doanh bảo hiểm không phải tính thuế giá trị gia tăng cho các khoản thu dịch vụ, hàng hoá bán ra sau đây:

Thu bồi thường nhận tái bảo hiểm và các khoản thu về bồi thường khác (nếu có); hoa hồng nhượng tái bảo hiểm và các khoản thu khác về nhượng tái bảo hiểm; phí nhận tái bảo hiểm các khoản thu khác về nhận tái bảo hiểm (bao gồm phí nhận tái bảo hiểm từ các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hoạt động trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam); thu đòi người thứ ba.

Cơ sở kinh doanh bảo hiểm chỉ được khấu trừ thuế đầu vào của chi phí bồi thường bảo hiểm đối với những khoản chi có hóa đơn giá trị gia tăng.

- Cơ sở có hàng bán thông qua đại lý (đại lý bán đúng giá quy định của bên chủ hàng, hưởng hoa hồng), căn cứ vào hoá đơn lập cho hàng bán qua đại lý quy định tại Điểm 5.6, Mục IV, Phần B Thông tư này, cơ sở phải kê khai nộp thuế hàng tháng đối với hàng hoá bán thông qua đại lý theo quy định tại Thông tư này.

Cơ sở là đơn vị hạch toán phụ thuộc ở khác địa phương với trụ sở của cơ sở chính như chi nhánh, cửa hàng... trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, căn cứ vào hoá đơn đầu vào, đầu ra của hàng hoá nhận điều chuyển và hàng hoá do cơ sở trực tiếp mua vào, bán ra để kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng tại địa phương nơi cơ sở phụ thuộc đóng trụ sở.

- Cơ sở đại lý bán hàng theo các hình thức phải kê khai, tính và nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá bán đại lý và tiền hoa hồng thu được từ hoạt động đại lý.

Cơ sở bán đại lý đúng giá theo quy định của bên chủ hàng, hưởng hoa hồng nếu bán giá thấp hơn giá quy định của bên chủ hàng thì phải kê khai, nộp thuế theo giá bán do chủ hàng quy định.

Cơ sở nhận làm đại lý thu mua theo các hình thức phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng cho hàng hoá thu mua đại lý và hoa hồng được hưởng (nếu có).

- Đối với tài sản cố định, vật tư, hàng hóa mua vào sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng đã được khấu trừ thuế đầu vào nay chuyển sang sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc sử dụng cho mục đích khác (kể cả trường hợp dùng tài sản cố định, vật tư, hàng hóa để thế chấp, nhưng bị xử lý bán để thu hồi nợ cho các tổ chức tài chính, tín dụng thì cơ sở phải hoàn lại thuế giá trị gia tăng của tài sản cố định đã khấu trừ. Số thuế giá trị gia tăng hoàn lại được tính trên giá trị còn lại (chưa có thuế giá trị gia tăng) của tài sản cố định. Đối với vật tư, hàng hóa thì cơ sở phải hoàn lại toàn bộ số thuế giá trị gia tăng đã khấu trừ.

- Đối với cơ sở có sử dụng hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ không phục vụ cho sản xuất kinh doanh như vận tải, hàng không, đường sắt, bưu điện không phải tính thuế giá trị gia tăng đầu ra, cơ sở phải có quy định rõ đối tượng và mức khống chế hàng hoá dịch vụ sử dụng nội bộ, được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận bằng văn bản.

- Đại lý bán vé xổ số kiến thiết hưởng hoa hồng không phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế giá trị gia tăng do các Công ty xổ số kiến thiết kê khai, nộp tập trung tại Công ty.

- Đối với các Tổng công ty, Công ty có các cơ sở trực thuộc, việc kê khai thuế giá trị gia tăng phải nộp thực hiện như sau:

+ Các cơ sở hạch toán độc lập và các cơ sở hạch toán phụ thuộc như Công ty, xí nghiệp, nhà máy, chi nhánh, cửa hàng có tư cách pháp nhân không đầy đủ, có con dấu và tài khoản tại ngân hàng trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, phát sinh doanh thu phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ tại địa phương nơi cơ sở kinh doanh đóng trụ sở.

+ Trường hợp cơ sở hạch toán phụ thuộc ở khác địa phương nơi đóng trụ sở chính của Văn phòng Công ty, Tổng Công ty, không có tư cách pháp nhân, không có con dấu và tài khoản tiền gửi tại ngân hàng trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, phát sinh doanh thu thì cơ sở hạch toán phụ thuộc phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng tại địa phương nơi phát sinh doanh thu theo tỷ lệ 2% trên doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 5%, tỷ lệ 3% trên doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 10%. Tổng Công ty, Công ty có trách nhiệm kê khai, quyết toán thuế giá trị gia tăng theo chế độ quy định với cơ quan Thuế nơi đóng trụ sở chính. Số thuế giá trị gia tăng cơ sở hạch toán phụ thuộc đã nộp tại địa phương được tính vào số thuế giá trị gia tăng đã nộp khi Công ty, Tổng Công ty kê khai nộp thuế giá trị gia tăng tại Văn phòng trụ sở chính. Công ty, Tổng Công ty có trách nhiệm đăng ký cấp mã số thuế cho cơ sở hạch toán phụ thuộc, cơ sở hạch toán phụ thuộc sử dụng hóa đơn của đơn vị cấp trên; sử dụng Tờ khai thuế giá trị gia tăng (theo mẫu số 07C/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này).

+ Các cơ sở hạch toán phụ thuộc đóng trụ sở cùng địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nơi có trụ sở chính của đơn vị cấp trên như Công ty, Tổng công ty thì Công ty, Tổng công ty thực hiện kê khai, nộp thuế tập trung thay cho các cơ sở hạch toán phụ thuộc. Nếu cơ sở hạch toán phụ thuộc là pháp nhân không đầy đủ, có con dấu, tài khoản tiền gửi ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, kê khai đầy đủ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra muốn kê khai nộp thuế riêng phải đăng ký nộp thuế, cấp mã số thuế phụ thuộc và sử dụng hóa đơn riêng.

+ Các cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc ở khác địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nơi đóng trụ sở chính của Công ty nếu không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu, cơ sở không hạch toán được đầy đủ thuế đầu vào thì thực hiện kê khai, nộp thuế tập trung tại Văn phòng trụ sở chính của Công ty.

Các Tổng công ty, Công ty căn cứ vào tình hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của cơ sở mình, xác định và đăng ký cụ thể đối tượng thuộc diện phải kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế nơi cơ sở kinh doanh. Trường hợp cần áp dụng việc kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng khác với hướng dẫn trên đây thì Tổng công ty, Công ty phải báo cáo với Bộ Tài chính để có hướng dẫn riêng.

- Các cơ sở kinh doanh dịch vụ cho thuê tài chính không phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ cho thuê tài chính. Cơ sở phải kê khai, tính thuế đối với các tài sản cho đơn vị khác thuê mua tài chính thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo hoá đơn lập quy định tại Điểm 5.14, Mục IV, Phần B Thông tư này.

Cơ sở chỉ kê khai thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ cho thuê tài chính theo quy định tại Thông tư này theo Bảng kê mẫu số 02/GTGT và Bảng kê mẫu số 03/GTGT đối với tài sản cho thuê thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trong đó Bảng kê số 03/GTGT chỉ tiêu thuế giá trị gia tăng "cột 9 - thuế giá trị gia tăng" chỉ ghi tiền thuế giá trị gia tăng của tài sản cho thuê phân bổ phù hợp với hoá đơn giá trị gia tăng lập cho doanh thu của dịch vụ cho thuê tài chính trong kỳ kê khai.

Trường hợp bên thuê không thực hiện hợp đồng dẫn đến bên cho thuê phải thu hồi tài sản, bên cho thuê phải thông báo cho bên đi thuê và xác định rõ số thuế giá trị gia tăng đã trả, số thuế giá trị gia tăng chưa trả. Khi bên cho thuê tiếp tục cho đơn vị khác thuê thì số thuế giá trị gia tăng chưa thu đủ, cơ sở cho thuê tính để thu tiếp theo hợp đồng mới.

Trường hợp tài sản cho thuê một thời gian, cơ sở cho thuê bán lại cho cơ sở đi thuê hoặc cơ sở khác thì cơ sở cho thuê phải tính thuế giá trị gia tăng cho tài sản bán, lập hoá đơn giá trị gia tăng, cơ sở chỉ được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản chưa thu đủ.

Trường hợp bên cho thuê và bên đi thuê cùng bỏ vốn mua tài sản, bên cho thuê chỉ thu tiền thuê (vốn và lãi) tương ứng với số vốn bỏ ra thì hoá đơn mua tài sản cho thuê do cơ sở cho thuê quản lý đến khi chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên đi thuê. Số thuế giá trị gia tăng tương ứng với số vốn bên cho thuê bỏ ra được tính vào hoá đơn thu tiền lần đầu.

Trường hợp hợp đồng cho thuê tài chính đã thực hiện xong, số thuế giá trị gia tăng đã được bên đi thuê trả hết, hai bên thoả thuận thuê tiếp thì hoá đơn lập cho doanh thu lần sau không tính thuế giá trị gia tăng.

- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng kê khai nộp thuế giá trị gia tăng như sau:

+ Đối với hàng hoá, dịch vụ tính thuế theo phương pháp khấu trừ, cơ sở lập Tờ khai chi tiết (theo mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này), trên Tờ khai không ghi chỉ tiêu 18.

+ Cơ sở lập Tờ khai chi tiết riêng cho hoạt động kinh doanh mua bán vàng, bạc, đá quý và hoạt động kinh doanh ngoại tệ (theo mẫu số 07A/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này), ghi các chỉ tiêu tương ứng của hàng hoá, ngoại tệ.

Trên cơ sở các tờ khai chi tiết trên, cơ sở tổng hợp lập Tờ khai thuế giá trị gia tăng (theo mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này). Tờ khai chỉ ghi chỉ tiêu 18, 38, 39, 40, 41.

Hàng tháng, cơ sở kinh doanh phải nộp cho cơ quan thuế các Tờ khai thuế giá trị gia tăng tổng hợp và Tờ khai thuế giá trị gia tăng chi tiết kèm theo Bảng kê chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra theo mẫu số 02/GTGT, 03/GTGT, 04/GTGT (đối với vàng, bạc, ngoại tệ mua của người bán không có hóa đơn).

Đối với cơ sở kinh doanh như Ngân hàng có các đơn vị hạch toán phụ thuộc tại cùng địa phương thì các đơn vị phụ thuộc phải lập Bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra để lưu tại cơ sở chính. Khi tổng hợp lập Bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra, cơ sở chính chỉ tổng hợp theo số tổng hợp trên Bảng kê của các đơn vị phụ thuộc.

- Các Công ty vận tải hàng không thực hiện kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng của hoạt động vận tải hàng không tại địa phương nơi Công ty đóng trụ sở chính.

- Cơ sở kinh doanh bán hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng cho đối tượng và giá theo quy định của Nhà nước được Nhà nước trợ giá, trợ cước vận chuyển, khi bán hàng phải tính thuế giá trị gia tăng đầu ra để kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng cho hàng hoá theo giá bán quy định của Nhà nước. Khoản tiền trợ giá, trợ cước được Ngân sách cấp không phải tính thuế giá trị gia tăng, cơ sở hạch toán vào thu nhập để tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Đối với Văn phòng Tổng công ty không trực tiếp kinh doanh, không thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng nếu bán tài sản kể cả loại chịu thuế giá trị gia tăng không phải tính, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với tài sản bán ra. Khi bán tài sản, đơn vị phải lập hoá đơn theo mẫu HĐ/TS/TL-3L tại Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/04/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản lý việc xử lý tài sản Nhà nước tại cơ quan hành chính sự nghiệp (hoá đơn do Sở tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phát hành). Các cơ sở sản xuất, kinh doanh mua tài sản thanh lý không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

- Cơ sở kinh doanh khi chia tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu có bán tài sản là hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng phải tính, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng. Khi bán hàng hoá cơ sở phải lập hoá đơn theo quy định và kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng.

Trường hợp bán tài sản của doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ "về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước", bán tài sản của các doanh nghiệp phá sản theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp không phải tính, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với tài sản này.

3. Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng phải kê khai và nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu với cơ quan Hải quan thu thuế nhập khẩu.

4. Cơ sở kinh doanh xuất nhập khẩu có nhập khẩu uỷ thác hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng phải kê khai thuế giá trị gia tăng như sau:

Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác hàng hoá không phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá nhập khẩu uỷ thác nhưng phải kê khai hoá đơn giá trị gia tăng lập cho hàng hoá nhập khẩu uỷ thác đã trả cho cơ sở đi uỷ thác nhập khẩu với cơ quan thuế trên Bảng kê số 02/GTGT cùng với hoá đơn, chứng từ của hàng hoá, dịch vụ bán ra khác. Hoá đơn đối với hàng hoá nhập khẩu uỷ thác kê riêng trong Bảng kê.

5. Cơ sở kinh doanh buôn chuyến phải kê khai và nộp thuế theo từng chuyến hàng với Chi cục thuế nơi mua hàng, trước khi vận chuyển hàng đi (trừ các trường hợp được miễn thuế giá trị gia tăng theo quy định của Chính phủ). Số thuế phải nộp đối với hàng hoá buôn chuyến tính theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng.

6. Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ có mức thuế giá trị gia tăng khác nhau phải kê khai thuế giá trị gia tăng theo từng mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hóa dịch vụ; nếu cơ sở kinh doanh không xác định được theo từng mức thuế suất thì phải tính và nộp thuế theo mức thuế suất cao nhất của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở sản xuất, kinh doanh.

7. Trong trường hợp không phát sinh doanh số bán hàng hóa, dịch vụ, thuế đầu vào, thuế đầu ra, cơ sở kinh doanh vẫn phải kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan thuế.

8. Cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc, ngoại tệ, đá quý và cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng, thực hiện đầy đủ việc mua bán hàng hoá dịch vụ có hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán, trường hợp kê khai thuế phải nộp của tháng phát sinh giá trị gia tăng âm (-) thì không phải nộp thuế giá trị gia tăng, giá trị gia tăng âm được kết chuyển để bù trừ vào giá trị gia tăng phát sinh của tháng tiếp sau để tính thuế giá trị gia tăng phải nộp và quyết toán thuế cả năm nhưng không được kết chuyển phần giá trị gia tăng âm của năm quyết toán thuế sang năm sau.

9. Đối với các đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì các đơn vị này phải đăng ký, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật định. Trường hợp đơn vị không hạch toán và không xác định được riêng chi phí, thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế thì thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được xác định căn cứ vào doanh thu và tỷ lệ (%) giá trị gia tăng và tỷ lệ (%) thu nhập doanh nghiệp tính trên doanh thu do cơ quan thuế xác định để kê khai, nộp thuế.

10. Các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (gọi chung là nhà thầu nước ngoài) thực hiện kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định riêng của Bộ Tài chính.

Trường hợp tổ chức, cá nhân ở Việt Nam làm đại lý bán hàng hóa, dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thì tổ chức, cá nhân ở Việt Nam phải kê khai nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ thay cho phía nước ngoài.

11. Đối với hàng hoá do các cơ sở đã trúng thầu trực tiếp nhập khẩu (kể cả nhập khẩu dưới hình thức uỷ thác) hàng hoá quy định tại Điểm 4 Mục II Phần A Thông tư này để bán cho các doanh nghiệp làm tài sản cố định cho dự án đầu tư được duyệt không phải tính và nộp thuế giá trị gia tăng cho hàng hoá này.

Khi xuất bán hoặc xuất trả hàng uỷ thác nhập khẩu, cơ sở lập hoá đơn theo quy định tại Điểm 5.1, Mục IV, Phần B Thông tư này.

12. Việc lập các Bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra kèm theo tờ kê khai thuế hàng tháng gửi cho cơ quan thuế trong một số trường hợp được thực hiện như sau:

- Đối với hàng hoá, dịch vụ bán lẻ trực tiếp cho đối tượng tiêu dùng như: điện, nước, xăng dầu, dịch vụ bưu điện, dịch vụ khách sạn, ăn uống, vận chuyển hành khách, kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ và bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng khác thì được kê khai tổng hợp doanh số bán lẻ, không phải kê khai theo từng hoá đơn.

- Đối với hàng hoá, dịch vụ mua lẻ bảng kê tổng hợp được lập theo từng nhóm mặt hàng, dịch vụ cùng thuế suất, không phải kê chi tiết theo từng hoá đơn.

III. NỘP THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng có trách nhiệm nộp thuế giá trị gia tăng đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách Nhà nước.

Trình tự, thủ tục nộp thuế thực hiện như sau:

1. Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế sau khi nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng cho cơ quan Thuế phải nộp thuế giá trị gia tăng vào ngân sách nhà nước. Thời hạn nộp thuế của tháng chậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp theo.

Đối với cơ sở kinh doanh có mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng làm thủ tục nộp thuế bằng giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước, thời gian nộp thuế vào ngân sách Nhà nước được tính từ ngày ngân hàng nhận và làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản của cơ sở vào ngân sách nhà nước, được ngân hàng ghi trên giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước. Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế bằng tiền mặt, thời gian nộp thuế vào ngân sách nhà nước là ngày cơ quan kho bạc hoặc cơ quan Thuế nhận tiền thuế.

Trường hợp cơ sở kinh doanh có thuế giá trị gia tăng phát sinh lớn, ổn định từ 200 triệu đồng/tháng trở lên nộp thuế theo định kỳ 5, 10 ngày một lần trong tháng. Khi kê khai số thuế phải nộp của tháng, nếu số thuế đã tạm nộp còn thiếu cơ sở phải nộp tiếp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước, thời gian nộp thuế còn thiếu chậm nhất là ngày 25 của tháng tiếp sau. Kỳ nộp thuế do cơ quan thuế xác định và thông báo cho cơ sở thực hiện.

Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp số thuế giá trị gia tăng còn thiếu vào ngân sách nhà nước sau 10 ngày kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán thuế, nếu nộp thừa được trừ vào số phải nộp của kỳ tiếp sau, hoặc được hoàn thuế nếu cơ sở thuộc trường hợp và đối tượng được hoàn thuế.

2. Tổ chức, cá nhân (hộ) kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp có kê khai thực hiện nộp thuế theo thông báo thuế của cơ quan thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp sau. Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh nộp thuế theo mức khoán ổn định thì thời gian nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng phải nộp.

Đối với những cá nhân (hộ) kinh doanh (trừ đối tượng nộp thuế có kê khai) ở địa bàn xa kho bạc nhà nước hoặc kinh doanh lưu động, không thường xuyên thì cơ quan thuế tổ chức thu thuế và nộp vào ngân sách nhà nước. Thời hạn cơ quan thuế phải nộp tiền thuế đã thu vào ngân sách Nhà nước chậm nhất không quá 3 ngày (kể từ ngày thu được tiền thuế); riêng đối với vùng núi, hải đảo, vùng đi lại khó khăn chậm nhất không quá 6 ngày kể từ ngày thu được tiền thuế.

3. Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu hàng hóa phải nộp thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu theo từng lần nhập khẩu. Thời hạn thông báo và thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu thực hiện theo thời hạn thông báo nộp thuế nhập khẩu.

Đối với hàng hóa không phải nộp thuế nhập khẩu hoặc có thuế suất thuế nhập khẩu bằng 0% thì thời hạn phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng thực hiện như quy định đối với hàng hoá phải nộp thuế nhập khẩu.

Đối với hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch, nhập khẩu tiểu ngạch biên giới không áp dụng hình thức thông báo nộp thuế phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng ngay khi nhập khẩu.

Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc diện không phải nộp thuế giá trị gia tăng khi nhập khẩu như: nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu, quà biếu, quà tặng, hàng viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại v.v... nếu đem bán hoặc xuất dùng vào mục đích khác phải kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ sở như quy định đối với hàng hoá do cơ sở kinh doanh.

4. Cơ sở kinh doanh cố định mua, bán, vận chuyển hàng hóa nhập khẩu phải thực hiện đúng chế độ về hóa đơn chứng từ, nếu không có đủ chứng từ theo quy định, thì sẽ bị xử lý vi phạm về hoá đơn, chứng từ, xử lý vi phạm hành chính về thuế hoặc bị tịch thu hàng hoá (đối với hàng hoá là hàng nhập khẩu không có hoá đơn, chứng từ hợp pháp) theo quy định của pháp luật.

Khi nộp thuế, cơ sở kinh doanh được cơ quan thuế hoặc cơ quan kho bạc nhà nước cấp biên lai thu thuế hoặc chứng từ xác nhận việc đã thu thuế cho người nộp thuế bằng biên lai, chứng từ do Bộ Tài chính thống nhất phát hành. Cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra các cơ sở kinh doanh thực hiện chế độ sổ sách, ghi chép kế toán hạch toán rõ ràng số thuế giá trị gia tăng trên hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tính số thuế giá trị gia tăng phải nộp và số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ.

5. Trong một kỳ tính thuế, nếu cơ sở kinh doanh có số thuế nộp thừa kỳ trước được trừ vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo, nếu kỳ trước nộp thiếu thì phải nộp đủ số thuế kỳ trước còn thiếu.

Cơ sở kinh doanh di chuyển đến địa phương khác (quận, huyện đối với đối tượng nộp thuế do chi cục thuế trực tiếp quản lý; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với đối tượng nộp thuế do cục thuế trực tiếp quản lý) phải nộp đủ số thuế giá trị gia tăng còn thiếu và có xác nhận của cơ quan thuế trực tiếp quản lý trước khi chuyển trụ sở.

Đối với các cơ sở nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi chuyển trụ sở nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết hoặc nộp thừa thuế thì được khấu trừ hoặc bù trừ khi kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế trực tiếp quản lý tại địa phương nơi cơ sở chuyển đến. Cơ sở kinh doanh phải lập bản tổng hợp về số thuế phát sinh, số thuế đã nộp, số thuế nộp thừa gửi cục thuế xác nhận làm căn cứ kê khai tính thuế, nộp thuế với cơ quan thuế nơi cơ sở kinh doanh chuyển đến.

Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, nếu trong kỳ tính thuế có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế phải nộp đầu ra thì được kết chuyển số thuế đầu vào chưa khấu trừ hết vào kỳ tính thuế tiếp theo. Trong các trường hợp cơ sở kinh doanh đầu tư mới tài sản cố định có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế theo quy định tại Phần D của Thông tư này.

6. Thuế giá trị gia tăng nộp vào ngân sách Nhà nước bằng Đồng Việt Nam. Trường hợp cơ sở kinh doanh có doanh số bán hoặc mua hàng hoá, dịch vụ thanh toán bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu hoạt động mua, bán hàng hoá, dịch vụ bằng ngoại tệ để xác định thuế giá trị gia tăng phải nộp.

IV. QUYẾT TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

Các cơ sở kinh doanh (trừ hộ kinh doanh vừa và nhỏ nộp thuế theo mức ấn định) phải thực hiện lập và gửi quyết toán thuế giá trị gia tăng hàng năm cho cơ quan thuế. Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúng các chỉ tiêu và số liệu theo mẫu quyết toán thuế; gửi bản quyết toán thuế theo mẫu số 11/GTGT, 12A/GTGT, 12B/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này đến cơ quan thuế địa phương nơi cơ sở đăng ký nộp thuế.

Năm quyết toán thuế được tính theo năm dương lịch. Trường hợp cơ sở kinh doanh được áp dụng quyết toán tài chính khác với năm dương lịch thì vẫn phải quyết toán thuế giá trị gia tăng theo năm dương lịch. Thời hạn cơ sở kinh doanh phải nộp quyết toán cho cơ quan thuế chậm nhất không quá 60 ngày, kể từ ngày 31 tháng 12 của năm quyết toán thuế.

Cơ sở kinh doanh sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước cơ sở cũng phải thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày có quyết định sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước.

Cơ sở kinh doanh phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của số liệu quyết toán thuế, nếu cơ sở kinh doanh báo cáo sai, để trốn, lậu thuế sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật.

D. HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

I. ĐỐI TƯỢNG VÀ TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:

a) Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết.

Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế. Trường hợp này áp dụng cho cả cơ sở kinh doanh có đầu tư mới, đầu tư chiều sâu.

Ví dụ:Doanh nghiệp A kê khai thuế giá trị gia tăng có số thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra như sau:

Đơn vị tính: triệu đồng

Tháng kê khai thuế

Thuế đầu vào được khấu trừ trong tháng

Thuế đầu ra phát sinh trong tháng

Thuế phải nộp

Luỹ kế số thuế đầu vào chưa khấu trừ

Tháng 12/2000

200

100

- 100

- 100

Tháng 1/2001

300

350

+ 50

- 50

Tháng 2/2001

300

200

- 100

- 150

Theo ví dụ trên, doanh nghiệp A luỹ kế 3 tháng liên tục có số thuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra. Doanh nghiệp A thuộc đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng với số thuế là 150 triệu đồng.

b) Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng. Trường hợp trong tháng thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết bao gồm cả thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước thì cũng được tính vào số thuế được hoàn trong tháng.

Đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, đối tượng hoàn thuế là cơ sở có hàng hoá uỷ thác xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu. Đối với trường hợp gia công uỷ thác thì đối tượng được hoàn thuế là cơ sở trực tiếp gia công hàng hoá xuất khẩu.

2. Đối với cơ sở kinh doanh đầu tư mới đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa phát sinh thuế đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Số thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế từng quý.

Ví dụ 1: Cơ sở kinh doanh mới được thành lập năm 2003, trong năm 2003 thực hiện đầu tư phần giá trị xây lắp là 6 tỷ đồng, giá trị máy móc, thiết bị 2 tỷ.

- Thuế giá trị gia tăng đầu vào của vật tư dùng trong xây lắp là 400 triệu.

- Thuế giá trị gia tăng của máy móc, thiết bị là 200 triệu.

Đến cuối năm 2003, công trình chưa đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, chưa có doanh thu nên chưa phát sinh thuế giá trị gia tăng phải nộp. Sau khi lập báo cáo quyết toán thuế giá trị gia tăng năm 2003, xác định số thuế đầu vào 600 triệu, thì cơ sở làm hồ sơ đề nghị cơ quan thuế giải quyết hoàn số tiền thuế giá trị gia tăng là 600 triệu cho cơ sở.

Trường hợp thuế đầu vào doanh nghiệp tổng hợp từng quý lớn hơn 200 triệu đồng thì doanh nghiệp có thể đề nghị hoàn thuế từng quý.

3. Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế có dự án đầu tư của cơ sở sản xuất đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho dự án đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên được xét hoàn thuế theo quý. Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng cho dự án đầu tư.

4. Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước có thuế giá trị gia tăng nộp thừa, số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết.

5. Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

6. Việc hoàn thuế giá trị gia tăng đã trả đối với các dự án sử dụng vốn ODA như sau:

- Chủ dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại, dự án sử dụng vốn ODA vay hoặc vốn ODA hỗn hợp thuộc đối tượng được ngân sách nhà nước đầu tư không hoàn trả toàn bộ hoặc một phần được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án. Số thuế giá trị gia tăng được hoàn là số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào.

- Trường hợp chủ dự án nêu trên không được ngân sách nhà nước bố trí vốn đối ứng để thanh toán tiền thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án; chủ dự án giao thầu cho các nhà thầu chính thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế cung cấp các hàng hoá, dịch vụ theo giá không có thuế giá trị gia tăng, thì nhà thầu chính được tính khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho dự án.

Ví dụ 1: Công ty xây dựng A thực hiện xây dựng công trình của dự án B sử dụng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại theo giá thầu ký với chủ dự án, giá trị xây lắp không có thuế giá trị gia tăng là 4 tỷ đồng. Chủ dự án B không được ngân sách nhà nước bố trí vốn đối ứng để thanh toán theo giá có thuế giá trị gia tăng. Chủ dự án B trực tiếp mua thiết bị trong nước để giao cho Công ty A lắp đặt, giá mua thiết bị chưa có thuế giá trị gia tăng là 1 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng là 100 triệu đồng.

Nếu Công ty A được thanh toán theo giá nhận thầu không có thuế giá trị gia tăng là 4 tỷ thì Công ty A được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, vật tư mua vào phục vụ cho xây dựng dự án công trình B.

Chủ dự án B được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của thiết bị mua trong nước là 100 triệu đồng.

Ví dụ 2 : Công ty xây dựng M thực hiện xây lắp công trình của dự án C sử dụng nguồn vốn ODA vay, dự án thuộc đối tượng được ngân sách nhà nước đầu tư không hoàn trả, giá trị xây lắp không có thuế giá trị gia tăng là 5 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng 10% là 500 triệu đồng. Chủ dự án B nhập khẩu thiết bị để giao cho Công ty M lắp đặt, giá nhập khẩu thiết bị chưa có thuế giá trị gia tăng là 2 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng là 200 triệu đồng. Chủ dự án B được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào là 700 triệu đồng.

Các chủ dự án sử dụng nguồn vốn ODA thuộc đối tượng được hoàn thuế, phải ghi tăng vốn ngân sách cấp cho dự án số tiền thuế giá trị gia tăng đã được hoàn. Khi tính kế hoạch vốn đối ứng hàng năm cho dự án không phải tính kế hoạch vốn đối ứng để nộp thuế giá trị gia tăng.

Trường hợp các chủ dự án được ngân sách nhà nước bố trí vốn đối ứng để thanh toán cho nhà thầu theo giá có thuế giá trị gia tăng, thì các nhà thầu khi bán hàng hóa, dịch vụ cho dự án phải tính thuế và kê khai nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định.

7. Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ thì được hoàn lại tiền thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng khi mua hàng.

Ví dụ: Hội chữ thập đỏ được Tổ chức quốc tế viện trợ tiền để mua hàng viện trợ nhân đạo cho nhân dân các tỉnh bị thiên tai là 200 triệu đồng. Giá trị hàng mua chưa có thuế là 200 triệu đồng, thuế giá trị gia tăng là 10 triệu đồng. Hội chữ thập đỏ sẽ được hoàn thuế theo quy định là 10 triệu đồng.

Các cơ sở kinh doanh, tổ chức thuộc đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Mục I này phải là đối tượng đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (giấy phép đầu tư), có con dấu, lưu giữ sổ sách, chứng từ kế toán theo chế độ quy định và có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.

Các trường hợp cơ sở kinh doanh đã lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế thì không được kết chuyển số thuế đầu vào đã đề nghị hoàn thuế vào số thuế được khấu trừ của tháng tiếp sau thời gian đã lập hồ sơ hoàn thuế.

Trường hợp tháng trước thời gian xin hoàn thuế cơ sở có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa thì cơ sở được tính cộng thuế giá trị gia tăng nộp thừa vào số thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn trong kỳ, trường hợp cơ sở có số thuế nộp thiếu thì phải nộp đủ số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước trước khi được hoàn thuế.

8. Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo Pháp lệnh về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đã trả ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh tại Việt Nam bán hàng hóa, dịch vụ cho các đối tượng này khi lập hóa đơn giá trị gia tăng vẫn phải tính thuế giá trị gia tăng. Đối tượng, hàng hóa, dịch vụ, thủ tục hồ sơ hoàn thuế cho trường hợp này theo hướng dẫn tại Thông tư số 08/2003/TT-BTC ngày 15/01/2003.

II. HỒ SƠ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1. Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng đối với trường hợp nêu tại Điểm 1a, 2, 3, Mục I, Phần D Thông tư này gồm:

- Công văn đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng nêu rõ lý do hoàn thuế, số thuế đề nghị hoàn, thời gian hoàn (theo mẫu số 10/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này).

- Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đầu ra, số thuế đầu vào được khấu trừ, số thuế đã nộp (nếu có), số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra đề nghị hoàn lại.

- Bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra trong kỳ liên quan đến việc xác định thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra (mẫu số 02/GTGT, 03/GTGT) ban hành kèm theo Thông tư này). Riêng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào có sử dụng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì sử dụng Bảng kê mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.

Trường hợp việc kê khai thuế hàng tháng đã đầy đủ và chính xác, phù hợp với Bảng kê khai tổng hợp, cơ sở không phải nộp Bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra các tháng đề nghị hoàn thuế. Trường hợp có điều chỉnh thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng đầu ra của các tháng trong thời gian hoàn thuế thì cơ sở phải kê khai số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng đầu ra phát sinh từng tháng trong thời gian hoàn thuế, số thuế điều chỉnh phải giải trình rõ lý do.

2. Hồ sơ hoàn thuế đối với các trường hợp quy định tại Điểm 1.b, Mục I, Phần D Thông tư này:

- Các hồ sơ nêu tại Điểm 1, Mục này.

- Biên bản thanh lý Hợp đồng uỷ thác xuất khẩu hoặc uỷ thác gia công hàng xuất khẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc Biên bản đối chiếu công nợ định kỳ giữa bên uỷ thác xuất khẩu và bên nhận uỷ thác xuất khẩu (đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu hoặc uỷ thác gia công xuất khẩu).

- Bảng kê các hồ sơ có chữ ký và đóng dấu của cơ sở. Bảng kê ghi rõ:

+ Số, ngày tờ khai xuất khẩu của hàng hóa xuất khẩu (trường hợp uỷ thác xuất khẩu phải ghi số, ngày tờ khai xuất khẩu của cơ sở nhận uỷ thác).

+ Số, ngày hợp đồng xuất khẩu hoặc số, ngày hợp đồng uỷ thác xuất khẩu, uỷ thác gia công đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu, uỷ thác gia công xuất khẩu.

+ Hình thức thanh toán, số, ngày, số tiền của chứng từ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

b) Hồ sơ hoàn thuế đối với trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng hàng bao gồm:

- Các hồ sơ nêu tại điểm 1, Mục này.

- Bảng kê các hồ sơ có chữ ký và đóng dấu của cơ sở:

+ Số, ngày hợp đồng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ký với phía nước ngoài.

+ Số, ngày hợp đồng mua hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ của phía nước ngoài (gọi tắt là hợp đồng nhập khẩu) thanh toán bù trừ với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

+ Số, ngày Tờ khai xuất khẩu của hàng hóa xuất khẩu.

+ Số, ngày Tờ khai nhập khẩu của hàng hóa nhập khẩu mua của phía nước ngoài thanh toán bù trừ với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

+ Số, ngày văn bản xác nhận với phía nước ngoài về số tiền thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ mua của phía nước ngoài.

Trường hợp sau khi thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu có chênh lệch, số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng, cơ sở kinh doanh phải kê trong Bảng kê kèm theo về số, ngày, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, số tiền thanh toán.

Các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, hợp đồng nhập khẩu mua hàng hóa, dịch vụ với phía nước ngoài phải theo đúng quy định của Luật thương mại ghi rõ: số lượng, chủng loại, giá trị hàng hóa, dịch vụ, giá bán (mua), giá gia công (đối với trường hợp gia công hàng hóa), hình thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu mua của phía nước ngoài.

Trường hợp cơ sở kinh doanh sản xuất, gia công hàng xuất khẩu thanh toán theo phương thức bù trừ với hàng nhập theo hợp đồng dài hạn với phía nước ngoài, thì cơ sở kinh doanh phải đăng ký với cơ quan Thuế về hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu, kế hoạch thanh toán với phía ngoài, định kỳ cơ sở phải có văn bản xác nhận về số lượng, giá trị hàng hóa đã thanh toán bù trừ với phía nước ngoài.

c) Hồ sơ hoàn thuế đối với trường hợp hàng hóa xuất khẩu tại chỗ bao gồm:

- Các hồ sơ nêu tại điểm 1, Mục này.

- Bảng kê các hồ sơ có chữ ký và đóng dấu của cơ sở:

+ Số, ngày Hợp đồng xuất khẩu tại chỗ ký với phía nước ngoài.

+ Số, ngày tờ khai hải quan hàng hóa xuất - nhập khẩu tại chỗ.

+ Số, ngày, số tiền của chứng từ thanh toán tiền hàng hóa xuất khẩu tại chỗ qua Ngân hàng.

3. Hồ sơ hoàn thuế đối với các cơ sở kinh doanh khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản có thuế giá trị gia tăng nộp thừa gồm:

- Công văn đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng nộp thừa vào Ngân sách Nhà nước.

- Quyết định sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước của cấp có thẩm quyền.

- Quyết toán thuế giá trị gia tăng đến thời điểm sáp nhập giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước.

4. Hồ sơ hoàn thuế đối với trường hợp nêu tại Điểm 6, Mục I Phần này bao gồm:

- Các hồ sơ nêu tại Điểm 1, Mục này [(riêng các chủ dự án đầu tư được hoàn thuế thì Bảng kê khai tổng hợp chỉ tổng hợp thuế đầu vào được hoàn, Bảng kê hóa đơn hàng hoá, dịch vụ mua vào theo mẫu số 03/GTGT và mẫu số 05/GTGT (đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT )] và gửi bổ sung cho cơ quan thuế (gửi lần đầu):

- Quyết định đầu tư của cơ quan có thẩm quyền (bản sao có xác nhận của cơ sở).

- Xác nhận bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về dự án sử dụng nguồn vốn ODA không hoàn lại (hoặc sử dụng nguồn vốn ODA vay thuộc diện được Ngân sách Nhà nước đầu tư không hoàn trả) thuộc đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng (bản sao có xác nhận của cơ sở).

Trường hợp hoàn thuế cho nhà thầu chính, nhà thầu chính phải gửi bổ sung thêm (lần đầu) văn bản xác nhận của chủ dự án về việc dự án không được ngân sách nhà nước bố trí vốn đối ứng để thanh toán cho nhà thầu theo giá có thuế giá trị gia tăng; giá thanh toán theo kết quả thầu không có thuế giá trị gia tăng và đề nghị hoàn thuế cho nhà thầu chính.

5. Hồ sơ hoàn thuế đối với trường hợp nêu tại Điểm 7, Mục I Phần này bao gồm:

- Các hồ sơ nêu tại Điểm 1 Mục này, trong đó Bảng kê khai tổng hợp chỉ tổng hợp thuế giá trị gia tăng đầu vào được hoàn, Bảng kê hóa đơn hàng hoá, dịch vụ mua vào theo mẫu số 03/GTGT, mẫu số 05/GTGT (đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng) ban hành kèm theo Thông tư này.

- Bản sao quyết định phê duyệt các khoản viện trợ của cấp có thẩm quyền (Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch UBND, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng các tổ chức Đoàn thể) theo quy định tại Điều 5 Quyết định số 28/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (bản sao có xác nhận của cơ sở).

- Văn bản xác nhận của Ban quản lý tiếp nhận viện trợ Bộ Tài chính về khoản tiền viện trợ của tổ chức phi Chính phủ nước ngoài, trong đó nêu rõ tên của tổ chức viện trợ, giá trị khoản viện trợ, cơ quan tiếp nhận, quản lý tiền viện trợ (bản sao có xác nhận của cơ sở).

III. TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1. Lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo quy định tại Mục II Phần này gửi cơ quan Thuế. Hồ sơ hoàn thuế phải kê khai đúng, trung thực và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số liệu kê khai.

2. Bổ sung hoặc giải trình theo yêu cầu của cơ quan thuế trong trường hợp hồ sơ không rõ ràng, không đầy đủ.

3. Gửi hồ sơ hoàn thuế theo quy định tại Mục II Phần này đến cơ quan Thuế; lưu giữ đầy đủ tại cơ sở các hồ sơ khác liên quan đến hoàn thuế, khấu trừ thuế; cung cấp đầy đủ hoá đơn, chứng từ và hồ sơ có liên quan làm cơ sở xác định số thuế giá trị gia tăng được hoàn khi cơ quan thuế yêu cầu thanh tra hoàn thuế tại cơ sở.

IV. THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1. Thẩm quyền giải quyết hoàn thuế:

a) Cục trưởng Cục thuế xem xét, ra quyết định hoàn thuế cho các đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Mục I Phần này.

b) Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính ra quyết định hoàn thuế cho các đối tượng và trường hợp đặc biệt khác.

2. Trách nhiệm của cơ quan Thuế trong việc hoàn thuế:

- Tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế của các đối tượng nộp thuế.

- Kiểm tra hồ sơ hoàn thuế tại cơ quan Thuế, phân loại đối tượng hoàn thuế để áp dụng quy trình hoàn thuế, đảm bảo quản lý chặt chẽ việc hoàn thuế.

- Thông báo bằng văn bản và gửi trả hồ sơ cho cơ sở kinh doanh không thuộc đối tượng được hoàn thuế; trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng được hoàn thuế nhưng hồ sơ chưa lập đầy đủ, đúng quy định, trong thời thời hạn 7 ngày (kể từ ngày nhận được hồ sơ) thông báo bằng văn bản yêu cầu cơ sở kinh doanh bổ sung hồ sơ hoặc lập lại hồ sơ.

- Kiểm tra số liệu, xác định số thuế được hoàn của các đối tượng được hoàn thuế.

- Ra Quyết định hoàn thuế cho đối tượng được hoàn thuế theo mẫu số 13/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này.

- Thực hiện kiểm tra, thanh tra hoàn thuế tại cơ sở đối với các trường hợp phát hiện hồ sơ có dấu hiệu nghi vấn, đối tượng hoàn thuế vi phạm quy định của Luật thuế.

3. Thời hạn giải quyết hoàn thuế:

- Thời hạn giải quyết hoàn thuế đối với đối tượng áp dụng hoàn thuế trước kiểm tra sau tối đa là 15 ngày (03 ngày đối với trường hợp hoàn thuế theo quy định tại điểm 6, Mục I, Phần D Thông tư này) kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định.

- Thời hạn giải quyết hoàn thuế đối với đối tượng áp dụng kiểm tra, thanh tra tại cơ sở trước khi hoàn thuế tối đa là 60 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định.

4. Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước:

Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc chi hoàn thuế giá trị gia tăng cho các đối tượng trong thời gian tối đa là 03 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế; trường hợp hoàn thuế theo quy định tại Điểm 1.b, Mục IV, Phần này, Kho bạc Nhà nước Trung ương thực hiện chi hoàn thuế theo Quyết định hoàn thuế của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Uỷ nhiệm chi của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.

5. Tiền hoàn thuế giá trị gia tăng được sử dụng từ Quỹ hoàn thuế giá trị gia tăng. Việc quản lý, sử dụng Quỹ hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định riêng của Bộ Tài chính.

6. Số ngày xem xét giải quyết hoàn thuế trong các trường hợp trên đây tính theo ngày làm việc.

Đ. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN THUẾ:

1. Hướng dẫn các cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh thực hiện chế độ đăng ký, kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo đúng quy định của Luật thuế giá trị gia tăng.

Ra thông báo nhắc nhở các cơ sở kinh doanh không thực hiện đúng các quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế; xử lý phạt vi phạm hành chính về thuế các trường hợp đã được thông báo nhưng vẫn không thực hiện.

2. Thông báo cho cơ sở kinh doanh giải trình, điều chỉnh, bổ sung hoặc kê khai lại trong trường hợp tờ khai thuế giá trị gia tăng không khai đủ, khai đúng số thuế phải nộp. Thông báo của cơ quan thuế phải gửi tới đối tượng nộp thuế trước 3 ngày so với ngày phải nộp thuế.

Thông báo nộp thuế cho những tổ chức, cá nhân (hộ) kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp về số thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế theo mẫu Thông báo nộp thuế số 08A/GTGT, 08B/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này. Thông báo nộp thuế phải gửi tới đối tượng nộp thuế trước 3 ngày so với ngày phải nộp thuế ghi trên thông báo.

3. Ra thông báo chậm nộp thuế về số tiền thuế và số tiền phạt chậm nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật thuế giá trị gia tăng đối với các cơ sở kinh doanh không nộp thuế đúng thời hạn.

Thời hạn tính phạt chậm nộp thuế hàng tháng đối với đối tượng được thực hiện như sau:

- Kể từ ngày 26 của tháng tiếp sau đối với đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế và đối tượng nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp có kê khai.

- Kể từ ngày 1 của tháng tiếp sau đối với đối tượng nộp thuế theo mức khoán ổn định.

- Kể từ ngày sau ngày phải nộp thuế theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu.

4. Áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính về thuế hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật thuế giá trị gia tăng đối với các trường hợp không chấp hành nộp tiền thuế, tiền phạt theo thông báo của cơ quan thuế.

Nếu sau khi thực hiện các biện pháp mà cơ sở kinh doanh vẫn không nộp đủ số tiền thuế, số tiền phạt thì cơ quan thuế chuyển hồ sơ sang các cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo pháp luật.

5. Kiểm tra, thanh tra việc kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế của cơ sở kinh doanh đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật.

6. Giải quyết khiếu nại về thuế theo quy định của pháp luật.

7. Yêu cầu các đối tượng nộp thuế cung cấp sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và các hồ sơ tài liệu khác có liên quan tới việc tính thuế, nộp thuế; yêu cầu các tổ chức tín dụng, ngân hàng và tổ chức, cá nhân khác có liên quan cung cấp các tài liệu có liên quan tới việc tính thuế và nộp thuế.

8. Lưu giữ và sử dụng số liệu, tài liệu mà cơ sở kinh doanh và đối tượng khác cung cấp theo chế độ quy định.

9. Cơ quan thuế có quyền ấn định thuế giá trị gia tăng phải nộp đối với các đối tượng nộp thuế trong các trường hợp sau:

a) Cơ sở kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ.

Đối với hộ kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và cơ sở kinh doanh buôn chuyến chưa thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh để xác định giá trị gia tăng và thuế phải nộp theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng nêu tại điểm 2.3, Mục III, Phần B của Thông tư này.

Đối với cá nhân, hộ kinh doanh vừa và nhỏ (gọi chung là hộ kinh doanh), số thuế ấn định phải nộp từng tháng đã phù hợp với hộ kinh doanh thì mức thuế này được xác định làm căn cứ thu thuế ổn định trong thời gian là 6 tháng hoặc 12 tháng. Cơ quan thuế có trách nhiệm thông báo công khai về mức doanh thu và số thuế ấn định đối với các đối tượng này.

Hộ kinh doanh vừa và nhỏ nộp thuế theo mức ổn định trong từng thời gian, nếu trong thời gian đó có thay đổi ngành nghề, quy mô kinh doanh phải khai báo với cơ quan thuế để xem xét, điều chỉnh mức thuế đã ấn định; trường hợp hộ kinh doanh không khai báo, hoặc khai báo không trung thực cơ quan Thuế có quyền ấn định mức thuế phải nộp cho phù hợp với tình hình kinh doanh. Những hộ nghỉ kinh doanh trong tháng từ 15 ngày trở lên được xét giảm 50% số thuế phải nộp của tháng, nếu nghỉ cả tháng thì được miễn nộp thuế của tháng đó.

Hộ kinh doanh vừa và nhỏ thuộc đối tượng nộp thuế theo mức ổn định, nếu có số ngày nghỉ kinh doanh tới mức được giảm, miễn thuế, hộ kinh doanh phải làm đơn đề nghị (theo mẫu và hướng dẫn của cơ quan thuế), khai báo cụ thể số ngày nghỉ kinh doanh, lý do nghỉ gửi cơ quan thuế quận, huyện. Cơ quan thuế kiểm tra, nếu thực tế nghỉ kinh doanh thì giải quyết miễn, giảm thuế theo chế độ.

Việc xác định hộ kinh doanh vừa và nhỏ do Cục thuế xác định theo ngành nghề phù hợp với tình hình cụ thể ở từng địa phương và để áp dụng phương pháp quản lý, thu thuế theo quy định.

b) Không kê khai hoặc quá thời gian quy định gửi tờ khai mà đã được thông báo nhắc nhở nhưng vẫn không thực hiện đúng, đã nộp tờ khai thuế nhưng kê khai không đúng các căn cứ xác định số thuế giá trị gia tăng;

Trong trường hợp cơ sở kinh doanh không gửi tờ kê khai thuế, hoặc kê khai không đầy đủ, không đúng các căn cứ xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp như thuế giá trị gia tăng đầu ra (giá bán, thuế suất), thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ, cơ quan thuế có quyền căn cứ vào tình hình kinh doanh của cơ sở và các số liệu điều tra để ấn định giá bán, doanh thu và tiền thuế giá trị gia tăng phải nộp, thông báo cho cơ sở thực hiện. Nếu cơ sở kinh doanh không đồng ý với mức thuế do cơ quan thuế ấn định có quyền khiếu nại lên cơ quan thuế cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền nhưng trong khi chờ giải quyết vẫn phải nộp theo mức thuế đã được ấn định của cơ quan thuế.

c) Từ chối việc xuất trình sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu cần thiết liên quan tới việc tính thuế giá trị gia tăng;

d) Kinh doanh nhưng không có đăng ký kinh doanh, không đăng ký, kê khai, nộp thuế mà bị kiểm tra, phát hiện;

Cơ quan thuế căn cứ vào tài liệu điều tra về tình hình hoạt động kinh doanh của cơ sở hoặc căn cứ vào số thuế phải nộp của cơ sở kinh doanh cùng ngành nghề, có quy mô kinh doanh tương đương để ấn định số thuế phải nộp đối với từng cơ sở kinh doanh trong các trường hợp nêu trên đây.

E. XỬ LÝ VI PHẠM

I. XỬ LÝ VI PHẠM VỀ THUẾ

Đối tượng nộp thuế vi phạm Luật thuế giá trị gia tăng bị xử lý như sau:

1. Không thực hiện đúng những quy định về thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế, kê khai lập sổ kế toán và giữ chứng từ hóa đơn liên quan đến việc tính thuế, nộp thuế thì tùy theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị cảnh cáo, hoặc phạt tiền.

2. Nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt ghi trong thông báo thuế, lệnh thu thuế hoặc quyết định xử phạt, thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế hoặc tiền phạt theo Luật định, mỗi ngày nộp chậm còn phải nộp phạt bằng 0,1% (một phần nghìn) số tiền chậm nộp.

3. Khai man, trốn thuế, gian lận trong hoàn thuế thì ngoài việc phải truy thu, truy hoàn đủ số thuế theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm còn bị phạt tiền từ 1 đến 5 lần số tiền thuế gian lận; trốn thuế, gian lận trong hoàn thuế với số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế mà còn có hành vi tiếp tục vi phạm nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Cơ sở kinh doanh có hành vi gian lận trong kê khai khấu trừ thuế, hoàn thuế không được khấu trừ, hoàn thuế đối với số thuế giá trị gia tăng kê khai gian lận; trường hợp đã được cơ quan Thuế giải quyết hoàn thuế thì cơ quan thuế phải thu hồi số thuế giá trị gia tăng gian lận đã hoàn; số thuế giá trị gia tăng của hồ sơ đề nghị hoàn thuế sau khi đã loại trừ số thuế giá trị gia tăng kê khai gian lận, cơ sở kinh doanh phải kết chuyển sang kỳ kê khai nộp thuế sau để bù trừ vào số thuế giá trị gia tăng phải nộp.

4. Không nộp thuế, nộp phạt sẽ bị xử lý như sau:

a) Trích tiền gửi của đối tượng nộp thuế tại ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng để nộp thuế, nộp phạt;

Ngân hàng, kho bạc, tổ chức tín dụng có trách nhiệm trích tiền từ tài khoản tiền gửi của đối tượng nộp thuế để nộp thuế, nộp phạt vào ngân sách nhà nước theo quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế hoặc cơ quan có thẩm quyền trước khi thu nợ;

b) Giữ hàng hoá, tang vật để bảo đảm thu đủ số thuế, số tiền phạt;

c) Kê biên tài sản theo quy định của pháp luật để bảo đảm thu đủ số thuế, số tiền phạt còn thiếu.

Việc xử lý các vi phạm về thuế giá trị gia tăng nói trên được thực hiện theo các thủ tục, trình tự quy định tại các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm về thuế.

II. THẨM QUYỀN XỬ LÝ VI PHẠM VỀ THUẾ

Cơ quan thuế các cấp, khi phát hiện các cơ sở kinh doanh vi phạm về Luật thuế giá trị gia tăng, phải kiểm tra xác định rõ hành vi vi phạm, mức độ, nguyên nhân vi phạm; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với hành vi vi phạm, lập hồ sơ theo quy định. Căn cứ vào các quy định và mức độ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, cơ quan thuế trong phạm vi thẩm quyền xử phạt vi phạm của từng cấp mà ra quyết định xử phạt hoặc kiến nghị lên cơ quan thuế cấp trên hoặc cơ quan pháp luật để xử lý theo quy định của pháp luật.

1. Thủ trưởng cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế được quyền xử lý đối với các vi phạm của đối tượng nộp thuế quy định tại Điểm 1, Điểm 2 và xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định tại Điểm 3, Mục I, Phần E của Thông tư này.

2. Cục trưởng, Chi cục trưởng cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế được áp dụng các biện pháp xử lý quy định tại Điểm 4, Mục I, Phần E của Thông tư này theo quy định của pháp luật và chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật đối với trường hợp vi phạm quy định tại Điểm 3, Mục I, Phần E Thông tư này.

G. KHIẾU NẠI VÀ THỜI HIỆU THI HÀNH

1. Quyền và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế trong việc khiếu nại về thuế:

Theo quy định Điều 23 của Luật thuế giá trị gia tăng, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại về việc cán bộ thuế, cơ quan thuế thi hành không đúng luật thuế giá trị gia tăng đối với cơ sở. Đơn khiếu nại phải gửi cơ quan Thuế phát hành thông báo thuế, lệnh thu hoặc quyết định xử lý trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được lệnh thu hoặc quyết định xử lý. Trong khi chờ giải quyết, tổ chức, cá nhân khiếu nại vẫn phải nộp đủ và đúng thời hạn số tiền thuế, tiền phạt đã thông báo. Nếu tổ chức, cá nhân khiếu nại không đồng ý với quyết định của cơ quan Thuế giải quyết khiếu nại, hoặc quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày gửi đơn chưa nhận được ý kiến giải quyết thì tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại lên cơ quan thuế cấp trên hoặc khởi kiện ra toà án theo quy định của pháp luật. Trường hợp cơ sở kinh doanh khiếu nại lên cơ quan Thuế cấp trên thì quyết định xử lý khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Tài chính là quyết định cuối cùng.

Thủ tục, trình tự khiếu nại hay khởi kiện và việc xem xét, giải quyết phải thực hiện đúng theo các quy định pháp luật hiện hành.

2. Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan Thuế trong việc giải quyết khiếu nại về thuế:

Theo quy định Điều 24 của Luật thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế các cấp khi nhận được đơn khiếu nại về thuế của đối tượng nộp thuế phải xem xét giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đơn. Đối với vụ việc phức tạp, phải điều tra xác minh mất nhiều thời gian, thì cần thông báo cho đương sự biết, nhưng thời gian giải quyết chậm nhất cũng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đơn; nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển hồ sơ hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho đương sự biết trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Cơ quan thuế kiểm tra phát hiện và kết luận có sự khai man, trốn thuế hoặc nhầm lẫn về thuế, xử lý phạt thì cơ quan thuế có trách nhiệm truy thu hoặc hoàn trả số tiền thuế, tiền phạt tính không đúng trong thời hạn năm năm về trước, kể từ ngày kiểm tra phát hiện có sự khai man, trốn thuế hoặc nhầm lẫn về thuế. Trường hợp cơ sở kinh doanh không đăng ký kê khai, nộp thuế thì thời hạn truy thu tiền thuế, tiền phạt kể từ khi cơ sở kinh doanh bắt đầu hoạt động.

H. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

I. TỔ CHỨC THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

1. Cơ quan thuế chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, thu thuế giá trị gia tăng và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với cơ sở kinh doanh.

2. Cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thu thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu.

II. HIỆU LỰC THI HÀNH

- Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 01/01/2004 và thay thế Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng; Thông tư số 82/2002/TT-BTC ngày 18/9/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 (nêu trên); Thông tư số 116/2002/TT-BTC ngày 25/12/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 108/2002/NĐ-CP ngày 25/12/2002 của Chính phủ về việc bãi bỏ quy định khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào theo tỷ lệ (%) đối với một số hàng hóa, dịch vụ; Thông tư số 84/2003/TT-BTC ngày 28/8/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế suất thuế giá trị gia tăng theo Danh mục hàng hóa nhập khẩu; Thông tư số 164/1998/TT-BTC ngày 17/12/1998 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động dịch vụ bưu chính viễn thông. Các quy định trái với hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ.

- Việc áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số trường hợp cụ thể như sau:

+ Cơ sở xây dựng, lắp đặt có hợp đồng xây dựng, lắp đặt đã ký trước ngày 01/01/2004 theo giá đã có thuế giá trị gia tăng với thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nhưng đến ngày 31/12/2003 các công trình xây dựng, lắp đặt dở dang chưa hoàn thành thì tiếp tục được áp dụng thuế suất thuế 5% cho phần khối lượng, hạng mục công trình xây dựng, lắp đặt thực hiện còn lại theo hợp đồng.

+ Cơ sở kinh doanh có dự án đầu tư xây dựng nhà để bán, đã ký hợp đồng bán nhà theo giá đã có thuế giá trị gia tăng với thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%, đã thu tiền của người mua tối thiểu là 30% giá trị hợp đồng trước ngày 1/1/2004, thì được áp dụng thuế suất 5% cho các hợp đồng này.

Trong tháng 1/2004, cơ sở xây dựng, lắp đặt, xây dựng nhà để bán phải khai báo với cơ quan thuế trực tiếp quản lý danh sách các hợp đồng xây dựng, lắp đặt, mua bán nhà được áp dụng thuế suất 5% theo hướng dẫn trên.

- Từ 01 tháng 01 năm 2004 cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng của nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, chịu thuế tiêu thụ đặc biệt mua vào trước ngày 01 tháng 01 năm 2004. Thời hạn kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng của các hóa đơn này không qua 3 tháng kể từ tháng phát sinh.

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc đề nghị các đơn vị, cơ sở kinh doanh phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu hướng dẫn bổ sung./.

 

 

KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
THỨ TRƯỞNG




Trương Chí Trung

 

 

 

THE MINISTRY OF FINANCE
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
----------

No. 120/2003/TT-BTC

Hanoi, December 12, 2003

 

CIRCULAR

GUIDING THE IMPLEMENTATION OF THE GOVERNMENT’S DECREE NO. 158/2003/ND-CP OF DECEMBER 10, 2003 DETAILING THE IMPLEMENTATION OF THE VALUE ADDED TAX LAW AND THE LAW AMENDING AND SUPPLEMENTING A NUMBER OF ARTICLES OF THE VALUE ADDED TAX LAW

Pursuant to Value Added Tax (VAT) Law No. 02/1997/QH9 of May 10, 1997;
Pursuant to Law No. 07/2003/QH11 of June 17, 2003 Amending and Supplementing a Number of Articles of VAT Law;
 Pursuant to the Government’s Decree No. 158/2003/ND-CP of December 10, 2003 detailing the implementation of the VAT Law and the Law Amending and Supplementing a Number of Articles of the VAT Law;
Pursuant to the Government’s Decree No. 77/2003/ND-CP of July 1, 2003 defining the functions, tasks, powers and organizational structure of the Ministry of Finance;
The Ministry of Finance hereby guides the implementation as follows:

A. SCOPE OF APPLICATION OF VAT

I. OBJECTS SUBJECT TO VAT AND VAT PAYERS

1. Objects subject to VAT:

Objects subject to VAT are goods and services used for production, business and consumption in Vietnam (including goods and services purchased from organizations and individuals abroad), except for those not subject to the tax as mentioned in Section II, Part A of this Circular.

2. VAT payers:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Organizations and individuals engaged in producing and dealing in goods and/or services include:

- Business organizations set up and registering business under the Law on Enterprises, the Law on State Enterprises and Law on Cooperatives;

- Economic organizations of political organizations, socio-political organizations, social organizations, socio-professional organizations, people’s armed force units, non-business organizations and other organizations;

- Foreign-invested enterprises and foreign parties to business cooperation contracts under the Law on Foreign Investment in Vietnam; foreign organizations and individuals conducting business activities in Vietnam, which do not belong to the investment forms under the Law on Foreign Investment in Vietnam;

- Individuals, households, independent groups of business people and other business subjects engaged in production, business and/or import activities.

II. OBJECTS NOT SUBJECT TO VAT:

The following goods and services shall not be subject to VAT:

1. Cultivation products (including products from planted forests), husbandry products, cultured and fished aquatic and marine products that have not yet been processed into other products or have just been commonly preliminarily processed then sold by producing or fishing organizations and individuals themselves.

Commonly preliminarily processed products stated at this Point are those which have just been sun-dried, heat-dried, frozen, cleaned or peeled but not yet processed at a higher degree or into other commodity products.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. Products being animal breeds and plant varieties such as breeding eggs an animals, saplings, seeds, sperms, embryos, genetic materials at the stages of rearing, importation and trading. Products being animal breeds and plant varieties not subject to VAT are those imported and/or traded by the establishments which have been granted the animal breed and/or plant variety business registration certificates by State management bodies. For products being animal breeds and plant varieties subject to quality standards promulgated by the State, they must satisfy the State-prescribed conditions.

3. Salt products, including salt made from seawater, natural rock salt, refined salt, iodized salt.

4. The following imports shall not be subject to VAT:

- Equipment, machinery, special-use transport means forming part of  technological chains, and construction supplies of those types which cannot be produced at home and need to be imported for the formation of the fixed assets of enterprises;

- Equipment, machinery, supplies and transport means of those types which cannot be produced at home and need to be imported for direct use in scientific research and technological development activities;

- Aircraft, derricks and ships of types which cannot be produced at home and need to be hired from foreign countries for use in production and business;

- Equipment, machinery, spare parts, special-use transport means and supplies for activities of prospecting and developing oil and gas fields; spare parts and equipment of aircraft, specific equipment used exclusively for aircraft (of those types which cannot be produced at home);

In cases where production and/or business establishments import chains of complete equipment and machinery not subject to VAT, which, however, include equipment and machinery of those types which can be produced at home, the whole chains of complete equipment and machinery shall not be subject to VAT.

Enterprises in this case include enterprises set up under the Law on State Enterprises, the Law on Enterprises or the Law on Cooperatives; foreign-invested enterprises and foreign parties to business cooperation under the Law on Foreign Investment in Vietnam; foreign organizations and individuals conducting business activities in Vietnam, which do not belong to any investment forms under the Law on Foreign Investment in Vietnam.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



In order to prove that their goods are not subject to VAT at the importation stage as prescribed at this Point, the importing establishments must produce to the customs offices the following documents:

+ Import contracts.

In case of consigned import, import consignment contracts shall be also required.

Where the establishments have succeeded in their bids to supply goods for the subjects for use for the purposes prescribed at this Point, the bid-winning notices and contracts for sale to enterprises in compliance with the bidding results shall be also required.

Where financial leasing companies import goods for financial leasing, the financial leasing contracts shall be also required.

In case of import of goods in service of scientific research and technological development, the competent bodies’ documents assigning the organizations to carry out scientific research and technological development programs, projects or subjects or the science and technology contracts between the ordering party and the party performing such science and technology contracts shall be required.

+ Certification by the enterprise directors or the heads of the scientific research institutions that the imported goods shall be used as fixed assets; used directly in scientific research and technological development activities, used in activities of exploring and developing oil and gas fields, or that they are of those types used exclusively for aircraft.

Particularly for aircraft, derricks or ships hired from abroad, which are of those types which cannot yet be produced at home and shall be used for production and business, they shall not be subject to VAT; the hiring establishments shall only be required to produce to the customs offices the hiring contracts signed with foreign parties.

The above-said import goods of those types which cannot be produced at home and need to be imported shall be determined on the basis of the list of machinery, equipment, special-use transport means, construction supplies, materials and spare parts of those types which can be produced at home, promulgated by the Ministry of Planning and Investment. 

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



6. Transfer of land use right.

7. Credit services and investment funds, including activities of lending capital, guaranteeing loans, discounting negotiable instruments and valuable papers such as currencies, selling loan security assets in order to retrieve debts, financial leasing of financial credit institutions in Vietnam; activities of transferring capital in accordance with law, and securities-trading activities.

Securities trading activities mentioned at this Point include such activities as brokerage, dealing, investment portfolio management, issuance underwriting and securities investment counseling.

8. Life insurance; school pupil insurance and such person insurance services as of sailor or crew member accident insurance, person accident insurance (including also insurance for accidents, life in combination with hospitalization), passenger accident insurance, tourist insurance, insurance of accidents for  drivers and driver assistants and persons aboard vehicles, insurance for sterilized persons, insurance of allowance for surgical operations, insurance for individuals’ lives, insurance for electricity users and other kinds of insurance related to persons; insurance for domestic animals, plants, other agricultural insurance, and insurance of non-commercial types such as social insurance, medical insurance and labor insurance.

9. Medical examination, medical treatment and epidemic prevention services, birth control services, health convalescence and rehabilitation services for patients, and veterinary services.

10. Products and services in the following cultural, art, physical training and sport domains:

- Cultural, exhibition as well as physical training and sport activities, organization of exercises and competitions of mass movement nature, whether or not collecting money in the form of sale of admission tickets or exercise charges but not for commercial purposes. Other revenues such as proceeds from goods sale, lease of playgrounds, fair or exhibition stalls… shall be liable to VAT.

- Art performance activities such as classical dramas, folk operetta, reformed drama, singing, dancing, music, dramas, circus; other art show activities and art performance-organizing services.

- Production of assorted films (video-recorded) regardless of their themes and genres.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+ For film recorded in video tapes or discs, they must be documentaries, reportage and science films.

The film genres and themes shall be determined according to the regulations of the Ministry of Culture and Information.

11. Teaching and vocational training, including general education, teaching of foreign languages, informatics, dancing, singing, painting, music, drama, circus, physical training, sports, child nursing, and other jobs in order to train, foster and raise the educational levels and professional knowledge for everyone.

12. Radio and television broadcasting under programs funded with the State budget;

13. Publication, import and distribution of newspapers, journals, specialized bulletins, political books, textbooks (also in the form of audio or video tapes or discs, electronic data), course books, law books (books of legal documents, documents, resolutions and other regulatory documents); scientific-technical books, books printed in ethnic minority languages as well as propaganda  drawings, photos and posters; printing of money and money-value certificates (checks, bonds, treasury bills, credit bills…); cash remitted from abroad into Vietnam.

Newspapers, journals and specialized bulletins also include the transmission of pages thereof.

Political books are books disseminating the political lines of the Party and the State in service of political tasks, under specific themes or topics, in service of anniversaries, traditional days of organizations, levels, branches and localities; statistical books, books propagating the good people and good deeds movement; books of speeches, research and theoretical papers of Party and State leaders.

Textbooks are books used for teaching and learning at all educational levels from preschool to senior high school (including reference books for use by teachers and pupils, suitable to the contents of education programs).

Course books are books used for teaching and learning in universities, colleges, intermediate professional and job training schools.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Scientific and technical books are books used for introducing and guiding scientific and technical knowledge directly related to production an various scientific and technical branches.

Books printed in ethnic minority languages also include books printed bi-lingually in Vietnamese and an ethnic minority language.

Pictures, photos, posters, leaflets and brochures for the propaganda and mass mobilization purposes, slogans, leaders’ pictures, the Party’s flag, the national flag, the Youth Union’s flag, the Young Pioneers League’s flag.

Audio or video tapes and discs recorded with the contents of the above-said books.

14. Public services, such as sanitation, water drainage, maintenance of zoos, flower gardens, parks, street greenery, public lighting and funeral services, regardless of their payment funding sources.

Public services in street sanitation and water drainage include activities of gathering, cleaning, transporting and treating garbage and waste matters, draining water and treating waste water.

Maintenance of zoos and parks includes activities of managing, planting trees, tending and protecting birds, animals and trees in parks, zoos, public places and national gardens.

Funeral services include activities of leasing houses and cars in service of funerals by funeral service-providing organizations; burial and cremation.

For activities for which charges and fees are collected according to the State’s charge and fee regime, these revenues shall not be subject to VAT.     

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



16. Mass transit by bus and tramcar or bus and tramcar transport establishments set up and operating under the regulations of the Ministry of Communications and Transport in service of the travel demands of people in inner cities, urban centers, within industrial parks or between urban areas and nearby industrial parks along routes with stops, travel timetables and fares prescribed by competent authorities.

17. The State’s basic surveys funded with the State budget (including geological, mineral, water resource, metro-hydrological, environmental survey and exploration; surveying and mapping).

18. Irrigation and water drainage in service of agricultural production; clean water exploited by organizations or individuals themselves in rural, mountainous, island, deep-lying and remote areas in service of daily life in such areas.

19. Weaponry and military equipment for exclusive use in service of national defense and security.

- The list of weaponry and military equipment for exclusive use in service of national defense and security is prescribed in Appendix No. 3 promulgated together with this Circular.

These weaponry and military equipment also include finished products made in complete sets or parts, accessories and packages used exclusively for assembling and maintaining finished products.

Activities of repairing weaponry and military equipment used exclusively in service of national defense and security shall be carried out by enterprises of the Ministry of Defense or the Ministry of Public Security.

- Weaponry and military equipment (including supplies, machinery, equipment and spare parts) used exclusively in service of national defense and security shall, when imported, be exempt from import tax in accordance with the provisions of the Export Tax and Import Tax Law, or shall, when imported within annual quotas approved by the Prime Minister, not be subject to VAT.

The establishments which import the above-said VAT-free weaponry and military equipment for exclusive use in service of national defense and security must send to the customs offices the following dossiers:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+ The list of import goods within the import quotas approved by the Prime Minister (granted by the Ministry of Trade or the General Department of Customs).

+ The import consignment contracts (in case of consigned import).

20. Goods imported in the following cases: humanitarian aid or non-refundable aid goods (including imported goods belonging to the source of non-refundable ODA capital); gifts for State agencies, political organizations, socio-political organizations, social organizations, socio-professional organizations and/or people’s armed force units; presents and gifts for individuals in Vietnam; belongings of foreign organizations and individuals within the diplomatic immunity limits; and personal effects in duty-free luggage limits; goods being belongings brought along by overseas Vietnamese upon their returns to the country.

The quantities of import goods falling into the  categories not subject to VAT at the importation stage shall be equal to the import duty-free quantities prescribed in the Export Tax and Import Tax Law and documents guiding the implementation thereof.

Imported goods of organizations and individuals eligible for diplomatic immunities under the Ordinance on Diplomatic Immunities shall enjoy VAT privileges and immunities according to current regulations. In cases where such organizations or individuals purchase goods and services in Vietnam and pay VAT thereon, they shall be refunded such paid VAT amounts under the guidance at Point 8, Section I, Part D of this Circular. The subjects, goods and procedural dossiers for enjoying VAT privileges and immunities guided at this Point shall comply with the guidance in the Finance Ministry’s Circular No. 08/2003/TT-BTC of January 15, 2003 guiding the refund of VAT to diplomatic missions, consular offices and representative agencies of  international organizations in Vietnam.

For imported goods being humanitarian or non-refundable aid goods, written certifications by the Ministry of Finance shall be required.

The General Department of Customs shall provide specific guidance on the dossiers and procedures for handling imported goods not subject to VAT at the importation stage in these cases.

21. Goods sold to international organizations and foreigners for use as humanitarian aid or non-refundable aid to Vietnam;

The procedures for international organizations or foreigners to purchase goods in Vietnam for use as humanitarian aid or non-refundable aid to Vietnam and  enjoy VAT exemption: International organizations or foreigners must send to the selling units documents clearly stating the names of the international organizations or foreigners purchasing goods for use as humanitarian aid or non-refundable aid to Vietnam, the quantity or value of purchased goods; and written certification by the Ministry of Finance of such aid.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



22. Goods transshipped, transited or transported by land through the Vietnamese territory; goods temporarily imported for re-export, goods temporarily exported for re-import, raw materials and materials imported for production or processing of goods for export under export production or processing contracts signed with foreign parties.

Goods not subject to VAT in this case shall be settled by the customs offices. The General Department of Customs shall guide the procedures for VAT determination and non-collection of VAT in these cases.

23. Goods and services supplied to the following subjects and in the following cases:

- Goods and services supplied directly for international transport such as supply of fuel, raw materials and materials, spare parts, water and assorted food and rations for passengers, services for sea-going ship, aircraft and international train sanitation and for loading and unloading of export goods.

- International cargo and passenger transportation.

International transportation includes transportation by foreign countries or domestic transportation business establishments engaged in cargo and passenger transportation from Vietnam to foreign countries or vice versa, cargo transportation between foreign seaports.

Where the transportation service-providing establishments sign contracts for transportation of cargo and/or passenger abroad, the revenues from transportation services, which are not subject to VAT, shall be the revenues actually collected from customers. Where such transportation services cover also domestic transportation and the revenues from domestic and international transportation are inseparable, the revenues not subject to VAT shall include also those from domestic transportation.

- Re-insurance services to foreign countries.

- Goods on sale at duty-free shops at international airports, sea ports, railway stations and border gates.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- Goods and services exported by export-processing enterprises; goods and services purchased and sold among export-processing enterprises; goods and services supplied by foreign organizations and individuals to export-processing enterprises.

24. Technology transfer, computer software, excluding software for export.

Technology transfer shall be determined under the provisions in Chapter III “Technology Transfer” of the Civil Code of the Socialist Republic of Vietnam and documents guiding the implementation thereof. For contracts on technology transfer accompanied by machinery and equipment, tax shall not be imposed on the value of the transferred technology.

Computer software (excluding computer software for export) includes software products and software services as prescribed in the Prime Minister’s Decision No. 128/2000/QD-TTg of November 20, 2000 on a number of policies and measures to encourage investment in, and development of, the software industry.

25. Post, telecommunications and Internet services universalized under the Government’s programs.

26. Gold imported in the form of bar or ingot and gold not yet processed into fine-art articles, jewelry or other products.

Gold in the form of bar or ingot and unprocessed gold shall be determined in accordance with international regulations.

27. Export products being exploited mineral resources not yet processed into other products, specifically as follows:

- Crude oil.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- Gems.

- Manganese, tin, iron, chromite, emenite and apatite ores.

28. Products being artificial parts used for substitution of diseased people’s organs; crutches, wheelchairs and other tools used exclusively for the disabled.

29. Goods and services of business individuals with average monthly incomes lower than the minimum salary level prescribed by the State for State employees. Incomes shall be determined to be revenues from business activities minus (-) reasonable expenses for such business activities.

Business households with low incomes and not liable to pay VAT shall be examined, determined and listed by the Tax Sub-Departments in coordination with the tax advisory councils. Such business households shall be notified thereof in writing.

In the period when the business households are notified not to be liable to pay VAT, if their business situation changes so that their incomes are higher than the prescribed income level, the Tax Sub-Departments must notify the business households thereof and put them into the category liable to pay VAT as from the month the business households earn incomes higher than the prescribed level.

Business establishments shall not be entitled to deduct, and to be refunded with, input VAT on goods and services used for the production and trading of goods and services not subject to VAT prescribed in this Article but must include them in the original prices of fixed assets, the value of raw materials and materials or business costs.

B. TAX CALCULATION BASES AND TAX CALCULATION METHODS

The bases for calculating VAT are tax calculation prices and tax rates.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



The VAT calculation prices of goods or services shall be specifically determined as follows;

1. For goods and services sold or supplied by production and/or business establishments to other subjects, their VAT calculation prices are VAT-exclusive sale prices. For goods and services subject to special consumption tax, their VAT calculation prices shall be sale prices inclusive of special consumption tax but not VAT.

The tax calculation prices of goods and services cover also additional levies and  surcharges collected in addition to the goods or service prices, which are enjoyed by the business establishments, excluding those which the business establishments must remit into the State budget. In cases where the business establishments apply discounted sale prices, the VAT calculation prices shall be the discounted sale prices inscribed in the invoices.

2. For imported goods, their VAT calculation prices shall be the import prices at the border gates plus (+) import tax (if any), plus (+) special consumption tax (if any). The import prices at the border gates serving as a VAT calculation base shall be determined according to the regulations on tax calculation prices of imported goods.

Example: An establishment imports 4-seat cars in complete units with the import tax calculation price of VND 300,000,000 each.

- The import tax rate is 100%, the special consumption tax rate is 80%, and the VAT rate is 10%.

- The payable import tax:

VND 300,000,000 x 100% = VND 300,000,000

- The payable special consumption tax:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- The VAT calculation price is:

(VND 300,000,000 + VND 300,000,000 + VND 480,000,000) = VND 1,080,000,000

- The payable VAT is:

VND 1,080,000 x 10% = VND 108,000,000

Where the imported goods are eligible for import tax exemption or reduction, the VAT calculation prices shall be the prices of the imported goods plus (+) import tax to be paid after the exemption or reduction.

3. For products, goods and/or services used for exchange, as presents, gifts or salary substitutes (except for products, goods and services used for sale promotion or advertisement under the provisions of  the Government’s Decree No. 32/1999/ND-CP of May 5, 1999 on sale promotion, commercial advertisement, trade fairs and exhibitions not subject to VAT), their VAT calculation prices shall be determined as equal to the tax calculation prices of products, goods or services of the same or equivalent types at the time such activities are carried out.

Example: Establishment A manufactures electric fans. It exchanges 50 fans with establishment B for iron, steel at the sale price (exclusive of tax) of VND 400,000/fan. The VAT amount payable for these exchanged fans is:

VND 400,000/fan x 50 fans x 10% = VND 2,000,000

4. For products, goods or services delivered by business establishments for consumption not in service of production and/or business or for the production and trading of goods and services not subject to VAT, their output VAT must be assessed. Their tax calculation prices shall be equal to the sale prices of products, goods or services of the same or equivalent types at the time of consumption.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



5. For services supplied by foreign parties to consumers in Vietnam, their VAT calculation prices shall be the service prices payable to the foreign parties.

Example: Company A in Vietnam hires a foreign company to repair sea-going ships. If the contractual price payable to such foreign company is VND 100 million, Company A must calculate and pay VAT of 10% of VND 100 million.

6. Services of leasing assets such as houses, offices, workshops, warehouses, wharves, yards, transport means, machinery, equipment, etc.

The VAT calculation prices shall be the tax-exclusive rent rates. In case of leasing with rent paid in installments or prepaid for a leasing term, VAT shall be calculated on each installment or the prepaid rent, including also amounts collected in other forms such as those for renovation, repair and upgrading of leased houses at the lessees’ requests.

The asset rent agreed upon by the involved parties shall be determined according to contracts. Where the rent bracket is prescribed by law, the rent shall be determined within the prescribed bracket.

7. For goods sold by mode of installment payment, their tax calculation prices shall be the lump-sum VAT-exclusive sale prices of such goods (excluding installment payment interests) and must not be calculated according to each installment.

Example: A motorbike trading company sells 100-cc Honda motorbikes. The lump-sum VAT-exclusive sale price is VND 25.5 million (including the installment interest of VND 0.5 million). The VAT calculation price shall be VND 25 million/motorbike.

8. For goods processing, the tax calculation prices shall be VAT-exclusive processing prices consisting of charges, costs of fuel, power, auxiliary materials and other processing expenses incurred by the processing parties.

9. For construction and installation

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Example: Construction company A enters into a contract to build works, including the contracted supply of construction supplies. The total payment value exclusive of VAT is VND 1,500 million, of which the value of construction supplies is VND 1,100 million. The VAT calculation price shall be VND 1,500 million.

- For cases of construction and installation without the contracted supply of raw materials and materials, the tax calculation price shall be the construction and installation value exclusive of VAT and the value of raw materials and materials.

Example:  Construction company X is contracted to build works with supplies to be provided by the work owner. If the construction value exclusive of VAT and construction supplies is VND 600 million, then the VAT calculation price in this case shall be VND 600 million.

- For cases of construction and installation with payments to be made on the basis of completed and handed-over construction items or the value of construction and installation volume, the tax calculation price shall be the VAT-exclusive value of the completed and handed-over construction items or work volume.       

Example: Textile company X (called Party A) hires construction company Y (called Party B) to perform construction and installation to expand a production workshop.

The total VAT-exclusive value of the work is VND 200 billion, of which:

- The construction and installation value is VND 80 billion

- The value of equipment supplied and installed by Party B is VND 120 billion.

+ Party B shall additionally charge a 10% VAT of VND 20 billion

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+ Party A shall receive the workshop, account it as an increase in the value of its fixed assets for depreciation calculation of VND 200 billion (the VAT-exclusive value)             

- The VAT of VND 20 billion already paid shall be deducted into the output tax of the sold goods or refunded at requests according to regulations. 

If Party A accepts to make payment to Party B for each construction item (presuming that the workshop construction is completed first and paid for first), when Party A calculates the amount of VND 80 billion to be paid for the workshop construction, it must add the 10% VAT for payment to Party B. The payable amount inclusive of VAT shall be VND 80 billion + VND 8 billion = VND 88 billion.

10. For business establishments which are assigned land by the State for building houses and technical infrastructures for sale, for transfer accompanied with the transfer of the land use right, the VAT calculation prices of sold or transferred houses or infrastructures shall be the sale prices or transfer prices without tax minus land use levies based on land prices prescribed at the time of land assignment.

Example: Housing Investment and Development Company X is assigned 10,000 m2 of land for building houses for sale, of which 3,000 m2 is used for building internal roads in the planned area and not liable to land use levy. Land use levy payable into the State budget is VND 200,000/m2. The company sells one house on a land area of 50 m2 at the sale price and land use right transfer levy without VAT of VND 300 million (of which the sale price is VND 200 million and the land use right transfer levy is VND 100 million).

The VAT calculation price of the above-said house is:

VND 300 million - (50 m2 x VND 200,000/m2) = VND 290 million

The output VAT is: VND 290 million x 10% = VND 29 million

- For business establishments leased land by the State for investment in infrastructures in industrial parks, high-tech parks or other economic zones as prescribed by the Government for sub-lease, the tax calculation prices shall be the VAT-exclusive rents minus the land rents to be remitted into the State budget.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



The VAT calculation price for annual revenues from the lease of infrastructures is:

(5,000 m2 x VND 100,000) - (5,000 m2 x VND 30,000) x 01 year = VND 350,000,000.

The VAT is: VND 350,000,000 x 10% = VND 35,000,000.

11. For real estate dealing activities, the VAT calculation prices for houses or infrastructures affixed to land shall be allowed to exclude the land prices calculated according to the rates prescribed by the provincial/municipal People’s Committees at the time of sale of real estates.

12. For ocean shipping agency services, brokerage services, export and import consignment as well as other services enjoying remuneration or commissions, their tax calculation prices shall be the enjoyed remuneration or commissions exclusive of VAT.

13. For transportation, loading and unloading, the tax calculation prices shall be the freights or loading and unloading charges exclusive of VAT, regardless of whether the establishments directly undertake the transportation, loading and unloading or hire such services.

14. For goods and services of specific nature for which such vouchers as postal stamps, freight tickets, construction lottery tickets… are used and recorded with the payment prices inclusive of VAT, their VAT-exclusive prices shall be determined as follows:

     The VAT-                   The payment price (proceeds from the sale of tickets, stamps…)
     exclusive      =              ———————————————————————————   price                 1 + the tax rate (%) applicable to such goods or service

Example: A provincial post office sells 10,000 stamps at the price of VND 400 each. The tax-exclusive price and VAT of this quantity of stamps shall be calculated as follows:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+            The                             VND 4,000,000
       VAT-exclusive       =        —————————         
             price                                 1 + 10%

                                  =                 VND 3,636,363

+ The payable 10% VAT = VND 3,636,363 x 10% = VND 363,636

- For tourist services in the form of tours under contracts signed with tourists at package prices (inclusive of meal, accommodation, travel),  such package prices shall be regarded as tax-inclusive prices for calculating VAT and revenues of the business establishments. Where the package prices cover such items not subject to VAT as air tickets for tourists coming from abroad into Vietnam and from Vietnam abroad, expenses for meals, lodgings and sight-seeing abroad (if accompanied by valid vouchers), such expenses shall be allowed to be excluded from the VAT calculation prices (revenues).

Example 1: Ho Chi Minh City Tourist Company performs a package tour contract with Thailand for 50 tourists for 05 days in Vietnam with the total payment of USD 32,000. The Vietnamese side has to pay all expenses for airfares, meals, accommodation, and sight-seeing tours under the agreed program, of which the airfares from Thailand to Vietnam and vice versa cost USD 10,000. The output VAT under this contract is determined as follows:    

+ Turnover subject to VAT is:

USD 32,000  - USD 10,000 = USD 22,000

+ The output VAT is:

USD 22,000
——————  x  10%  =  USD 2,000
   1 + 10%    

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



USD 32,000 - USD 2,000 = USD 30,000

+ The deductible input VAT shall be determined according to regulations for calculating the payable VAT amount.

Example 2: Hanoi Tourist Company performs a contract for taking tourists from Vietnam to China on a five-day tour at the package price of USD 400/person. If it has to pay a Chinese tourist company USD 300/person, its taxable turnover shall be USD 100/person (USD 400 - USD 300).

15. For pawning services, the tax calculation price is the amount to be collected from this service, including interests receivable from pawn loans and  differences earned from the sale of pawned articles {(auction turnover minus  (-) the amounts (if any) payable to customers minus (-) loans)}.        

Revenues from this service shall be determined as the VAT-inclusive prices.

Example:

A pawning company generates in the tax calculation period a pawning turnover of VND 110 million.

+ The output VAT is determined as follows:

VND 110 million
————————   x  10%  =  VND 10 million
        1 + 10% 

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



VND 110 million  - VND 10 million  = VND 100 million

16. For books, newspapers and journals sold at their distribution prices (cover prices) under the provisions of the Publication Law, such sale prices are determined as VAT-inclusive prices for calculation of VAT and the establishments’ turnover (for VAT-liable ones). For cases where books, newspapers and journals are not sold at their cover prices, VAT shall be calculated on the basis of sale prices.

Publication is a process of turning out publications from the drafting stage to the stage of distributing such publications to customers.

Example: The Literature Publisher sells literary books to a book-distributing company:

The cover price (VAT-inclusive price) is VND 6,300/book. The distribution charge (25%) is VND 1,575/book 

The VAT calculation price is determined as follows:

+ Where the Publisher distributes its publication through the distributing establishments, the tax calculation price of the publication is determined as follows:

                   The tax                               The cover price - The distribution charge
       calculation price at the      =            ——————————————————
            publishing stage                                          1 + The tax rate

 

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



  VND 6,300  - VND 1,575
———————————   =   VND 4,500/book
              1  +  5%

The output VAT at the publishing stage is:

VND 4,500/book x 5% = VND 225/book.

The total payment amount is:

VND 4,500/book + VND 225/book = VND 4,725/book

The tax calculation price at the distributing stage (at the book-distributing company) is:

   VND 6,300
——————  =    VND 6,000/book
    1  +  5%

The output VAT is: VND 6,000/book x 5% = VND 300/book

The VAT payable at the book-distributing stage is:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



(Presuming that there is no other input VAT).

+ Where the Publisher directly distributes its publication to users, the VAT calculation price of the publishing activity is determined as follows: 

        The tax calculation                    The cover price
             price at the            =        —————————
         publishing stage                     1  + The tax rate

Where the Publisher consigns the sale of its publication at the fixed (agent’s) price, the use of invoices and documents, the tax declaration and payment by the Publisher and the consignee shall be the same as in the case where the goods are sold at their fixed prices through commission agents.

The sale prices printed on the book covers minus the distribution expenses must not be lower than the standard-page cost. Where the sale price printed on the book cover minus the distribution expense is lower than the standard-page cost and the publisher has the input VAT larger than the output VAT, it shall not be entitled to tax refund.

17. For printing activities, the tax calculation price shall be the printing cost.

Where a printing establishment performs printing contracts with the payment price covering the printing cost and the paper cost, the tax calculation price shall also include the paper cost.

18. For the services of expertise agency, agency for indemnity consideration, and agency for claim against the third parties, of the insurance business service, the tax calculation price shall be the earned remuneration or commission, including the expenses collected by the insurance business units.

II. VAT RATES:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. The 0% tax rate shall be applicable to export goods and services. Export goods and services include also goods processed for export, export goods and services not subject to VAT (excluding the service of travel tours abroad, the service of reinsurance abroad; the service of credit, financial investment and securities investment abroad, and goods and services prescribed at Point 23, Point 27, Section II, Part A of this Circular).

- Export goods include goods exported abroad, sold to enterprises in export processing zones and other cases regarded as export prescribed by the Government, such as:

+ Intermediate processed goods for export, as prescribed in Article 17 of the Government’s Decree No. 57/1998/ND-CP of July 31, 1998 detailing the implementation of the Commercial Law regarding the activities of goods export, import, processing, purchase and sale agency with foreign countries. This case shall apply to goods processed for export directly by the establishments under the processing contracts signed between such establishments and foreign parties (called the consignors), but the processed goods are not yet exported but delivered to other domestic units (called the consignees) designated by the foreign parties for further processing into finished products under the processing contracts already signed with the foreign parties, and the processing remuneration shall be paid directly by the foreign parties.

+ Goods consigned for export processing. In this case an establishment signs a processing contract directly with the foreign party but then sign another contract to assign the processing to another contract. The establishment signing the contract directly with the foreign party shall only enjoy a commission from the processing charge.

+ Goods turned out by enterprises in Vietnam and sold to foreign countries but delivered to other enterprises in Vietnam under the foreign parties’ designation (called goods exported on spot for short) for use as raw materials for production or processing of export goods.

+ Goods exported for sale at overseas fairs and exhibitions.

- Export services are services which have been provided directly to organizations or individuals abroad and consumed outside the Vietnamese territory.

Assorted goods and services sold to export- processing enterprises and into export-processing zones: insurance; banking; post and telecommuni-cations; consultancy;audit, accounting; transportation; loading and unloading; lease of houses, offices, storehouses and yards; goods and services provided for consumption demands of individual laborers; petrol and oil sold for transport means shall not be regarded as being exported so as to enjoy the 0% tax rate, but they shall be subject to VAT at the rates prescribed for goods consumed in Vietnam.

2. The tax rate of 5% shall be applicable to the following goods and services:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2.2. Fertilizers, ores used for fertilizer production; insecticides, pesticides and growth stimulants for domestic animals and cultivation plants.

- Fertilizers include organic and inorganic fertilizers such as phosphorous fertilizers, nitrogenous fertilizers (urea), NPK fertilizer, mixed nitrogenous fertilizer, phosphorous fertilizer, potassium, micro-biological fertilizer, etc.

- Ores used as raw materials for fertilizer production like apatite ore used for production of phosphorous fertilizer, muddy soil for production of micro-biological fertilizer.

- All kinds of insecticides, cockroach killers, rodenticides, termiticides, pesticides, fungicides, herbicides, growth inhibitors or stimulants for domestic animals and cultivation plants, etc.

2.3. Specialized medical equipment, machinery and instruments, such as scanners, projectors, cameras of various kinds for use in medical examination and treatment, devices and instruments used exclusively in surgery, wound treatment, ambulances, blood-pressure, cardiac and vascular meters, syringes and needles, blood transfusion instruments, contraceptive devices and other specialized medical equipment; medical cotton, bandages, gauzes, medical hygienic bandages, women sanitary napkins.

2.4. Curative and preventive medicines for human and animal use (including vaccines, immuno-biologicals, distilled water for preparation of injections); pharmaco-chemical products, pharmaceutical materials used for production of curative and preventive medicines on the lists of goods included in Appendices 1 and 2 issued together with this Circular.

2.5. Teaching and learning aids, including models, drawings, rulers, writing boards, chalks, compasses used for teaching and learning purposes, and specialized teaching, learning, research and laboratory equipment and instruments.

2.6. Printing of products not subject to VAT prescribed at Point 13, Section II, Part A of this Circular (except printing of money and money-value certificates)

2.7. Children’s toys.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2.9. Tapes and discs, recorded or not.

2.10. Cultivation and husbandry products,  cultured and fished aquatic and marine products that have not yet been processed or have undergone only preliminary processing such as cleaning, freezing, drying at the commercial business stage (except for the objects specified at Point 2, Section II, Part A of this Circular).

2.11. Fresh and raw foodstuffs, foods; forest products (except timber and bamboo shoots), not yet processed at the commercial business stage.

Foods include paddy, rice, maize, potatoes, manioc, wheat; rice, maize, potato, manioc and wheat flour.

Fresh and raw foodstuffs are foodstuffs that have not yet been processed but have undergone only preliminary processing such as cleaning, freezing, drying and remain fresh and raw, such as cattle and poultry meat, shrimps, crabs, fish, and other aquatic and marine products

Unprocessed forestry products are forestry products exploited from natural forests, of the groups of bamboo, rattan of various kinds, mushrooms, Jew’s ear fungus; roots, leaves, flowers, medicinal plants, plant resins, and other forestry products.

2.12. Sugar, by-products in sugar production, including molasses, bagasse, dregs.

2.13. Products made of jute, rush, bamboo, rattan and/or leaves are those made or processed from jute, rush, bamboo, rattan and/or leaves as main raw materials, such as jute carpets, jute yarns, jute bags, coconut fiber carpets, mats made of jute or rush, ropes and strings made of bamboo, coconut fiber; curtains and blinds made of bamboo of various kinds, bamboo brooms, conical hats, etc.

2.14. Cotton preliminarily processed from home-grown cotton, which is shelled, seeded and classified cotton (imported cotton which has been preliminarily processed or sorted does not fall into this group).

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2.16. Scientific and technological services including the following scientific and technical application and guidance activities:

- Data processing, calculation and analysis in service of scientific research and technological development;

- Elaboration of feasibility and pre-feasibility study reports, environmental impact assessment reports;

- Guidance on, and organization of, experiments in order to create new technologies and new products.

2.17. Services in direct service of agricultural production, including activities of plowing and harrowing agricultural land; digging, embanking and dredging canals, ditches, ponds and lakes for agricultural production; farming, cultivating, tending plants, preventing and combating pests and diseases; gathering, harvesting, preliminarily processing and preserving agricultural products.

2.18. Coal, coal dust, coke, peat, briquette, caked coal.

2.19. Earth, rock, sand, gravel (excluding products made of earth, rock, sand or gravel like sawn rocks, tiling stones, granite stones).

2.20. Base chemicals, including chemicals on the list in Appendix 1 issued together with this Circular.

2.21. Mechanical products (excluding those used as consumer goods), including:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- Production tools of all kinds such as borers, small farm machines, sawing machines of all kinds, planers, rice threshers, water pumps with a capacity of over 10 m3/h; soil preparing and harvesting machinery and tools.

- Products being small production tools such as pincers, hammers, saws, chisels, shovels, hoes, sickles and scythes, kits being mechanical products, nails.

- Fence nets of steel of from B27 to B41, barbed wires, metal roofing sheets, stress metal cables, metal conveyors.

2.22. Molds of all kinds, including those used as tools for production of commodity products shaped by molds, such as molds of machine details, molds for production of assorted tubes.

2.23. Explosive materials, including explosives, delay fuses, detonators and those processed into special-use explosive products without changing the properties of explosive materials.

2.24. Grindstone.

2.25. Newsprint.

2.26. Insecticide sprayers.

2.27. Preliminarily processed rubber latex, such as crepe latex, rubber sheet, crumb rubber and coagulated latex.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2.29. Artificial pressed boards made from raw materials like bamboo, wood pulp, chips and fibers, sawdust, bagasse, rice husk… pressed into boards, excluding plywood products.

2.30. Industrial concrete products, including bridge beams, house beams and frames, piles, electric poles, circular sewers and box culverts of all kinds, non-standard prefabricated panels and structures of reinforced concrete (except  concrete bricks), commercial concrete (concrete mortar).

2.31. Tires and sets of tires and inner tubes, of a size 900-20 or larger.

2.32. Neutral glass tubes (tubes and ampoule-shaped tubes used to contain injections, test tubes).

2.33. Nets, ropes and fibers for knitting fishing nets, including assorted fishing nets, fibers, ropes of a special kind used for knitting fishing nets, regardless of their production materials.

2.34. Products from metallurgy, rolling or extrusion of ferrous, non-ferrous and precious metals, except imported gold specified at Point 26, Section II, Part A of this Circular.

Products from the metallurgy, rolling or extrusion of ferrous, non-ferrous and precious metals include direct products of the metallurgical, rolling and extrusion industries in the form of raw materials or products, such as metal products in the form of bar, rod,  sheet or coil.

For metallurgical, laminated and extruded products which have been manufactured and processed into other products, their tax rates shall be determined according to the goods items.

2.35. Automatic data processors, part and accessories thereof (including assorted computers and their parts and accessories, printers used exclusively for computers), except electricity-storing parts.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2.37. Transportation, loading and unloading, including cargo, luggage and passenger transportation and cargo and luggage loading and unloading, regardless of whether establishments directly perform or hire others to perform such jobs, except for brokerage and agency activities for commissions.

2.38. Dredging of canals, navigation channels, river ports and sea ports; salvage and rescue activities.

2.39. Distribution and projection of video films.

3. The 10% tax rate shall apply to the following goods and services:

3.1. Petroleum oil, gas, ores and other mineral products.

3.2. Commercial electricity sold by electricity generation and trading establishments.

3.3. Electronic products.

3.4. Mechanical products for use as consumer goods.

3.5. Consumer electric articles.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3.7. Electric wires, telephone wires, other conducting wires (except types of wires being products which have just undergone the rolling and drawing stage prescribed at Point 2.34, Section II, Part B of this Circular).

3.8 Welding rods.

3.9. Yarn, fabrics, garments and embroidery articles; baby nappy; sanitary napkins.

3.10. Paper (excluding newsprint guided at Point 2.25, Section II, Part B of this Circular) and paper products.

3.11. Leather and leatherette products.

3.12. Sugar, milk, confectionery, beverage and other processed foodstuffs, except those foodstuffs subject to the tax rate of 5%.

3.13. Ceramic, pottery, glass, rubber and plastic products, wood and wood products; cement, bricks, tiles and other construction materials (except for products in the 5% tax rate group).

3.14. Construction and installation.

3.15. Houses, infrastructures of establishments assigned land by the State for investment therein and construction thereof for sale or transfer.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3.17. Postal, mail, telecommunications and Internet services (except postal, mail, telecommunications and Internet services universalized under the Government’s program guided at Point 25, Section II, Part A of this Circular).

3.18. Lease of houses, offices, warehouses, ports, storage yards, factories, workshops, machinery, equipment and transport means.

3.19. Legal consultancy and other consultancy services.

3.20. Auditing, accounting, survey and designing services, insurance, including insurance brokerage (except types of insurance not subject to VAT specified at Point 8, Section II, Part A of this Circular.

3.21. Photographing, film printing and development, cassette tapes recording, dubbing and renting; duplicating; videoing.

3.22. Hotel, tourist and food and drink catering services

3.23. Goods and services subject to special consumption tax.

3.24. Gold, silver, gems (except imported gold prescribed at Point 26, Section II, Part A of this Circular).

3.25. Ocean shipping agency.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3.27. Other kinds of goods and services not specified in Section II, Part B of this Circular.

The VAT rates prescribed above shall apply uniformly to each type of goods or service at the importation, production, processing or commercial business stage. Goods not prescribed in Section II, Part A; Points 1 and 2, Section II, Part B of this Circular shall all be subject to the tax rate of 10%.

Example: If garments are subject to the tax rate of 10%, then this goods item shall all be subject to the tax rate of 10% at the importation, production, processing or commercial operation stage.

Repair and warranty services shall be subject to the 10% VAT rate. Particularly, repair of machinery, equipment or transport means being mechanical products shall be subject to the tax rate of 5%.

Example: Repair of sea-going ships shall be subject to the tax rate of 5%, as applicable to sea-going ships.     

Wasted materials and faulty products, which are collected for re-cycling or re-use, shall, when being sold, be subject to the VAT rate applicable to such goods items.

Example: Iron and steel scraps collected by establishments shall, when being sold, be subject to the tax rate of 5%; recovered plastic wastes shall, when being sold, be subject to the VAT rate of 10%, as applicable to plastic products.   

III. VALUE-ADDED TAX CALCULATION METHODS

VAT payable by business establishments shall be calculated according to either method: the tax deduction method and the method of direct calculation on added value. Where business establishments subject to tax payment by the tax deduction method also trade in gold, silver, gems and/or foreign currencies, they must separately account this business activity for direct calculation of tax on added value.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



1. The tax deduction method:

1.1. The subjects of application are business establishments and organizations, enterprises established under the State Enterprise Law, the Enterprise Law or  the Cooperative Law, foreign-invested enterprises and other business establishments and organizations, except those subjects of application of the method of direct calculation on added value mentioned at Point 2 of this Section.

1.2. Determination of payable VAT amounts:

     The payable             The output               The deducted
           VAT          =             VAT             -         input VAT
         amount                    amount                      amount

In which:

a/ The output VAT amount is equal to (=) the tax calculation price of the taxable goods sold or service provided multiplied by (x) the VAT rate of such goods or service.

Business establishments subject to tax calculation by the tax deduction method must, when selling goods or providing services, calculate and collect VAT on the goods sold or services provided. When making invoices for sold goods or provided services, business establishments must explicitly inscribe the tax-exclusive sale price, the VAT amount and the total amount payable by the purchasers. Where in an invoice only the payment amount is inscribed but not the tax-exclusive price and the VAT amount, the amount of VAT on the goods sold or services provided must be calculated on the payment amount inscribed therein.

Example: An enterprise sells iron and steel. The VAT-exclusive sale price of ?6 iron rods is VND 4,600,000/ton; the 5% VAT amount is VND 230,000/ton; but if in some of its sale invoices only the sale price of VND 4,800,000/ton is inscribed, the VAT amount calculated on the sale turnover is determined as: VND 4,800,000/ton x 5% = VND 240,000/ton, instead of being calculated on the sans-tax price of VND 4,600,000/ton and the turnover is thus re-determined as VND 4,560,000 (= VND 4,800,000 - VND 240,000). The enterprises that buy steel shall not be allowed to deduct the input VAT amount with respect to invoices in which the VAT amount is not inscribed.

b/ The input VAT amount is equal to (=) the total VAT amount inscribed in the added value invoices for purchased goods or services (including also fixed assets) used for production of and business in goods and services subject to VAT, the VAT amount inscribed in vouchers on tax payment for imported goods or VAT payment made on behalf of foreign parties under the guidance of the Ministry of Finance for application to foreign organizations and individuals conducting business activities in Vietnam not in the investment forms under the Law on Foreign Investment in Vietnam.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Example: In the period, Company A made payment for input services of special type eligible for tax deduction:

The total payment price is VND 110 million (price inclusive of VAT).  This service is subject to the 10% tax rate. The deductible input VAT amount is calculated as follows:

 VND 110 million
————————   x  10%  =  VND 10 million
        1 +  10%              

As a result, the tax-exclusive price is VND 100 million and the VAT amount is VND 10 million.

c/ Determination of deductible input VAT:

- The deductible input VAT is the VAT on goods and services used for production of, and trading in, goods and services subject to VAT.

- Where purchased goods or services are used for production of, and trading in, both goods and services subject and not subject to VAT, only the amount of input VAT on goods or services used for production of, and trading in, goods and services subject to VAT is deductible; the input VAT amount not allowed to be deducted may be included in the costs of goods and services not subject to VAT.

For fixed assets purchased for exclusive use in the production of, and trading in, goods and services not subject to VAT, the VAT on such fixed assets may be included in the original prices of such fixed assets.

The business establishments must separately account the input taxes on goods and services used for the production of, and trading in, goods and services subject and not subject to VAT. Where goods or services are used for production of and trading in goods and services subject and not subject to VAT but the establishments cannot account separately the deductible input taxes, they may calculate the deductible tax amounts as a percentage (%) between the turnover of goods or services subject to VAT and the total turnover of goods or services sold.   

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



The deductible input VAT amount for electricity in the month is:

4,000 KWh x VND 700/KWh x 10% = VND 280,000

If the purchased goods and services are not used in service of production and/or business, the input VAT shall be included in the costs of such activities.

Example 2: In the tax calculation period, an enterprise that makes bullets for national defense (not subject to VAT) and fireworks (subject to VAT) purchased several kinds of materials, raw materials and fuel for the production of these two kinds of product and could not account separately how much had been used for the production of each of these two products, the deductible amount of input VAT on these supplies is calculated as follows:

The total value of purchased supplies is VND 2,500 million (VAT-exclusive price).

The input VAT amount summed up according to input added value invoices is VND 250 million, in which the commonly used supplies which could not be separately accounted are worth VND 500 million (exclusive of VAT) and the VAT amount is VND 50 million.

The VAT-exclusive sale turnover of goods subject to VAT is VND 800 million.

The sale turnover of goods not subject to VAT is VND 3,200 million.

The deductible input VAT amount of the commonly used supplies is calculated as follows:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



VND 800 million/VND 4,000 million  =  20%

The deductible input tax amount corresponding to this percentage (%) is:

VND 50 million x 20% = VND 10 million

- For establishments engaged in agricultural production, forestry and/or fishery, if they export products reared, cultivated, caught or exploited by themselves, they may deduct only the input taxes on goods and services directly used for the exploitation stage following the capital construction stage; they shall not be allowed to calculate and deduct the input taxes on goods and services used for the capital construction stage but must include them into the original prices. Where the establishments concurrently sell at home and export their products, they must allocate input taxes according to the above provisions.

- For purchased goods which are damaged due to natural calamities, fires, or lost, and it is determined that compensation therefor must be paid by organizations and individuals, the input VAT on the volume of such goods shall be included in the value of damaged goods to be compensated but not in the deductible input VAT amount when the declaration of payable VAT amount is made.

- The deductible amount of input tax on goods and services arising in a month may be declared for deduction immediately when the tax amount payable in that month is declared, regardless of whether they have been delivered for use or still remain in stock. Where added value invoices or input VAT payment vouchers of purchased goods and services are made but not yet declared in the month, they may be declared for deduction in the subsequent months; the maximum time limit is 3 months, counting from the declaration time of the month when such invoices are made.

For corporation offices that are not directly engaged in business operations and affiliate administrative and non-business units such as hospitals, clinics, sanatoriums, institutes, training schools, etc, not liable to pay VAT, they shall not enjoy input VAT deduction or refund for goods and services purchased in service of their activities.

Where these units also deal in goods and services subject to VAT, they must separately register, declare and pay VAT for these activities.

Example: The office of Corporation A is not directly engaged in production and business activities and operates with the budget contributed by affiliate units. If it leases the unused space of the house (office building), it must separately account, declare and pay tax for the office-leasing operation. The input VAT of goods and services in service of the operation of the Corporation’s office shall neither be deducted nor refunded. The Corporation’s office must pay such input VAT with its budget to be remitted to its superior.       

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



d.1/ Contracts on sale of goods,  processing of goods (for cases of goods processing), provision of services for foreign organizations or individuals. For cases of export consignment, export consignment contracts and reports on liquidation of export consignment contracts (for cases where contracts have been terminated) or reports on periodical comparison of debts between the export consignor and the export consignee, clearly stating the quantity and category of products, the value of the goods already exported under consignment; the serial number and date of the export contract signed between the export consignee and the foreign party; the serial number and date of, and amount of money inscribed on, the voucher on the via-bank payment made by the export consignee to the foreign party; the serial number, date of, and amount of money inscribed on, the voucher on the payment made by the export consignor to the export consignee; the serial number and date of the export consignee’s customs declaration on the export goods.

d.2/ Export goods customs declarations, with the certification by the customs offices that the goods have been exported.

In case of export consignment, the reports on liquidation of export consignment contracts or the reports on periodical comparison of debts between the export consignor and the export consignee as mentioned at Point d.1 above shall be required.

d.3/ Payment for export goods and services  shall comply with the following provisions:

- Payment for export goods and services must be made via bank.

Via-bank payment means the transfer of money from the importer’s bank to the exporter’s bank in order to pay for goods or services to the exporter in the payment form as agreed upon in the contract and required by the bank. Payment vouchers shall be credit notes of the exporter’s bank of the amount of money already received from the importer’s bank accounts. In case of deferred payment, the agreement thereon must be included in the export contracts, and when payment is due, the business establishments must have via-bank payment vouchers. In case of export consignment, the export consignees must make vi-bank payment to the foreign parties.

- The following cases of payment shall also be regarded as via-bank payment:

+ For cases where payment for export goods or services is deducted from foreign loans, business establishments must satisfy all the following conditions, procedures and dossiers:

* Borrowing contracts (for financial loans with a term of under one year); or loan registration certification papers of the State Bank of Vietnam (for loans with a term of over one year).

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



The mode of payment for export goods or services to be deducted from foreign loans must be provided for in the export contracts.

* Written certifications by the foreign parties of the loan deduction.

* For cases where there is any difference between the value of export goods or services and the foreign loans, such difference must be paid via bank. Vouchers on such via-bank payment shall be as guided at this Point.    

+ For cases where the goods -or service-exporting establishments make via-bank payment for export goods or services but the foreign parties authorize the third parties being foreign organizations or individuals to make payment, the authorized payment must be provided for in the export contracts (or annexes thereto, if any).

+ For cases where the foreign parties make payment from their current accounts in Vietnam, they must effect such payment via bank. Payment vouchers shall be credit notes of the exporter’s bank of the money received from the foreign purchaser’s current account.

- Other cases of payment prescribed by the Government:

+ For cases of labor export where cash is collected directly from laborers, vouchers of collection of money from laborers shall be required;

+ For cases where business establishments export goods for sale at overseas fairs or exhibitions, if they collect and transfer home in cash the currencies of the countries where such trade fairs or exhibitions are organized, they must produce to the customs offices vouchers declaring the foreign currencies collected from the goods sale and transferred home and vouchers on remittance of such money amounts into banks in Vietnam.

+ For cases of exporting goods or services to repay the Government’s foreign loans. the commercial banks’ certifications that the export goods lots have been accepted by the foreign countries for debt repayment or that the document sets have been forwarded to the foreign countries for debt repayment shall be required; payment vouchers in this case shall comply with a separate guidance of the Ministry of Finance;

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Export goods or services paid with goods must satisfy an additional dossier procedure as follows:

* The mode of payment with goods for export goods must be provided for in the export contract.

* The foreign party’s goods or service purchase contract;

* The customs declaration on import goods paid for export goods or services.

* The foreign party’s written certification of the clearing payment between the export goods or services and the import goods or services purchased from the foreign party.  

* Where there is difference after the clearing between the value of export goods or services and the value of import goods or services, such difference must be made via bank. Vouchers on such via-bank payment shall comply with the guidance at this Point.

+ Other payment forms as prescribed by the Government.

d.4/ Added value invoices on the sale of goods or services or export of processed goods to foreign parties or export-processing enterprises.

e/ Conditions, procedures and dossiers for deduction of input VAT in a number of cases where goods are regarded as being exported:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- Export processing contracts and annexes thereof (if any) signed with foreign parties, clearly stating the goods-receiving establishments in Vietnam.

- Added value invoices, clearly stating the processing charges and quantities of processed goods returned to the foreign parties (on the basis of the charges provided for in the contracts signed with the foreign parties) and the names of the goods-receiving establishments designated by the foreign parties;

-  Bills on delivery of processed intermediary products (called the delivery bills for short), with full certifications by the deliverers and the receivers of processed intermediary products as well as certification by the customs offices managing the processing contracts of the deliverers and receivers.

- Payment for goods processed for foreign countries must be made via bank under the guidance at Point d.3 of this Section.

The procedures for delivery and receipt of processed intermediary goods and delivery bills shall comply with the guidance of the General Department of Customs.

Example: Company A signs with a foreign party a contract to process 200,000 pairs of shoe soles for export. The processing charge is VND 800 million. The contract clearly states that the shoe soles will be delivered to Company B in Vietnam for production of finished shoes.

In this case, Company A falls into the subject of processing intermediary products for export. In making vouchers to deliver shoe soles to Company B, Company A should write clearly the quantity, category and specifications of products delivered as well as the whole turnover of VND 800 million from the processing of shoe soles so as to enjoy the VAT rate of 0%.

e.2/ Goods consigned for export processing:

- Contracts on processing goods for export, signed with the establishments which have directly signed contracts for processing goods for export with foreign parties. The establishments which  directly sign processing contracts with foreign parties shall enjoy only the export processing consignment commissions.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- Payment for goods processed for foreign countries must be made via bank under the guidance at Point d.3 of this Section.

- Added value invoices made by the establishments which directly process goods for export for goods processed for export.

Example: Company X performs a contract to process garments for a foreign party, under which it makes 100,000 clothes for a remuneration of VND 200 million. However, Export - Import Company Y has signed this contract directly with the foreign party, enjoying a commission equal to 5% of the said remuneration.

In this case, Company X falls into the subject consigning the processing of goods for export. In making invoices for delivering goods to Company Y, Company X will be allowed to write the tax rate of 0%; the whole turnover of VND 200 million from the processing of goods for export will be subject to the VAT rate of 0%. Company X’s export commission shall be subject to VAT as prescribed.

e.3/ Goods made by enterprises in Vietnam for sale to foreign parties, which have been actually delivered to other enterprises in Vietnam under the designation by the foreign parties (called on-spot export goods for short) for use as raw materials for production or processing of goods for export.

- Contracts on goods sale, signed with foreign parties, clearly stating the goods items, quantities, value, names and addresses of the goods-receiving enterprises in Vietnam.

- Customs declarations on the on-spot export-import goods, with the certification by the customs offices that the goods have been delivered to the enterprises in Vietnam under the foreign parties’ designation.

- Payment for goods sold to foreign traders but delivered in Vietnam must be made via bank in freely convertible foreign currencies. Via-bank payment vouchers shall comply with the guidance at Point d.3 of this Section.

- Added value invoices of on-spot export goods, clearly stating the names of the foreign purchasers, the goods-receiving enterprises and the goods delivery places in Vietnam.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



For the cases involving export goods or goods regarded as being exported prescribed at this Point, if the customs offices’ certification is available (for export goods) but the other procedures and dossiers stated above are insufficient, the business establishments shall not have to calculate the output VAT and must not deduct the input VAT but include it in their expenses. For export services, if they fail to satisfy one of the above-said procedures, the business establishments shall not have to calculate the output VAT and must not deduct input VAT. Particularly for the cases prescribed at Points e.1 and e.3, if they fail to satisfy one of the procedures and dossiers prescribed at these points, the establishments must calculate and pay VAT as for domestically consumed goods.

f/ For business households paying VAT by the method of direct calculation on added value which have been permitted to pay the tax by the tax deduction method, they shall be allowed to deduct the VAT on the goods and services purchased from the month they are permitted to pay the tax by the tax deduction method; for goods and services purchased before that month, they shall not be entitled to input VAT deduction.

1.3. The bases for determining the deductible tax amounts prescribed above include the VAT amounts inscribed in the added value invoices of purchased goods or services; vouchers on the VAT payment at the importation stage; vouchers on the VAT payment on behalf of the foreign parties under the guidance of the Ministry of Finance, applicable to foreign organizations and individuals conducting business activities in Vietnam not in the investment forms under the Law on Foreign Investment in Vietnam.

Business establishments must not calculate and deduct the input VAT in the following cases: Added value invoices are used at variance with law provisions, such as they are not inscribed with the VAT (except for special cases where added value invoices may be inscribed with the VAT-inclusive prices); the sellers’ names, addresses and/or taxation codes are not inscribed or inscribed incorrectly so that the sellers are unidentifiable; VAT payment invoices and vouchers are fake; invoices are erased or deleted, false invoices (goods or services are not actually sold); invoices are inscribed with a value higher than the real value of goods or services.

2. The method of direct calculation of VAT on added value

2.1. Subjects of application of the method of direct calculation on added value include:

- Vietnamese individuals engaged in production and business;

- Foreign organizations and individuals that conduct business in Vietnam not in the investment forms under the Law on Foreign Investment in Vietnam and do not meet all the conditions for accounting, invoices and vouchers serving as a basis for tax calculation by the tax deduction method;

- Establishments trading in gold, silver, gems and foreign currencies.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



     The payable              The added value                The VAT rate
           VAT          =             of taxable           x       for such goods
         amount                 goods or service                  or service

The added value of goods or service = The turnover of goods sold or service provided - The cost price of the goods sold or service provided

For a number of business lines, the added value is determined as follows:

- For production and business activities, it is the difference between the sale turnover and the turnover of purchased goods and/or services used in production and/or business. Where business establishments cannot account the turnover of purchased supplies, goods and/or services corresponding to the turnover of sold goods, the added value is determined as follows:

The cost of goods sold is equal to (=) The  turnover left at the beginning of the period plus (+) the purchase turnover in the period minus (-) the turnover left at the end of the period.

Example: Establishment A makes wood articles. In the month, it sells 150 products and earns a total sale turnover of VND 25 million.

- The value of supplies and materials purchased for production of such 150 products is VND 19 million, of which:

+ Principal raw material (timber): VND 14 million.

+ Other materials and services purchased from outside: VND 5 million.   

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+ The added value of the sold products:

 VND 25 million - VND 19 million  = VND 6 million.

+ The payable VAT amount:

VND 6 million x 10% = VND 0.6 million.

- For construction and installation, it is the difference between the amounts earned from the construction and installation of works or work items minus (-) the cost of materials and supplies, the cost of power, transportation, services purchased from outside and other expenses for the construction and installation of works or work items.

- For transport activities, it is the difference between the collected transport freight, loading and unloading charges minus (-) the cost of petrol and oil, spare parts and other expenses for transportation activities. 

- For food and drink catering activities, it is the difference between the amounts earned from the sale of foods and drinks, the service charges and other revenues minus (-) the cost prices of goods and services purchased for the food and drink catering.

- For the trading in gold, silver, gems and foreign currencies, the added value is the difference between the turnover from the sale of gold, silver, gems and/or foreign currencies minus (-) the cost prices of the sold gold, silver, gems and/or foreign currencies.

- For business establishments subject to VAT calculation by the tax deduction method and engaged in the trading in gold, silver, gems and/or foreign currencies subject to application of the method of direct calculation on added value, they must separately account the input VAT amounts for declaration of the VAT payable for goods and services of different business activities and different tax calculation methods.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- For other business activities, it is the difference between the amounts earned from business activities minus (-) the cost prices of goods and services purchased for performance of such business activities.

The above-prescribed turnover of goods and services sold includes also surcharges and charges collected outside the sale price and enjoyed by business establishments, regardless of whether or not they have been collected.

The above-prescribed turnover of purchased goods and services includes also various taxes and charges already paid and included in the payment prices of goods and services purchased.

- Business establishments subject to VAT payment by the method of direct calculation on added value must not account the value of purchased assets, invested and constructed fixed assets into the turnover of purchased goods and services for calculation of added value.

2.3. For each business establishment, the method of determination of added value serving as a basis for calculation of payable VAT is as follows:

- For business establishments that have fully effected the sale and purchase of goods and services accompanied with sufficient invoices, vouchers, and book-keeping entries, the added value is determined on the basis of the sale and purchase prices inscribed on vouchers.

- For business establishments that have enough invoices and vouchers for the sale of goods and/or the provision of services, are able to determine the correct turnover from the sale of goods and/or the provision of services according to goods sale and/or service provision invoices but do not have sufficient goods and service purchase invoices, the added value is determined as the turnover multiplied by (x) the percentage (%) of added value calculated on the turnover.

- For business individuals (households) that do not have enough goods sale and/or service provision invoices, the tax offices shall base themselves on the business situation of each household to fix the turnover for tax calculation; the added value is determined as the fixed turnover multiplied by (x) the added value percentage (%) calculated on the turnover.

Invoices used as a basis for VAT calculation by this method are those used in accordance with law provisions. Invoices which are not used in accordance with law provisions as guided at Point 1.3, Section III, Part B of this Circular shall not be used as a basis for VAT calculation. 

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



IV. GOODS AND SERVICE PURCHASE/SALE INVOICES AND VOUCHERS

Business establishments, when purchasing or selling goods and/or services, shall have to abide by the regime on invoices and vouchers as prescribed by law.

1. Business establishments liable to pay VAT by method of tax deduction, when selling goods and/or services subject to VAT, must use the added value invoices, including the cases where they sell goods and services subject to special consumption tax (except where they are permitted to use special-type invoices, vouchers which are inscribed with the payment prices being VAT-inclusive prices).

2. Business establishments liable to pay tax by method of direct calculation on added value, when selling goods and/or services, must use goods sale invoices.

3. When making invoices, the business establishments must fully and correctly inscribe all details prescribed on the invoices. For added value invoices, they must be clearly inscribed with the VAT-exclusive sale prices, surcharges and charges calculated outside the sale prices (if any), the VAT, the total payment prices inclusive of tax; if the VAT-exclusive sale prices and the VAT are not inscribed separately and only the payment prices are inscribed, the output VAT must be calculated on such payment prices.

4. Lawful invoices and vouchers are:

- Invoices issued by the Finance Ministry (the General Department of Tax) and provided by tax offices for business establishments.

- Invoices printed according to set forms by business establishments for their own use, which has already been approved by the General Department of Tax.

- Special-type invoices and vouchers of other kinds, permitted for use.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



5.1. Production and/or business establishments liable to pay tax by method of tax deduction, which sell goods and/or services not subject to VAT; sell goods and services to VAT-exempt subjects; sell gold, silver, gems, foreign currencies, shall have to use added value invoices; on such value added invoices only lines for the sale prices are inscribed with the VAT-exclusive prices while the lines for tax rates and VAT amounts are not inscribed and crossed out. In case of selling goods or services not subject to VAT or to VAT-exempt subjects, the invoices must clearly state that the goods are not subject to VAT or goods sold to the VAT-exempt subjects.

5.2. Where exporting and/or importing business establishments liable to pay VAT by method of tax deduction undertake the consigned import of goods for other establishments, when handing over the goods, they shall make the invoices as follows:

If the import consignees, when returning goods imported by consignment, have already paid VAT at the importation stage, they shall make the added value invoices for use by the import consignors as basis for declaration and deduction of input VAT on goods imported by consignment. Where the import consignees have not yet paid VAT at the importation stage, when handing over the imported goods, they shall fill in the delivery-cum-internal transport bills issued by the Finance Ministry (the General Department of Tax) and make the internal transfer orders for use as vouchers for circulation of goods on the market. Only after paying VAT at the importation stage for goods imported by consignment can the establishments make the invoices according to the above regulations.

An added value invoice on delivery and hand-over of goods imported by consignment shall be inscribed with:

a/ The VAT-exclusive sale price covering the value of goods actually imported at CIF price, the import tax, the special consumption tax and other amounts payable according to the regime at the importation stage (if any).

b/ The VAT rate and VAT amount, inscribed according to tax payment notices of the customs offices.

c/ The total payment amount (= a + b).

The import consignees shall make separate added value invoices in order to have the commission paid for the consigned import.

5.3. Production and/or business establishments (including those engaged in processing of export goods) which pay tax by tax deduction method and have export goods subject to VAT, when exporting goods, shall use added value invoices.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



In case of consigned export of goods (including consigned export of processed goods for other establishments), when delivering goods to the export consignees, the consignors shall use delivery-cum- internal transport bills issued by the Finance Ministry (the General Department of Tax) together with the internal transfer order. When goods are actually exported, with the certification thereof by the customs offices, basing themselves on the export consignees’ vouchers for comparing and certifying the quantity and value of actually exported goods, the goods export consignors shall make added value invoices for VAT payment and refund declarations. In this case, the exporting business establishments must keep copies 2. In cases where the exporting business establishments have registered with the tax offices for printing and circulating by themselves invoices to be used for export goods and to be issued to foreign clients, they shall use invoices printed by themselves for tax payment and refund declaration.

5.4. Use of invoices, vouchers for goods consumed internally, donated, presented as gifts, put for sale promotion:

- For products, goods delivered for internal consumption, sale promotion, advertisement, in service of goods production and business, services subject to VAT, the establishments shall use added value invoices, which shall clearly state that the goods are for internal consumption in service of production and business, or sale promotion, advertisement, free of charge. The business establishments shall use invoices as accounting vouchers.

-  For products, goods delivered for barter, reward or wage payment to laborers, for internal consumption not in service of production and business or in service of the production of, and/or trading in, goods and/or services not subject to VAT, the establishments shall have to make added value invoices (or sale invoices), which are fully inscribed in all contents and with VAT calculated like invoices on sale of goods to customers.

5.5. For goods and services sold at discount prices inscribed on their invoices, such invoices must clearly state the discount percentage or level, the VAT-exclusive price (discount price), VAT and total payment price inclusive of VAT.

If the price reduction is applied on the basis of the quantity, turnover of actually purchased goods or services, which must reach certain levels, the reduced amounts of already sold goods shall be adjusted on the invoices of the last purchase of goods or services or the next period. Such invoices must contain the invoices’ serial numbers and reduced amounts.

5.6. Production and/or business establishments which deliver and transfer goods to their dependent cost-accounting establishments such as  branches, shops… in other localities (provinces, centrally-run cities) for sale or transfer among branches, dependent units; deliver goods back to the business establishments from dependent cost-accounting units; deliver goods to agents for sale at fixed prices and enjoying commissions based on the mode of business organization and cost-accounting, may opt for either of the two following ways of using invoices, vouchers:

- Using added value invoices as a basis for settlement and declaration of VAT payment in each unit and at each independent stage.

- Using delivery-cum-internal transport bills issued by the Finance Ministry (the General Department of Tax), together with the internal transfer orders for goods internally transferred; using the delivery bills for goods for agency sale, issued by the Finance Ministry (the General Department of Tax) for goods delivered to agents, together with the internal transfer orders.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Production and business establishments shall apply only either of the two methods of using invoices and vouchers prescribed at this Point and, before applying it, must make registration with their managing tax offices.

5.7. Business establishments acting as goods-gathering  and -purchasing agents in various forms, when returning goods to the gathering and purchase- consigning establishments, must make invoices for goods gathered and purchased by agency and enjoyed commissions (if any). 

5.8. Where business establishments purchase goods and the sellers have issued the invoices while the purchasers have received the goods which have, however, been partially or fully returned due to their wrong specifications or poor quality, before returning such goods to the sellers, the establishments shall have to make invoices clearly stating the goods returned to the sellers due to wrong specifications, poor quality, and the VAT. These invoices shall serve as a basis for the purchasers and the sellers to adjust the already declared purchase and sale turnovers as well as VAT amounts.

Where the purchasers have no such invoices, upon the return of goods, the purchasers and the sellers shall have to make the written records or written agreements, clearly stating the types, quantity and value of the returned goods according to the VAT-exclusive prices and the VAT inscribed on the sale invoices (serial numbers and dates of the invoices), the reasons for the return, which are sent together with the invoices to the sellers. Such records shall be kept together with the sale invoices for use as a basis to adjust the sellers’ declared sale turnover and VAT.

Where the sellers have delivered goods and made the invoices while the purchasers have not yet received the goods but detected that goods are of wrong specifications and/or poor quality, hence they must be fully or partially returned, upon the return of goods, the purchasers and the sellers shall have to make written records thereon clearly stating the type, quantity, the VAT-exclusive value and VAT amount of the returned goods and the reasons therefor as inscribed on the sale invoices (serial numbers, codes and dates of the invoices) for returning the goods together with the invoices to the sellers so that the latter can re-make added value invoices for the received goods and use them a basis for adjusting their turnover and output VAT.

5.9. Where business establishments have sold or supplied goods and/or services and made invoices therefor but have to adjust the sale prices (up or down) due to poor quality and/or wrong specifications of such goods and/or services, the sellers and the purchasers shall have to make written records thereon or written agreements clearly stating the quantity and specifications of goods, the level of price increase (decrease) as inscribed in the sale invoices (serial numbers, date of the invoices, time), the reasons for price increase (decrease), and at the same time the sellers shall make invoices according to the adjusted prices. Such invoices clearly state the adjusted prices of the goods and/or services in  invoices no…, code…. Basing themselves on the invoices with the adjusted prices, the sellers and the purchasers shall declare the adjusted purchase or sale turnovers, output and input taxes.

5.10. Business establishments which deliver goods for mobile sale shall use delivery-cum- internal transport bills, issued by the Finance Ministry (the General Department of Tax), together with the internal transfer orders and, when selling goods, make invoices as prescribed.

5.11. Business establishments which directly retail goods and/or provide services of a value below the prescribed levels shall not have to make invoices; if the purchasers request invoices, they shall have to make the invoices as prescribed; where invoices are not made, the retail lists (according to form No. 06/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein) must be made for use as basis for tax calculation.

5.12. For construction establishments having construction and installation projects which take a long time and for which the payment is made according to implementation progress or completed and handed-over work volume, they must make invoices of payment for the completed and handed-over construction volume. Such added value invoices must clearly state the tax-exclusive turnover and the VAT. Where the construction works have been completed and the invoices of payment for the value of the works have been made but then the payable value of the construction volume is adjusted down in the process of approving the settlement of the value of the capital construction works, invoices and vouchers for the adjusted payable value of the works must be made as in the case prescribed at Point 5.9 of this Section.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- The line for the sale price shall be inscribed with the VAT-exclusive house sale price, infrastructure rental, transport or package tour service turnover.

- The line for VAT calculation shall be inscribed with the house sale price (or infrastructure rental) already minus the land use levy (or land rental) payable to the State budget; tourist turnover already minus expenses arising overseas such as those for meals, accommodation, transport; transport turnover already minus international transport turnover.

- The line for VAT rate and amount shall be inscribed with the payment prices as prescribed.

(See example at Point 10, Section I, Part B of this Circular).

5.14. Financial leasing establishments which lease assets subject to VAT shall make invoices as prescribed,

Establishments engaged in financial leasing activities, when leasing assets subject to VAT, must have added value invoices (for assets purchased at home) or vouchers of VAT payment at the importation stage (for imported assets); the total VAT amounts inscribed on the financial leasing service invoices must match the VAT amounts inscribed on added value invoices (or vouchers of VAT payment at the importation stage).

For cases where assets purchased for lease are not subject to VAT and added value invoices or vouchers of VAT payment at the importation stage are not available, VAT must not be inscribed on the invoices.

When the VAT on financial leasing assets have been fully deducted and the asset ownership right has been transferred to the lessees, the lessors shall transfer to the lessees the added value invoices or the imported goods purchase invoices together with the vouchers of VAT payment for the financial leasing assets.

5.15. For foreign currency-trading establishments conducting foreign currency-purchasing and -selling activities abroad, they shall make the detailed lists of the trading turnover of each kind of foreign currency. The establishments must keep all vouchers on transaction with the purchasers or sellers abroad strictly according to the Ordinance on Accounting and Statistics. For foreign currency- buying and -selling activities arising at home, invoices must be  made according to regulations.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



5.17. Export-processing enterprises, when selling goods and/or services, shall use sale invoices (or invoices issued by themselves) according to the Finance Ministry’s regulations.

In case of using adjusted invoices, business establishments must not inscribe negative (-) figures therein.

6. For individuals as well as administrative and non-business units that are engaged in the irregular production of, and/or trading in, goods and/or services subject to VAT and have the demand to use invoices, they shall be supplied with separate invoices for use for each specific case.

C. TAX REGISTRATION, DECLARATION, PAYMENT AND FINAL SETTLEMENT

I. TAX PAYMENT REGISTRATION:

1. Business establishments, including companies, factories, enterprises, branches and stores attached to principal business establishments, must register tax payment with the provincial/municipal Tax Departments or Sub-Departments for business individuals, regarding the business locations, business lines, labor, capital, tax payment venues and other relevant indexes according to set forms on tax payment registration and guidance of the tax offices.

For newly set-up establishments, the time limit for tax payment registration shall be 10 days as from the date they are granted the investment licenses or business registration certificates and the seals; where the establishments have not yet been granted the business registration certificates but already conducted business activities, they must register for tax payment before conducting business activities.

If establishments which have already made the tax payment registration change their business lines, move their business offices to other places, undergo  merger, dissolution, bankruptcy, consolidation, division, separation or establish new companies, factories, enterprises, branches, stores, etc., they shall have to make additional registration with the tax offices at least 5 days before making such changes.

2. For production and/or business establishments which are headquartered in one locality (province or centrally-run city) while having their dependent cost-accounting establishments, including companies, factories, enterprises, branches or stores directly selling goods in another locality, they shall have to register for tax payment with the tax offices of the localities where they are headquartered and their dependent cost-accounting units shall also have to register the VAT payment with the tax offices of the localities where they are based.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



3. Construction and installation establishments shall have to make tax payment registration with the tax offices of the localities where they are headquartered. Where construction and installation projects are executed in other localities (provinces, centrally-run cities) by their dependent establishments that have no legal person status such as groups, teams, project management boards…, the construction establishments shall also have to register, declare and pay tax with the tax offices of localities where the construction is carried out.

4. Where establishments contract business activities to collectives and/or individuals by mode of taking self-responsibility for the business results, such collectives and/or individuals shall have to directly register, declare and pay VAT with the tax offices of the localities where they conduct business activities.

5. For business establishments liable to the application of the method of direct calculation of tax on added value, if properly and fully meeting conditions on goods and/or service purchase and sale with adequate invoices and vouchers, making entries into the accounting books in strict accordance with the regime, declaring and paying VAT strictly according to the prescribed regime and voluntarily registering for the VAT payment by tax deduction method, they may apply the tax calculation by tax deduction method. The establishments shall have to make and send the written tax payment registrations (according to form No. 09/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein) to the tax offices where they have registered for tax payment. Upon receiving the registrations from the establishments, the tax offices shall have to check and promptly inform the establishments of whether or not they are permitted to apply the tax payment by method of VAT deduction (clearly stating the reasons for case of disapproval) within 30 days as from the date of receiving the requests from the establishments. The establishments may pay tax by deduction method only when they are so notified by the tax offices.

For business individuals (or households) liable to pay tax by method of direct calculation on added value, that have been permitted to pay tax by method of tax deduction but failed to strictly observe the prescribed conditions in the course of implementation, the tax offices shall apply the method of fixing the payable tax amounts and issue notices on suspension of the tax payment by method of tax deduction.

6. Regarding the provision of tax codes to tax payers:  For business establishments which have made the tax payment registration with the tax offices, the latter shall have to provide them with tax codes and tax registration certificates.

For project owners (or their authorized representatives like the project management units), the foreign principal contractors being the subjects entitled to VAT refund and having not yet been given the tax codes must carry out the procedures with the Tax Departments of the localities where they are based so as to be provided with tax codes.

II. DECLARATION OF VAT PAYABLE TO THE STATE BUDGET

Production and/or business establishments and goods importers shall have to declare the payable VAT according to the following regulations:

1. Establishments dealing in goods and/or services subject to VAT shall have to make and send to the tax offices the monthly VAT calculation declarations together with the lists of goods purchased and sold according to set forms (forms No. 01/GTGT, 02/GTGT, 03/GTGT, 04/GTGT, 05/GTGT, 06/GTGT, 07A/GTGT, 07B/GTGT and 07C/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein). The deadline for submitting the monthly declarations to the tax offices is the 10th day of the following month.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



The time for determining the arising turnover subject to VAT is the time when the business establishments have transferred the right to own, the right to use (in case of sale by mode of installment payment) goods or have provided services to the purchasers, regardless whether or not the purchasers have made payment therefor.

2. The declaration of payable tax in a number of specific cases where establishments pay tax by tax deduction method is as follows:

- For cases where business establishments produce and/or deal in both goods and services subject to VAT and not subject to VAT but cannot separately account the deductible input VAT, the deductible input VAT shall be calculated according to the percentage between the turnover from the sale of goods and services subject to VAT and total turnover from the sale of goods and services in the period. Monthly, the business establishments shall temporarily calculate the deductible input VAT according to the percentage arising in the declaration month; when making annual settlement, they shall readjust the deductible input VAT according to the actual percentage of the sale turnover of the settlement year.      

- For cases where construction and installation establishments organize dependent units, which have no legal person status such as construction groups, teams, project management units, for carrying out the construction and installation in localities (provinces, centrally-run cities) other than the places where they are headquartered, the construction and installation units or their parent establishments shall have to declare the turnover and VAT payable at the localities where the projects or project items are being constructed at the rate of 3 % of the VAT-exclusive payment prices of the projects or project items. The construction and installation establishments shall have to declare and settle VAT according to the prescribed regime with the tax offices of the localities where they are headquartered. The VAT amounts already paid in the localities where projects are constructed shall be included in the VAT amounts already paid when the construction establishments made VAT payment declaration at their headquarters. Dependent cost-accounting units which build projects or project items in other localities shall use tax codes and invoices of their superior units; use VAT declaration forms (according to form No. 07C/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein). If construction and installation establishments sign construction and installation contracts (principal contractors) but then assign parts of the work or projects to other establishments  (sub-contractors) for performance, the former must register and declare with the tax offices of the localities where the construction and installation projects exist, the construction and installation contracts and the subcontracts signed with other establishments, so that such establishments can declare and pay VAT in the localities for the project values they have performed. If the construction and installation establishments (subcontractors) fail to register, declare and pay tax, the construction and installation establishments (principal contractors) shall have to declare and pay VAT on the whole value of the projects under the contracts.   

- In cases where construction and installation establishments carry out the construction and installation of such projects and/or project items which relate many localities as traffic roads, power transmission lines, water, petrol or gas pipe lines… and cannot determine the arising turnover and expenditures of the projects in each locality, they shall register, declare and pay VAT in the localities where they are headquartered.

- Insurance business services are not subject to VAT imposed on the following amounts collected from provided services or sold goods:

Re-insurance compensation or other compensation amounts (if any); commission for re-insurance transfer and other revenues from re-insurance transfer; re-insurance charges and other revenues from re-insurance (including charges for taking re-insurance from insurance enterprises operating inside and outside the Vietnamese territory); revenues claimed from the third party.

Insurance business establishments shall only be allowed to deduct the input tax on insurance compensation expenses for expenditures accompanied by added value invoices.

- Establishments having their goods sold through agents (at the prices set by goods owners for commission) shall base themselves on the invoices made for goods sold through agents as prescribed at Point 5.6, Section IV, Part B of this Circular, to make annual tax payment declarations for such goods as provided for in this Circular.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- Establishments being sale agents in various forms must declare, calculate and pay VAT on the goods sold through agency and commissions earned from agency activities.

Establishments being agents which sell goods at prices set by the goods owners for commission shall have to declare and pay tax on the basis of the sale prices set by goods owners if they sell goods at prices lower than the ones set by goods owners.

Establishments acting as gathering and purchasing agents in various forms must declare and pay VAT on the goods gathered and purchased through agency and their earned commissions (if any).

- For fixed assets, supplies or goods, which are purchased for use for the production of, and/or trading in, goods and/or services subject to VAT and the input tax thereon has already been deducted, but are now used for the production of, and/or trading in, goods and/or services not subject to VAT, or for other purposes (including the cases where fixed assets, supplies or goods have been mortgaged but then are sold to retrieve debts for financial or credit institutions), the establishments shall have to refund the deducted VAT on such fixed assets. The refunded VAT amounts shall be calculated on the value of the residual value (exclusive of VAT) of the fixed assets. For supplies and goods, the establishments shall have to refund wholly the deducted VAT amounts.

- For establishments which have used goods and/or services intended for internal consumption not in service of production and business, like transport, aviation, railways or post, not subject to output VAT calculation, they shall have to clearly specify the internally consumed goods and/or services and their control limits, which shall be approved in writing by competent bodies.

- Agents selling construction lotteries for commission shall not have to declare and pay VAT, which must be declared and paid by the construction lottery companies at their offices.

- For corporations and companies with attached establishments, the declaration of payable VAT shall be effected as follows:

+ Independent cost-accounting establishments and dependent cost- accounting establishments such as companies, enterprises, factories, branches or shops with incomplete legal person status, own seals and bank accounts and directly selling goods or services, must declare and pay VAT by deduction method in the localities where the business establishments are headquartered.

+ Where dependent cost-accounting establishments are based in localities other than the localities where the companies or corporations are headquartered,  have no legal person status, own seals nor bank accounts, but directly sell goods or services and earn turnover therefrom, they must declare and pay VAT in the localities where their turnovers are generated at the rate of 2% of VAT-exclusive turnover for goods and services subject to the tax rate of 5% and at the rate of 3% of VAT-exclusive turnover for goods and services subject to the tax rate of 10%. The corporations or companies shall have to declare and settle VAT according to the prescribed regime with the tax offices in the localities where they are headquartered. The VAT amounts already paid by their dependent cost-accounting establishments in the localities shall be included in the paid VAT amounts when the companies or corporations declare and pay VAT at their head offices. The companies or corporations shall have to register for the grant of tax codes to their dependent cost-accounting establishments while the latter shall use invoices of their superior establishments and use VAT declaration forms (form No. 07C/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein).

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+ For dependent cost-accounting establishments based in localities other than the localities where the companies are headquartered, if they do not directly sell goods, thus generating no turnover and they cannot fully account the input tax, they shall have to declare and pay tax at the head-offices of the companies.

Corporations and companies shall base themselves on the situation of their own business organization and operation to determine and register specific subjects which must declare and pay tax at the tax offices of the localities where they conduct business activities. In case of necessity to apply VAT declaration and payment different from the above guidance, corporations and companies shall have to report such to the Finance Ministry for separate guidance.

- Financial leasing service business establishments shall not have to declare and pay VAT for financial leasing services. They shall have to declare and calculate tax for assets financially leased/purchased by other units, which are subject to VAT, according to the invoices prescribed at Point 5.14, Section IV, Part B of this Circular.

The establishments shall only declare VAT for the financial leasing services as provided for in this Circular according to forms No. 02/GTGT and No. 03/GTGT (not printed herein) set for leased assets subject to VAT, of which form No. 03/GTGT is only inscribed in the VAT index “column 9- VAT” with the VAT of the leased assets allocated in accordance with the added value invoices made for the turnover of the financial leasing service in the declaration period.

Where the lessees fail to perform the contracts, thus forcing the lessors to recover the assets, the lessors shall have to notify the lessees thereof and determine clearly the VAT amounts already paid and not yet paid. When the lessors continue to lease such assets to other units, they shall calculate the VAT amounts not fully collected for continued collection under the new contracts.

Where the assets are leased for a period of time before the lessors sell them to the lessees or other establishments, the lessors shall have to calculate VAT for the sold assets, make added value invoices and be only allowed to deduct the uncollected input VAT of the assets.

Where the lessor and the lessee jointly pool capital for the purchase of the assets and the lessor only collects the rent (principal and interest) corresponding to his/her/its contributed capital amount, the invoice on the purchase of assets for lease shall be managed by the lessor till the asset ownership right is transferred to the lessee. The VAT corresponding to the capital amount contributed by the lessor shall be included in the first-time receipt.

Where a financial leasing contract has been completed, the VAT amount has been paid fully by the lessee and the two parties agree to continue the lease, the invoice made for the subsequent turnover shall not include VAT.

- Business establishments which pay tax by tax deduction method and are engaged in gold, silver, gem, foreign-currency business activities subject to tax payment by method of direct calculation on added value, shall declare and pay VAT as follows:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+ The establishments make detailed declarations separately for gold, silver, gems trading activities and foreign-currency trading activities (according to form No. 07A/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein), inscribing relevant indexes of goods or foreign currencies.

On the basis of the above-said detailed declarations, the establishments shall sum them up and fill in the VAT declaration forms (according to form No. 01/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein). Such declaration forms shall only be inscribed in indexes 18, 38, 39, 40 and 41.

Monthly, the business establishments shall have to submit to the tax offices the general VAT declarations and the detailed VAT declarations enclosed with the list of vouchers on goods and/or services purchased and/or sold according to forms No. 02/GTGT, 03/GTGT and 04/GTGT (for gold, silver and foreign currencies purchased from sellers without invoices).

For such business establishments as banks with dependent cost-accounting units based in the same locality, such dependent units shall have to make the lists of goods and/or services purchased or sold for archival at the principal establishments. In synthesizing and making the list of goods and/or services purchased or sold, the principal establishments shall only sum up the general figures on the lists made by their dependent units.

- Air transport companies shall declare and pay VAT for air transport activities in the localities where they are headquartered.

- For business establishments which sell goods subject to VAT to the subjects at prices set by the State and enjoy the price and freight subsidies by the State, when selling such goods, they shall have to calculate the output VAT so as to declare and pay VAT for goods at the State-prescribed prices. The price and freight subsidies provided from the State budget shall be free from VAT and included by the establishments in their incomes for the calculation of enterprise income tax.

- For the offices of the corporations which are not directly engaged in business and not liable to pay VAT, when selling assets, even those subject to VAT, they shall not have to calculate, declare and pay VAT for the sold assets. When selling assets, the units shall have to make invoices according to form HD/TS/TL-3L set in Decision No. 55/2000/QD-BTC of April 19, 2000 of the Finance Minister promulgating the Regulation on management of the handling of State assets in administrative and non-business agencies (the invoices issued by the provincial/municipal Finance and Pricing Services). The production and business establishments which buy liquidated assets must not deduct the input VAT.

- Business establishments, upon their merger, dissolution, bankruptcy, ownership transformation, which sell assets being goods subject to VAT, shall have to calculate, declare and pay VAT. When selling goods, they must make invoices as prescribed, declare and pay VAT thereon.

In case of selling goods of enterprises under the provisions of Decree No. 103/1999/ND-CP of September 10, 1999 of the Government on “assignment, sale, business contracting and lease of State enterprises,” selling assets of bankrupt enterprises under the provisions of the Law on Enterprise Bankruptcy, VAT shall not have to be calculated, declared and paid for these assets.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



4. Import and export business establishments which undertake the consigned import of goods subject to VAT shall have to make VAT declaration as follows:

Establishments undertaking the consigned import of goods shall not have to declare and pay VAT for such goods but have to declare added value invoices made for the consigned import goods already returned to the import-consigning establishments with the tax offices on the list No. 02/GTGT together with invoices and vouchers of other goods and services sold. Invoices for consigned import goods are listed separately in the List.

5. The business establishments engaged in shipment trading shall have to declare and pay tax upon each goods shipment with the Tax Sub-Departments of the localities where they purchase such goods before transporting the goods away (except for the cases of VAT exemption under the Government’s regulations). The payable tax amount for shipment goods shall be calculated by the method of direct calculation on the added value.

6. Business establishments dealing in assorted goods and/or services with different VAT rates shall have to declare VAT according to each tax rate prescribed for each kind of goods or service; if they cannot determine tax according to each tax rate, they must calculate and pay tax at the highest tax rate of the goods and/or services which the establishments deal in.

7. Where the goods/service sale turnovers, input tax and output tax do not arise, the business establishments shall still have to make and submit the declarations to the tax offices.

8. Business establishments trading in gold, silver, foreign currencies and/or gems and business establishments paying tax by the method of direct tax calculation on added value, which have effected the goods/service purchase and sale with adequate invoices, vouchers and book-entries, shall not have to pay VAT if the negative added value (-) arises when declaring the payable tax of the month; the negative added value shall be carried forward for clearing against the arising added value of the following month to calculate payable VAT and make the final settlement of tax for the whole year, but the negative added value of the tax settlement year must not be carried forward to the subsequent year.

9. For non-business units and other organizations, which are engaged in the production and/or trading of goods and/or services subject to VAT, they shall have to register, declare and pay VAT and the enterprise income tax as provided for by law. Where units cannot account and determine separately the costs and input VAT of the taxable goods and/or services, the payable VAT and enterprise income tax shall be determined on the basis of the turnover and added value percentage (%) and the percentage (%) of enterprise income calculated on turnover and determined by the tax offices for tax declaration and payment.

10. Foreign organizations and individuals engaged in production and/or business activities in Vietnam not in any form of investment under the Law on Foreign Investment in Vietnam (collectively referred to as foreign contractors) shall declare and pay VAT according to separate regulations of the Finance Ministry.

Where organizations or individuals in Vietnam act as goods or service sale agents for foreign organizations or individuals, such organizations or individuals in Vietnam must declare and pay VAT for goods and/or services for the foreign parties.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Upon delivery for sale or return of entrusted-import goods, establishments shall make invoices as provided for at Point 5.1, Section IV, Part B of this Circular.

12. The making of lists of goods and/or services purchased or sold for submission together with the monthly tax declarations to the tax offices in a number of cases shall be as follows:

- For goods and services which are retailed directly to consumers, such as electricity, water, petrol and oil, postal services, hotel services, food and drink catering, passenger transportation services and retail of other consumer goods and services, their retail turnovers may be summed up in general declarations; declaration in each separate invoice shall not be required.

- For goods and services which are purchased from retailers, the general list shall be made for each group of goods or services subject to the same tax rate; detailed listing in each separate invoice shall not be required.

III. VAT PAYMENT

VAT payers shall have to pay VAT in full and on time into the State budget.

The order and procedures for tax payment shall be effected as follows:

1. For business establishments which pay tax by tax deduction method shall, after submitting VAT declarations to the tax offices, have to pay VAT into the State budget. The deadline for paying tax in a month shall be the 25th of the subsequent month.

For business establishments which have opened deposit accounts at banks, they shall carry out tax payment procedures by making papers on remittance of money into the State budget. The time of paying tax into the State budget shall be the date the banks receive and carry out the procedures to deduct and remit money from the establishments’ accounts into the State budget and record such in the papers on remittance of money into the State budget. For business establishments paying tax in cash, the time of paying tax into the State budget shall be the date the treasury or tax office receives the tax monies.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Business establishments shall have to pay outstanding VAT amounts into the State budget within 10 days after the date of submitting the tax settlement reports; any overpaid amounts, if any, shall be deducted from the tax amounts payable in the subsequent period or shall be refunded if the establishments fall into the cases and subjects entitled to tax refund.

2. For business organizations and individuals (households) that pay VAT by direct calculation method and make tax declaration and payment according to the tax notices of the tax offices, the deadline for tax payment is the 25th of the subsequent month. For business individuals (households) that pay tax in fixed amounts, the deadline for tax payment is the last day of the month when the tax must be paid.

For business individuals (households) (excluding subjects that pay tax according to declarations) that stay in areas far from the State treasury or conduct mobile and/or irregular business operations, the tax offices shall organize the tax collection and payment into the State budget. The time limit for the tax offices to pay the collected tax amounts into the State budget shall be three days (from the date the tax is collected); particularly for mountainous, island and difficult-to-access areas, such time limit shall be six days.

3. Business establishments and persons that import goods shall have to pay VAT on import goods upon each importation. The time limit for notice and payment of VAT on import goods shall coincide with the time limit for import tax notice and payment.

For goods not subject to import tax or subject to the import tax rate of 0%, the time limit for VAT declaration and payment shall comply with the provisions applicable to goods subject to import tax.

For non-commercial import goods, non-quota cross-border import goods, the form of tax payment notice shall not apply, VAT must be declared and paid immediately upon the importation thereof.

For import goods for which VAT is not required to be paid upon their importation such as raw materials imported for production and/or processing of export goods, gifts, donations, humanitarian aid, non-refundable aid goods, etc., if they are then delivered for sale or for use for other purposes, VAT declaration and payment must be made with the tax offices directly managing the establishments as  applicable to goods traded in by the establishments.

4. Business establishments with fixed locations, when purchasing, buying or transporting import goods, must strictly comply with the regime on invoices and vouchers. If failing to produce fully invoices and vouchers as prescribed, they shall be handled for violations of regulations on invoices and vouchers, for tax-related administrative violations or have their goods (for goods imported without lawful invoices, vouchers) confiscated according to law provisions.

When paying tax, the business establishments shall be given by the tax offices or the State treasuries tax receipts or vouchers certifying the tax collection. Such receipts and vouchers are uniformly issued by the Finance Ministry. The tax offices shall have to guide and inspect business establishments in observing the regime of book keeping and making clear book entries of the VAT amounts inscribed on invoices and vouchers for use as basis for calculation of payable and deductible VAT amounts.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Business establishments which move to other localities (urban districts, rural districts for tax payers directly managed by the Tax Sub-Departments; provinces, centrally-run cities for tax payers directly managed by the provincial/municipal Tax Departments) shall have to fully pay the outstanding VAT amounts and obtain certification thereof by the direct managing tax offices before their relocation.

For establishments which pay tax by tax deduction method, when relocating their offices, if having the input VAT amounts not yet fully deducted or overpaid, they shall be entitled to deduction or clearing against when making tax declaration and payment with their direct managing tax offices in the localities where they move to. Business establishments shall have to make general lists of the arising tax amounts, the already paid tax amount and the overpaid tax amounts and send them to the provincial/municipal Tax Departments for certification, serving as a basis for tax calculation and payment with the tax offices of the localities where they move to.

Business establishments entitled to VAT calculation by deduction method, if in the tax calculation period they have the deductible input tax amounts larger than the payable output tax amounts, may carry forward the input tax amounts not yet fully deducted into the subsequent tax calculation period. Where business establishments have made investment in new fixed assets and enjoy large deductible input tax amounts, they shall be entitled to gradual tax deduction or refund under to the provisions in Part D of this Circular.

6. VAT shall be paid into the State budget in Vietnam dong. Where business establishments have the turnover of goods and/or service purchase or sale in foreign currency(ies), such foreign currency(ies) must be converted into Vietnam dong at the average inter-bank exchange rates announced by Vietnam State Bank at the time of arising the goods and/or service purchase or sale amounts in foreign currency(ies) in order to determine the payable VAT amount.

IV. SETTLEMENT OF VAT

All business establishments (excluding medium- and small-sized business households which pay tax in fixed amounts) shall have to make and send their annual VAT settlements to the tax offices. They must make full and accurate declaration according to the indexes and date in the tax settlement form; send the tax settlements made according to forms No. 11/GTGT, 12A/GTGT and 12B/GTGT promulgated together with this Circular (not printed herein) to the tax offices in the localities where they have made tax payment registration.

The tax settlement year is calculated according to the calendar year. Where a business establishment is allowed to apply a financial settlement year other than the calendar year, it must still make VAT settlement according to the calendar year. The time limit for business establishments to submit their tax settlement to the tax offices shall be 60 days as from December 31 of the tax settlement year.

Where business establishments are merged, consolidated, divided, separated, dissolved, bankrupt, have their ownership transformed; assigned, sold, contracted or leased, for State enterprises, they shall still have to submit the tax settlements to the tax offices within 45 days as from the dates the decisions on the merger, consolidation, division, separation, dissolution, bankruptcy, ownership transformation, or assignment, sale, contracting or lease, for State enterprises, are issued.

Business establishments shall have to bear responsibility for the truthfulness of the tax settlement data; if business establishments make wrong reports in order to evade tax, they shall be sanctioned according to law provisions.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



I. SUBJECTS ENTITLED TO AND CASES OF VAT REIMBURSEMENT

1. Business establishments which pay tax by tax deduction method shall be considered for tax refund in the following cases:

a/ They have input tax amounts left undeducted for three or more consecutive months (regardless of the accounting year).

The refundable tax amount is the input tax amount not yet fully deducted by the time of applying for tax refund. This case shall apply also to business enterprises making new or in-depth investments.

Example: Enterprise A declares VAT, having the input and output VAT as follows:

(Calculation unit: VND million)

Tax declaration month

Input tax deductible in the month

Output tax arising in the month

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Accumulative input tax amount not yet deducted

December, 2000

200

100

-100

-100

January, 2001

300

350

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



-50

February, 2001

300

200

-100

-150

According to the above example, Enterprise A has the accumulative input tax amount for three consecutive months larger than the output tax amount. Enterprise A is entitled to be refunded with the VAT amount of VND 150 million.

b/ If business establishments export goods and/or services in the month and have the input VAT amount thereon not yet deducted reaching VND 200 million or more, they shall be considered for tax refund every month. Where in a month the input VAT amounts not yet fully deducted cover also the input tax on goods and/or services sold at home, such input tax shall be also allowed to be included in the tax amounts refundable in the month.

For goods consigned for export, intermediate processing for export, the subjects entitled to tax refund shall be the establishments having goods consigned for export or conducting intermediate processing of goods for export. For consigned processing, the subjects entitled to tax refund shall be the establishments directly processing goods for export.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Example 1: A business establishment was newly set up in 2003; during 2003, it invested VND 6 billion in the construction and installation and VND 2 billion in machinery and equipment.

- The input VAT on supplies used in the construction and installation is VND 400 million.

- The VAT on machinery and equipment is VND 200 million.

At the end of 2003, the project was not put into production and business operation, yielding no turnover, hence no payable VAT emerged yet. After making the 2003 VAT settlement report with the input tax amount determined to be VND 600 million, the establishment shall compile a dossier requesting the tax office to refund the VAT amount of VND 600 million to the establishment.

Where the establishments have the quarterly accumulated input tax amount larger than VND 200 million, they may request the quarterly tax refund.

3. For business establishments subject to pay tax by tax deduction method, if they have investment projects to build production establishments, which are at the investment stage, have not yet been put into operation, have not yet made business and tax payment registration, and the VAT on the goods and/or services used for such investment projects reaches VND 200 million or more, they shall be considered for the quarterly tax refund. They shall have to make separate declaration and compile tax refund dossiers for each investment project.  

4. Business establishments shall settle tax upon their merger, consolidation, division, separation, dissolution, bankruptcy; or assignment, sale, contracting or lease, for State enterprises, and have any overpaid tax amounts or input VAT amounts not yet fully deducted.

5. Business establishments shall be refunded tax under decisions of competent bodies as prescribed by law.

6. The refund of paid VAT amounts for ODA-funded projects shall be as follows:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- Where the above-said project owners are not allocated reciprocal capital from the State budget for payment of the VAT on goods and services purchased and used for their project; the project owners have signed contracts with the principal contractors being VAT payers by tax deduction method to supply goods and/or services at the VAT-exclusive prices, such principal contractors shall be allowed to calculate for deduction or refund the input VAT on the goods and/or services purchased and used for the projects.

Example 1: Construction Company A builds a construction work of Project B funded with non-refundable aid capital at the price determined in the contract signed with the project owner, with the VAT-exclusive construction and installation value of VND 4 billion. The Project B owner is not allocated reciprocal capital from the State budget for payment at the VAT-inclusive prices. The Project B owner directly buys home-made equipment and hands them over to Company A for installation; the VAT-exclusive purchase price of such equipment is VND 1 billion, VAT is VND 100 million.

If Company A receives the payment at the VAT-exclusive contracting price of VND 4 billion, it shall be entitled to deduct the input VAT of the purchased goods and supplies in service of the construction of Project B.

The Project B owner shall be refunded the input VAT of the purchased home-made equipment, which is VND 100 million.

Example 2: Construction Company M carries out the construction and installation of works of Project C funded with ODA loans and the project is entitled to non-refundable State budget investment, with the VAT-exclusive construction and installation value of VND 5 billion, 10% VAT of VND 500 million. Project B owner imports equipment and delivers them to Company M for installation, which have the VAT-exclusive import price of VND 2 billion and VAT of VND 200 million. The Project B owner shall be refunded the input VAT of VND 700 million.

The owners of ODA-funded projects that are entitled to tax refund must record the refunded VAT amounts as an increase in the budget capital allocated to the projects. When making the annual reciprocal capital plans for the projects, they shall not have to calculate the reciprocal capital plans for VAT payment.

Where project owners are allocated reciprocal capital from the State budget for payment to contractors at VAT-inclusive prices, such contractors shall, when selling goods and services to the projects, have to calculate, declare and pay VAT according to regulations. 

7. Vietnamese organizations which use humanitarian aid and/or non-refundable aid money of foreign organizations and/or individuals for the purchase of goods in Vietnam for use as aid shall be refunded the already paid VAT inscribed on the added value invoices upon the goods purchase.

Example: The Red Cross Society is provided with VND 200 million as aid from international organizations for the purchase of humanitarian aid goods for people in the provinces hit by natural calamities. The tax-exclusive value of purchased goods is VND 200 million and the VAT is VND 10 million. The Red Cross Society shall be, as prescribed, refunded VND 10 million of tax.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Where business establishments have already compiled dossiers requesting the tax refund, they must not transfer the input tax amounts requested to be refunded into the deductible tax amounts of the month following the time the tax refund dossiers are compiled.

Where in the month preceding the tax refund-requesting time, the establishments have some overpaid VAT amounts, they shall be allowed to add the overpaid VAT amounts into the VAT amounts requested to be refunded in the period; where the establishments have some underpaid tax amounts, they shall have to pay them fully into the State budget before being refunded tax.

8. For the subjects entitled to diplomatic privileges and immunities under the Ordinance on Diplomatic Privileges and Immunities, if purchasing goods or services in Vietnam, they shall be refunded the VAT inscribed on valued added invoices. For business establishments in Vietnam, which sell goods or services to these subjects, when making added value invoices, they must still calculate VAT. The subjects, goods, services, procedures and dossiers for tax refund in this case shall be as guided in Circular No. 08/2003/TT-BTC of January 15, 2003.

II. VAT REFUND DOSSIERS

1. The VAT refund dossiers for cases mentioned at Points 1a, 2 and 3, Section I, Part D of this Circular shall each comprise:

- The official dispatch requesting VAT refund, clearly stating the reasons therefor, the tax amount requested to be refunded, the refund time (made according to form No. 10/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein).

- The general declaration of the arising output tax amount, the deductible input tax amount, the already paid tax amount (if any), the input tax amount larger than the output tax amount requested to be refunded.

- The list of goods and services purchased and sold in the period, which relate to the determination of input and output VAT (forms No. 02/GTGT and 03/GTGT promulgated together with this Circular, not printed herein). Particularly for purchased goods and services for which special-type invoices inscribed with VAT-inclusive prices are used, form No. 05/GTGT promulgated together with this Circular (not printed herein) shall  be used. 

Where the monthly tax declarations have been made fully and accurately, which is compatible with the general declarations, the establishments shall not have to submit the list of purchased and sold goods and services of the months for which the tax refund is requested. In case of adjustment of the deductible input VAT and output VAT of the months during the tax refund period, the establishments shall have to declare the deductible input VAT, the arising output VAT for each month in the tax refund period; for the adjusted tax amounts, they must clearly explain the reasons therefor.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- The documents specified at Point 1 of this Section.

- The report on liquidation of the contract on consignment of export or consignment of processing of goods for export (for cases where the contracts have been terminated) or the report on periodical comparison of debts between the export consignor and the export consignee (for cases of export or export processing consignment).

- The list of dossiers, signed and stamped by the establishment, clearly stating:

+ The serial number and date of the export declaration of export goods (for cases of export consignment, the serial number and date of the export declaration of the consignment consignee must be clearly stated).

+ The serial number and date of the export contract or the serial number and date of the export consignment or processing consignment contract for cases of export or export processing consignment).

+ The form of payment, serial number, date and amount of the voucher on payment for export goods or services.

b/ Tax refund dossiers for the cases where export goods or services are paid with goods shall each comprise:

- The documents specified at Point 1 of this Section.

- The list of documents, signed and stamped by the establishment:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+ The serial number and date of the contract on purchase of import goods or services of the foreign party (called the import contract for short) for clearing against the export goods or services.

+ The serial number and date of the export declaration of the export goods.

+ The serial number and date of the import declaration of the import goods purchased from the foreign party for clearing against the export goods or services.

+ The serial number and date of the written certification with the foreign party of the money amount of clearing payment between the export goods or services and the import goods or services purchased from the foreign party.

Where there remains some difference after the clearing has been  made between the value of the export goods or services and that of the imported goods or services, such difference must be paid via bank and the business establishments must also declare in the enclosed list the serial number and date of the via-bank payment voucher, and the paid amount.   

Goods and service export contracts, contracts on import and purchase of goods or services from foreign parties must strictly comply with the provisions of the Commercial Law, clearly stating the quantities, categories and value of goods or services, the sale (purchase) prices, the processing charges (for cases of goods processing), the form of clearing between the value of export goods or services and that of import goods or services purchased from foreign parties.

Where business establishments produce or process goods for export and make clearing against import goods under long-term contracts with foreign parties, they must register with the tax offices their export contracts, import contracts and plans on payment with foreign parties. Periodically, the establishments must produce written certifications of the quantities and value of goods used for clearing with foreign parties.

c/ Tax refund dossiers for cases of on-spot export goods shall each comprise:     

- The documents stated at Point 1 of this Section.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



+ The serial number and date of the on-spot export contract signed with the foreign party.

+ The serial number and date of the on-spot export and import declaration.

+ The serial number, date and amount of the voucher on via-bank payment for on-spot export goods.  

3. Tax refund dossiers for business establishments with overpaid VAT amounts upon their merger, division, separation, dissolution, bankruptcy; ownership transformation; assignment, sale, contracting or lease, for State enterprises, shall each comprise:

- The official dispatch requesting the refund of VAT amounts already overpaid into the State budget.

- The decision on the merger, consolidation, division, separation, dissolution, bankruptcy, ownership transformation; assignment, sale, contracting or lease, for State enterprises, by the competent authorities.

- VAT settlement by the time of merger, consolidation, division, separation, dissolution, bankruptcy, ownership transformation; assignment, sale, contracting or lease, for State enterprises.

4. The tax refund dossiers for cases mentioned at Point 6, Section I of this Part shall each comprise:

- The documents stated at Point 1 of this Section [(particularly for investment-project owners eligible for tax refund, they shall only sum up in the general declarations the refundable input tax amounts and the list of purchased goods, services according to form No. 03/GTGT and form No. 05/GTGT (for purchased goods and services for which special-type invoices inscribed with VAT-inclusive prices are used)] and additionally send them to the tax offices (the first submission):

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- The written certification by the competent agency that the project funded with non-refundable ODA (or funded with ODA loans and enjoying non-refundable investment from the State budget) are entitled to VAT refund (the copy certified by the establishment).

In case of refunding tax to principal contractors, the principal contractors shall have to additionally send (for the first time) the project owners’ documents confirming that the projects are not allocated reciprocal capital from the State budget for payment to the contracts at VAT-inclusive prices; or the payment prices according to the bidding results are exclusive of VAT, and proposing the VAT refund to the principal contractors.

5. The tax refund dossiers for the cases mentioned at Point 7, Section I of this Part shall each comprise:

- The documents stated at Point 1 of this Section (particularly for the general declarations, it shall only sum up the refundable input tax amounts and the list of purchased goods, services according to form No. 03/GTGT and form No. 05/GTGT (for purchased goods and services for which special-type invoices inscribed with VAT-inclusive prices are used) promulgated together with this Circular (not printed herein).

- The copy of the decision approving the aid amounts, issued by competent authorities (the Prime Minister, ministers, People’s Committee presidents, heads of the ministerial-level agencies or Government-attached agencies, heads of mass organizations) as provided for in Article 5 of Decision No. 28/1999/QD-TTg of the Prime Minister (the copy certified by the establishment).

- The written certification by the Aid Reception Management Committee of the Finance Ministry of the aid amounts given by non-governmental organizations, clearly stating the names of the donors, the value of the aid amounts, the bodies receiving and managing aid money (the copy certified by the establishment).

III. RESPONSIBILITIES OF VAT REFUNDEES

1. To make the tax refund dossiers as provided for in Section II of this Part and send them to the tax offices. To make accurate and truthful declaration in tax refund dossiers and to take responsibility before law for the declared data.

2. Where their dossiers are unclear or incomplete. to supply supplementary documents or give explanation as requested by the tax offices.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



IV. COMPETENCE AND ORDER FOR SETTLEMENT OF VAT REFUND:

1. Competence to settle tax refund:

a/ The directors of the provincial/municipal Tax Departments shall consider and issue decisions on tax refund for VAT refundees prescribed in Section I of this Part.

b/ The Finance Minister or the General Director of Tax, as authorized by the Finance Minister, shall issue decisions on tax refund for other  subjects and special cases.

2. The tax offices’ responsibilities in tax refund:

- To receive tax refund dossiers of tax payers.

- To examine the tax refund dossiers at the tax offices, classify the subjects eligible for tax refund so as to apply appropriate tax refund procedures and ensure the close management of tax refund.

- To notify in writing and send back the dossiers to the business establishments not eligible for tax refund; where a business establishment is eligible for tax refund but its dossier has not yet been compiled completely and properly, within 7 days (after receiving the dossier) to request in writing the business establishment to supplement or re-compile its dossier.

- To check the data and determine the refundable tax amounts of the subjects eligible for tax refund:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



- To examine and inspect the tax refund at the establishments in cases of detecting doubtful signs in the dossiers or tax refundees’ violations of the tax legislation

3. Time limit for settlement of tax refund:

- The time limit for settlement of tax refund for the subjects liable  to tax refund prior to examination shall be 15 days (three days for the tax refund cases prescribed at Point 6, Section I, Part D of this Circular) after the complete dossiers as prescribed are received.

- The time limit for settlement of tax refund for the subjects liable to examination and inspection prior to tax refund shall be 60 days after the complete dossiers as prescribed are received. 

4. Responsibilities of the State Treasuries:

The State Treasuries of the provinces and centrally-run cities shall refund VAT to various subjects within the time limit of three days after receiving the tax refund decisions of the tax offices; in case of tax refund under the provisions at Point 1.b, Section IV of this Part, basing itself on the tax refund decisions of the Finance Minister, the spending proxies of the General Director of Tax, the Central State Treasury shall effect the tax refund.

5. VAT refund money shall come from the VAT Refund Fund. The management and use of the VAT Refund Fund shall comply with separate regulations of the Finance Ministry.

6. The number of days for considering and settling tax refund in the above cases is counted in working days.

E. TASKS, POWERS AND RESPONSIBILITY OF TAX OFFICES

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



To issue notices to remind business establishments which fail to comply with the regulations on tax registration, declaration and payment; to impose sanctions on tax-related administrative violations in cases where the establishments, though have been reminded, fail to comply with such regulations.

2. To issue notices to business establishments to explain, adjust, supplement or make re-declaration in cases their VAT declarations fail to state fully and correctly the payable tax amounts. Such notices of the tax offices must be sent to the tax payers 3 days before the tax payment deadlines.

Tax payment notices sent to organizations and business individuals (households) that pay tax by direct method on the payable tax amounts and the tax payment deadlines shall be made according to form No. 08A/GTGT or 08B/GTGT promulgated together with this Circular. Tax payment notices must be sent to the tax payers 3 days before the tax payment deadlines inscribed therein.

3. To issue late tax payment notices on the tax amounts and fine amounts of late payment under the provisions of Clause 2, Article 19 of the VAT Law to business establishments which fail to pay tax on schedule.

The time for computing fines on late monthly tax payment shall be as follows:

- From the 26th of the subsequent month for tax payers that pay tax by tax deduction method and tax payers that pay tax by direct calculation method with declarations.

- From the 1st of the subsequent month for tax payers that pay tax in fixed amounts.

- From the date following the tax payment date as provided for by the Export Tax and Import Tax Law for import goods.

4. To apply measures to handle tax-related administrative violations or propose competent bodies to apply measures specified in Clause 4, Article 19 of the VAT Law, for cases of failing to pay taxes and fines according to the tax offices’ notices.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



5. To examine and inspect the tax declaration, payment and settlement by business establishments in accordance with the provisions of law.

6. To settle tax-related complaints in accordance the provisions of law.

7. To request tax payers to supply accounting books, invoices, vouchers and other dossiers as well as documents related to tax calculation and payment; to request credit organizations, banks and other concerned organizations and individuals to supply documents related to the tax calculation and payment.

8. To keep and use data and materials supplied by business establishments and other subjects according to the prescribed regime.

9. The tax offices may set the payable VAT for tax payers in the following cases:

a/ The business establishments fail to observe or improperly observe the accounting, invoice and voucher regimes.

For business households being VAT payers by method of direct calculation on added value and consignment business establishments which have not yet implemented or have not fully implemented the purchase and sale of goods and services with invoices or vouchers, the tax offices shall base themselves on their business situation to determine the added value and payable tax amounts by method of direct tax calculation on added value mentioned at Point 2.3, Section III, Part B of this Circular.

For business individuals and medium- and small-sized business households (called collectively the business households), with the fixed tax amounts payable every month being suitable to the business households, these tax levels shall be determined as a basis for stable tax collection for 6 or 12 months. The tax offices shall have to publicly announce the turnovers and tax amounts set for these subjects.

For medium- and small-sized business households which pay tax at fixed levels for each period, if having any changes in their business lines or scope during that period, they must declare these changes to the tax offices for consideration and adjustment of the fixed tax levels. Where business households fail to declare or declare untruthfully such changes, the tax offices shall be entitled to set the payable tax amounts suitable to the business situation. Households which cease to do business for 15 days or more in a month shall be considered for the 50% reduction of the payable tax amount of the month; if they cease to do business for the whole month, they shall be exempt from tax payment for that month.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Medium- and small-sized business households shall be determined by the Tax Departments according to business lines or trades in a way suitable to the practical situation of each locality, and for the application of tax management and collection methods according to regulations

b/ The business establishments fail to make declaration or past the deadline for submission of declarations and though having been reminded thereof they still fail to do it, or they have submitted the tax declarations which, however, contain incorrect bases for determination of VAT amounts.

Where business establishments fail to submit the tax declarations or have declared incomplete and incorrect bases for determination of the payable VAT amounts such as output VAT (sale prices, tax rates) or deductible input VAT, the tax offices shall be entitled to base themselves on the business situation of the establishments and investigation data to set the sale prices, turnovers and payable VAT amounts, and notify the establishments thereof for implementation. If the business establishments disagree with the tax amounts set by the tax offices, they may lodge complaints with the superior tax offices or competent bodies but pending the settlement still have to pay the tax amounts set by the tax offices.

c/ They refuse to produce accounting books, invoices, vouchers and necessary documents related to VAT calculation;

d/ They are detected through examinations to have conducted business activities without business registration or without tax registration, declaration and payment.

The tax offices shall base themselves on documents on the investigation of the situation on business activities of the establishments or on the payable tax amounts of establishments engaged in the same business lines with equivalent business scopes to fix the payable tax amount for each business establishment in the cases mentioned above.

F. HANDLING OF VIOLATIONS

I. HANDLING OF TAX-RELATED VIOLATIONS

Tax payers that violate the VAT Law shall be handled as follows:

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



2. If they delay the payment of tax or fines inscribed in the tax notices, tax collection orders or sanctioning decisions, they shall, apart from fully paying the tax or fine amounts as prescribed by law, have to pay a fine equal to 0.1% (one thousandth) of the late paid amount per late day.

3. If they falsely declare or evade tax or commit frauds in tax refund, apart from fully paying the tax amounts as prescribed by the VAT Law, they shall, depending on the nature and seriousness of their violations, be subject to a fine from one to five times the falsely declared tax amounts; if they evade tax or commit tax frauds involving large amounts or have been sanctioned for tax-related administrative violations but continue to commit serious violations, they shall be examined for penal liability according to the provisions of law.

Business establishments which have committed fraudulent acts in making declarations for tax deduction or tax refund shall not be allowed to deduct the falsely declared tax amounts nor have them refunded; where the tax offices have refunded tax to them, the tax offices must retrieve the falsely declared tax amounts which have been refunded; for the VAT amounts stated in the tax refund dossiers, the business establishments must, after deducting the falsely declared tax amounts therefrom, carry them forward to the subsequent tax declaration and payment period to clear against the payable VAT amounts.   

4. Failing to pay tax and/or fines, tax payers shall be handled as follows:

a/ Deducting the tax payers’ money deposited at banks, treasuries or credit institutions for payment of tax and/or fines.

Banks, treasuries and credit institutions shall have the responsibility to deduct the money from the deposit accounts of the tax payers to pay tax and/or fines into the State budget according to tax-related handling decisions of the tax offices or competent bodies before recovering debts;

b/ Keeping goods, evidences to ensure the full collection of tax and/or fines;

c/ Inventorying property according to the provisions of law in order to ensure the full collection of the outstanding tax and fine amounts.

The handling of the above-said VAT-related violations shall comply with the procedures and order prescribed in legal documents on handling of tax-related violations.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Tax offices at all levels, upon detecting the violations of the VAT Law committed by business establishments, shall have to examine and clearly determine the acts of violation, the seriousness, the causes of the violations; responsibilities of organizations and individuals for such acts of violation, and compile dossiers as prescribed. Basing themselves on the provisions and levels of sanctioning administrative violations in the field of tax, the tax offices shall, within the scope of their respective sanctioning powers, issue sanctioning decisions or propose the superior tax offices or law bodies to handle the violations according to the provisions of law:

1. Heads of the tax offices directly managing the tax collection shall have the right to handle violations committed by tax payers prescribed at Point 1, Point 2, and sanction tax-related administrative violations prescribed at Point 3, Section I, Part F of this Circular.

2. Directors of the Tax Departments, heads of the Tax Sub-Departments which directly manage the tax collection may apply the handling measures defined at Point 4, Section I, Part F of this Circular according to the provisions of law and transfer the dossiers to the competent bodies for handling according to the provisions of law for cases of violation prescribed at Point 3, Section I, Part F of this Circular.

G. COMPLAINTS AND STATUTE OF LIMITATIONS FOR IMPLEMENTATION

1. Tax payers’ rights and responsibilities in making tax-related complaints:

Under the provisions of Article 23 of the VAT Law, organizations and individuals have the right to lodge complaints about wrong application of the VAT Law by tax officers or tax offices to their establishments. Their written complaints must be addressed to the tax offices that have issued the tax notices, tax collection orders or the handling decisions within 30 days from the date of receiving the tax collection orders or the handling decisions. Pending the settlement, the complaining organizations and individuals shall still have to pay the notified tax and/or fine amounts fully and on time. If they disagree with the decisions of the tax offices on the settlement of their complaints, or past the time limit of 30 days from the date of sending their complaints they still receive no settling opinions, the complaining organizations and individuals may further lodge their complaints to the superior tax offices or initiate lawsuits at court according to the provisions of law. Where business establishments lodge their complaints with the superior tax bodies, the complaint-handling decisions of the Finance Minister shall be the final ones.

The procedures and order for lodging complaints or initiate lawsuits and the consideration and settlement thereof shall comply current law provisions.

2. Responsibilities and powers of the tax offices in settling tax-related complaints

Under the provisions in Article 24 of the VAT Law, the tax offices of all levels, upon receiving written tax-related complaints from tax payers, shall have to consider and settle them within 15 days after receiving the complaints.  For complicated cases which take time for inspection and verification, they should inform the involved parties thereof but the time limit for settlement must not exceed 30 days after the receipt of the written complaints; if the cases fall beyond their settling competence, they shall have to transfer the case dossiers or report them to the competent bodies for settlement and notify the involved parties thereof within 10 days from the date of receipt of the complaints. Tax offices that inspect, detect and conclude on tax frauds, tax evasions or tax-related mistakes and impose fines shall have to retrospectively collect or refund the tax amounts and/or fine amounts wrongly calculated within the last five years from the date of inspection and detection of tax frauds, tax evasions or tax-related mistakes. Where business establishments fail to make tax registration, declaration and payment, the time limit for collection of tax and fine arrears shall be counted from the date the business establishments commence their operation.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



I. ORGANIZATION OF VAT COLLECTION

1. The tax offices shall have to organize the VAT collection and refund for business establishments.

2. The customs offices shall have to organize the collection of VAT on import goods.

II. IMPLEMENTATION EFFECT

This Circular takes effect as from January 1, 2004 and replaces the Finance Ministry’s Circular No. 122/2000/TT-BTC of December 29, 2000 guiding the implementation of the Government’s Decree No. 79/2000/ND-CP of December 29, 2000 detailing the implementation of the VAT Law; the Finance Ministry’s Circular No. 82/2002/TT-BTC of September 18, 2002 guiding the amendments and supplements to a number of contents of Circular No. 122/2000/TT-BTC of December 29, 2000 (above); the Finance Ministry’s Circular No. 116/2002/TT-BTC of December 25, 2002 guiding the implementation of the Government’s Decree No. 108/2002/ND-CP of December 25, 2002 on canceling the regulation on the input VAT deduction in percentage (%) for a number of goods and services; the Finance Ministry’s Circular No. 84/2003/TT-BTC of August 28, 2003 guiding the application of VAT rates according to the List of import goods; the Finance Ministry’s Circular No. 164/1998/TT-BTC of December 17, 1998 guiding VAT applicable to postal and telecommunication services. All regulations contrary to this Circular are hereby annulled.

- The application of VAT rates to a number of specific cases shall be as follows:

+ For construction and installation establishments having construction and installation contracts which are signed before January 1, 2004 at the VAT-inclusive prices and 5% VAT rate, if, by December 31, 2003, still having unfinished construction or installation works, they shall continue to enjoy the tax rate of 5% for the volumes or items of the construction and installation works which are still to be performed under the contracts.

+ For business establishments which have investment projects on building houses for sale, if they have signed house sale contracts at the VAT-inclusive prices and the VAT rate of 5%, have collected from the purchasers at least 30% of the contractual value before January 1, 2004, they shall be entitled to apply the tax rate of 5% to these contracts.

In January 2004, the construction and installation establishments engaged in building houses for sale must declare to the tax offices that directly manage them the lists of house construction, installation, sale or purchase contracts in order to apply the tax rate of 5% according to the above guidance.

...

...

...

Please sign up or sign in to your Pro Membership to see English documents.



Should any difficulties or problems arise in the course of implementation, the units and business establishments are requested to report them promptly to the Finance Ministry for study and additional guidance.

 

 

FOR THE FINANCE MINISTER
VICE MINISTER




Truong Chi Trung

 

ATTACH FILE

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Thông tư 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


33.851

DMCA.com Protection Status
IP: 3.238.199.4