|
VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 314/QĐ-VKSTC
|
Hà Nội, ngày 05
tháng 7 năm 2018
|
QUYẾT
ĐỊNH
BAN
HÀNH QUY CHẾ PHỐI HỢP GIỮA VIỆN KIỂM SÁT CẤP TRÊN VÀ VIỆN KIỂM SÁT CẤP DƯỚI
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ DO VIỆN KIỂM SÁT CẤP TRÊN THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VÀ TRUY TỐ, PHÂN CÔNG CHO VIỆN KIỂM SÁT CẤP DƯỚI THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM
VIỆN TRƯỞNG VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật Tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;
Căn cứ Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định
số 03/QĐ-VKSTC ngày 29/12/2017 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Căn cứ Quy chế công tác thực hành quyền công tố,
kiểm sát xét xử vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao;
Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Thực hành quyền
công tố và kiểm sát án kinh tế và Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Viện
kiểm sát nhân dân tối cao,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế phối hợp giữa Viện
kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới trong việc giải quyết vụ án hình sự
do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và truy tố,
phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử
sơ thẩm.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Lãnh đạo VKSNDTC;
- Lưu: VT, Vụ 3, Vụ 14.
|
VIỆN TRƯỞNG
Lê Minh Trí
|
QUY
CHẾ
PHỐI
HỢP GIỮA VIỆN KIỂM SÁT CẤP TRÊN VÀ VIỆN KIỂM SÁT CẤP DƯỚI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
VỤ ÁN HÌNH SỰ DO VIỆN KIỂM SÁT CẤP TRÊN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU
TRA VÀ TRUY TỐ, PHÂN CÔNG CHO VIỆN KIỂM SÁT CẤP DƯỚI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ,
KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM
(Ban hành kèm theo Quyết định số 314/QĐ-VKSTC ngày 05 tháng 7 năm 2018 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Quy chế này quy định về quan hệ phối hợp công
tác giữa đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thuộc Viện kiểm sát
nhân dân tối cao với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trong việc giải quyết vụ
án hình sự do Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát
điều tra và quyết định truy tố, sau đó phân công cho Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Quan hệ phối hợp công tác giữa Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết vụ
án hình sự do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố, kiểm sát
điều tra và quyết định truy tố, sau đó phân công cho Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm được thực hiện theo những
quy định tương ứng của Quy chế này.
3. Quy chế này không điều chỉnh trong hệ thống Viện
kiểm sát quân sự.
4. Việc phối hợp giữa các đơn vị, Viện kiểm sát các
cấp theo Quy chế này được thực hiện từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong quá
trình điều tra, truy tố đến khi kết thúc xét xử sơ thẩm.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Các Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các Phòng Thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
(sau đây gọi chung là đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra).
2. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.
3. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.
4. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (sau đây gọi chung là
lãnh đạo Viện).
5. Lãnh đạo đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Trưởng phòng, Phó trưởng
phòng đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử thuộc
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi chung là lãnh đạo đơn vị).
6. Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện được
phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết vụ án hình sự.
Điều 3. Mục đích phối hợp
1. Nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, bảo đảm việc giải
quyết vụ án chính xác, kịp thời, đúng pháp luật.
2. Tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên tham
gia giải quyết vụ án hình sự. Tạo điều kiện cho Kiểm sát viên của Viện kiểm sát
cấp dưới được tham gia giải quyết vụ án ngay từ giai đoạn điều tra, bảo đảm nắm
chắc hồ sơ vụ án, chứng cứ, tài liệu, đồ vật, nội dung, tiến độ, kết quả điều
tra vụ án để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử sơ thẩm tại phiên tòa. Tạo điều kiện cho Kiểm sát viên của Viện kiểm
sát cấp trên giải quyết vụ án liên tục từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá
trình điều tra, truy tố cho đến khi kết thúc xét xử sơ thẩm vụ án.
3. Bảo đảm sự theo dõi, chỉ đạo kịp thời của Viện
kiểm sát cấp trên trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án.
Điều 4. Nguyên tắc phối hợp
1. Bảo đảm tuân thủ nguyên tắc tập trung, thống nhất
lãnh đạo trong Ngành trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
2. Bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền của mỗi đơn vị trong thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp luật và quy
chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát nhân dân.
3. Bảo đảm tuân thủ đúng quy định về bảo vệ bí mật
nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật và quy định của ngành Kiểm
sát nhân dân.
Điều 5. Trách nhiệm của các đơn
vị trong quan hệ phối hợp
1. Đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp trên chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá
trình khởi tố, điều tra và quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án nhân dân
có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án; có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát
nhân dân cấp dưới trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ
thẩm.
2. Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới có trách nhiệm
phối hợp với đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra trong quá trình
thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án; chịu trách nhiệm thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm khi được Viện kiểm sát nhân dân cấp trên
phân công.
Điều 6. Phối hợp trong giai đoạn
khởi tố, điều tra
1. Căn cứ tính chất, yêu cầu giải quyết từng vụ án
cụ thể, sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, đơn vị thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra có thể thực hiện theo một trong các trường hợp sau:
a) Tham mưu, đề xuất với lãnh đạo Viện ra văn bản
thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm để đề xuất Kiểm sát viên được biệt phái đến
làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra tại Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên để giải quyết vụ án được phân công. Văn bản thông báo phải nêu rõ
số lượng Kiểm sát viên biệt phái, thời hạn biệt phái;
b) Tham mưu, đề xuất với lãnh đạo Viện ra văn bản
thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ
vụ án theo quy định tại Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Văn bản thông báo phải nêu rõ số lượng Kiểm sát viên được cử, thời hạn cử.
2. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được văn
bản thông báo của đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra theo quy định
tại khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới phải có văn bản đề xuất
Kiểm sát viên được biệt phái hoặc văn bản cử Kiểm sát viên gửi đến Viện kiểm
sát nhân dân cấp trên.
3. Ngay sau khi nhận được văn bản đề xuất biệt phái
hoặc cử Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới, đơn vị thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra phối hợp với đơn vị Tổ chức cán bộ tham mưu với Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp mình quyết định việc biệt phái hoặc cử Kiểm
sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới đến Viện kiểm sát nhân dân cấp
trên để giải quyết vụ án theo sự phân công của lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị.
Lãnh đạo Viện, hoặc lãnh đạo đơn vị ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, truy tố.
4. Trong thời hạn được biệt phái hoặc được cử, Kiểm
sát viên phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, quy định của ngành Kiểm
sát nhân dân và phân công của lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị trong quá trình thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Kiểm sát viên được
biệt phái hoặc được cử phải thể hiện rõ quan điểm của mình về thủ tục tố tụng,
chứng cứ, tội danh, quan điểm giải quyết vụ án với lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn
vị.
Khi phát hiện có vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc
thiếu chứng cứ, tài liệu, đồ vật quan trọng cần bổ sung, Kiểm sát viên được biệt
phái hoặc được cử phải kịp thời báo cáo với lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị để
có biện pháp khắc phục kịp thời.
5. Lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị phải có trách nhiệm
giải quyết những vấn đề do Kiểm sát viên được biệt phái hoặc được cử đã đề xuất.
Trường hợp có những ý kiến khác nhau giữa Kiểm sát viên của đơn vị thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra với Kiểm sát viên được biệt phái hoặc được cử
giải quyết vụ án thì lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị xem xét quyết định.
Điều 7. Phối hợp trong giai đoạn
truy tố
1. Kiểm sát viên của đơn vị thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra chịu trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ; báo cáo đề xuất việc truy
tố; đề xuất việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế; báo cáo lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị hoàn thiện Cáo trạng; hoàn thiện hồ
sơ vụ án.
Kiểm sát viên được biệt phái hoặc được cử phối hợp
với Kiểm sát viên của đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra nghiên
cứu hồ sơ, tham gia phúc cung bị can, lấy lời khai, góp ý vào dự thảo Cáo trạng,
hoàn thiện hồ sơ và các thủ tục tố tụng của vụ án theo sự phân công của lãnh đạo
Viện, lãnh đạo đơn vị.
2. Ngay sau khi ban hành quyết định truy tố, Viện
kiểm sát nhân dân cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát nhân dân cấp
dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Căn cứ tính chất, yêu cầu giải quyết từng vụ án cụ
thể, xét thấy cần biệt phái Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên
đã thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và truy tố đến Viện kiểm sát nhân
dân cấp dưới để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm thì đơn vị thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra phối hợp với đơn vị Tổ chức cán bộ tham
mưu với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên để quyết định việc biệt
phái.
Đối với Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp
dưới đã được biệt phái đến Viện kiểm sát nhân dân cấp trên thì sau khi có quyết
định phân công cho Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử sơ thẩm, đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra phối hợp
với đơn vị Tổ chức cán bộ tham mưu với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
mình quyết định biệt phái Kiểm sát viên đó về công tác tại Viện kiểm sát nhân
dân cấp dưới.
Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm ra quyết định phân công Kiểm sát
viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp mình đã được biệt phái hoặc được cử và Kiểm
sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên đã được biệt phái làm nhiệm vụ thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm.
3. Lãnh đạo đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra trao đổi với lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới về việc giải
quyết vụ án để bảo đảm sự thống nhất giữa hai đơn vị. Trường hợp có ý kiến khác
nhau giữa lãnh đạo hai đơn vị thì báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp
trên xem xét quyết định.
Điều 8. Phối hợp trước khi mở
phiên tòa sơ thẩm
1. Sau khi được phân công thực hành quyền công tố,
kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án, Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới phải thực hiện đầy
đủ nhiệm vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật và quy chế nghiệp vụ của
ngành Kiểm sát nhân dân.
2. Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới
chịu trách nhiệm xây dựng đề cương xét hỏi; dự thảo luận tội, đề cương tranh luận,
dự kiến các tình huống phát sinh tại phiên tòa và đề xuất quan điểm giải quyết
vụ án. Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được biệt phái phối hợp
với Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới hoàn thiện các tài liệu
nêu trên và có trách nhiệm báo cáo lãnh đạo Viện, lãnh đạo đơn vị về tài liệu
đã được các Kiểm sát viên thống nhất để xin ý kiến chỉ đạo.
3. Trường hợp giữa Kiểm sát viên được biệt phái và
Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới có quan điểm khác nhau thì cùng
báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới và lãnh đạo đơn vị thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra để xin ý kiến chỉ đạo giải quyết kịp thời. Trường
hợp giữa lãnh đạo hai đơn vị không thống nhất được quan điểm giải quyết thì báo
cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp trên chỉ đạo giải quyết.
Trường hợp lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới
thấy có vướng mắc; phát hiện có căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung; đình chỉ
vụ án, đình chỉ bị can; tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ bị can hoặc truy tố bị
can về tội danh khác thì phải trao đổi, thống nhất với lãnh đạo đơn vị thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để giải quyết; trường hợp giữa lãnh đạo
hai đơn vị không thống nhất được quan điểm giải quyết thì báo cáo lãnh đạo Viện
kiểm sát nhân dân cấp trên xem xét, quyết định.
4. Kiểm sát viên được biệt phái và Kiểm sát viên của
Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới có trách nhiệm phối hợp với Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa để giải quyết các khó khăn, vướng mắc, yêu cầu (nếu có); kiểm sát chặt
chẽ thời hạn chuẩn bị xét xử, thời gian mở phiên tòa; thực hiện giao, gửi các
quyết định của Tòa án.
Điều 9. Phối hợp tại phiên tòa
sơ thẩm và sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm
1. Trường hợp Kiểm sát viên được biệt phái và Kiểm
sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới cùng tham gia thực hành quyền công
tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm thì lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới quyết
định phân công cụ thể trách nhiệm của mỗi Kiểm sát viên tại phiên tòa chủ yếu
theo hướng sau:
a) Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới
chịu trách nhiệm kiểm sát thủ tục tố tụng tại phiên tòa; tham gia xét hỏi; thực
hiện việc tranh luận;
b) Kiểm sát viên được biệt phái chịu trách nhiệm
công bố Cáo trạng; tham gia xét hỏi, tranh luận;
c) Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới
và Kiểm sát viên được biệt phải có trách nhiệm phối hợp theo sự phân công để bảo
đảm các hoạt động xét hỏi, tranh luận được đầy đủ, toàn diện, làm rõ nội dung
Cáo trạng và luận tội;
d) Tại phiên tòa, nếu có những chứng cứ, tài liệu,
đồ vật mới có thể làm thay đổi quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp
trên thì Kiểm sát viên được biệt phái và Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân
dân cấp dưới có trách nhiệm báo cáo lãnh đạo hai đơn vị để thống nhất báo cáo
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên xem xét, quyết định;
đ) Quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát xét
xử sơ thẩm tại phiên tòa, nếu phát sinh vấn đề vướng mắc, Kiểm sát viên được biệt
phái chủ động phối hợp, trao đổi với Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp
dưới để thống nhất giải quyết kịp thời. Trường hợp cần thiết thì báo cáo lãnh đạo
hai đơn vị để thống nhất cho ý kiến chỉ đạo giải quyết.
2. Trường hợp chỉ có Kiểm sát viên của Viện kiểm
sát nhân dân cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm tại phiên
tòa thì Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới có trách nhiệm:
a) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của
pháp luật và quy chế nghiệp vụ của ngành Kiểm sát nhân dân;
b) Tại phiên tòa, nếu có những chứng cứ, tài liệu,
đồ vật mới có thể làm thay đổi quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp
trên thì Kiểm sát viên đề nghị hoãn phiên tòa, báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát
nhân dân cấp mình để thống nhất với lãnh đạo đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên xem xét, quyết
định.
3. Sau khi kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm, Kiểm
sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới phải báo cáo kết quả xét xử, đề xuất
việc kháng nghị, kiến nghị (nếu có) đến lãnh đạo cấp mình để báo cáo lãnh đạo
đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và lãnh đạo Viện kiểm sát
nhân dân cấp trên cho ý kiến chỉ đạo. Trường hợp được biệt phái, Kiểm sát viên
của đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra phải báo cáo kết quả xét
xử đến lãnh đạo đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và lãnh đạo
Viện kiểm sát nhân dân cấp trên.
Điều 10. Phối hợp trong trường
hợp Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1. Đối với vụ án Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều
tra bổ sung, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới được phân công
thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm phải phối hợp với Kiểm sát
viên của đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để kiểm tra, đánh
giá căn cứ, nội dung của quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Tòa án và xử
lý như sau:
a) Nếu việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa
án có căn cứ thì báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới và lãnh đạo
đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để phối hợp thực hiện các hoạt
động tố tụng theo quy định của pháp luật. Trường hợp Viện kiểm sát không thể tự
bổ sung được yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án thì Viện kiểm sát nhân dân cấp
dưới chuyển hồ sơ cho đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để trả
hồ sơ cho Cơ quan điều tra thực hiện điều tra bổ sung theo quy định của pháp luật;
b) Nếu việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa
án không có căn cứ thì báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới và lãnh
đạo đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để thống nhất giữ nguyên
quan điểm truy tố và chuyền lại hồ sơ cho Tòa án để xét xử;
2. Trong quá trình Cơ quan điều tra tiến hành điều
tra bổ sung, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới được phân công
tiếp tục phối hợp với Kiểm sát viên của đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 6 Quy chế
này.
3. Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dấn cấp dưới
phải kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế của Tòa án. Trường hợp Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà
đã hết thời hạn tạm giam và cần thiết phải tiếp tục tạm giam bị can thì Kiểm
sát viên Viện kiểm sát cấp dưới phối hợp chặt chẽ với Kiểm sát viên của đơn vị
thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để đề xuất với lãnh đạo Viện kiểm
sát nhân dân cấp dưới ra lệnh tạm giam bị can. Thời hạn tạm giam trong trường hợp
này được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Điều 11. Chính sách đối với Kiểm
sát viên
1. Thủ trưởng đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra chịu trách nhiệm đánh giá kết quả công tác của Kiểm sát viên thuộc
Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới trong thời gian Kiểm sát viên được biệt phái hoặc
được cử làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, truy tố tại Viện
kiểm sát nhân dân cấp trên.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu
trách nhiệm đánh giá kết quả công tác của Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên trong thời gian Kiểm sát viên được biệt phái làm nhiệm vụ thực hành
quyên công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm tại Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới phải ưu
tiên xem xét, đề nghị bổ nhiệm đối với các Kiểm sát viên được biệt phái hoặc được
cử đi làm nhiệm vụ thể hiện được năng lực và đạt kết quả công tác tốt.
2. Chế độ ăn, nghỉ, đi lại của Kiểm sát viên trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm
sát xét xử vụ án theo Quy chế này được thực hiện theo quy định của pháp luật và
quy định của ngành Kiểm sát nhân dân.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới, Thủ
trưởng đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra kịp thời đề xuất với cấp
có thẩm quyền khen thưởng đối với Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp
dưới và Kiểm sát viên của đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra có
thành tích trong giải quyết các vụ án cụ thể; trường hợp Kiểm sát viên vi phạm
phải bị xử lý theo quy định của pháp luật và quy định của ngành Kiểm sát nhân
dân.
Điều 12. Hiệu lực thi hành,
trách nhiệm thực hiện
1. Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày, các
quy định liên quan trước đây trái với Quy chế này đều bị bãi bỏ.
2. Thủ trưởng đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, các đơn vị và cá nhân quy định tại Điều 2 chịu
trách nhiệm thực hiện Quy chế này.
3. Trong quá trình thực hiện, nếu có những vấn đề
vướng mắc hoặc trường hợp cần thiết thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
quyết định việc sửa đổi, bổ sung Quy chế này./.