|
HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
45/NQ-HĐND
|
Đồng
Tháp, ngày 23 tháng 6 năm 2025
|
NGHỊ QUYẾT
THÔNG QUA
PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN THỦY SẢN TRONG QUY HOẠCH TỈNH ĐỒNG THÁP THỜI KỲ 2021-2030,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
KHÓA X - KỲ HỌP THỨ MƯỜI
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng
6 năm 2025;
Căn cứ Luật Thủy sản ngày 21 tháng
11 năm 2017;
Căn cứ Luật Quy hoạch ngày 24 tháng 11 năm 2017;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có
liên quan đến quy hoạch ngày 20 tháng 11 năm 2018;
Căn cứ Nghị quyết số 11/NQ-CP
ngày 05 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ về triển khai thi hành Luật Quy hoạch;
Căn cứ Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019
của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quy hoạch;
Căn cứ Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11 tháng 3 năm 2021 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Căn cứ Quyết định số 39/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2024
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ
2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Xét Tờ trình số 270/TTr-UBND ngày 28 tháng 4 năm
2025 của Ủy ban nhân
dân Tỉnh về việc thông qua Phương án phát triển thuỷ sản trong quy hoạch
tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Báo cáo thẩm tra của
Ban Kinh
tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân Tỉnh; ý kiến thảo luận của đại biểu Hội
đồng nhân dân tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Thống
nhất thông qua Phương án phát triển thủy sản trong Quy hoạch tỉnh
Đồng Tháp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, với những nội dung
chủ yếu như sau:
1. Quan điểm
a) Khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa
phương, phát triển ngành thuỷ sản (bao gồm các lĩnh vực: Bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thủy sản, khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, chế biến và thương
mại thủy sản, cơ sở dịch vụ hậu cần,...) phân vùng sản xuất đối tượng chủ lực
theo hướng bền vững, hiệu quả, trên cơ sở lấy kinh tế thủy sản làm trọng tâm
và liên kết
vùng
để thúc đẩy khả năng kết nối và lan tỏa, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người
nông dân; bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo tồn đa dạng
sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, bảo vệ môi trường sinh
thái và an toàn dịch bệnh, đáp ứng yêu cầu chất lượng, an toàn thực phẩm cho
tiêu dùng trong nước, tăng cường xuất khẩu. Phát triển thuỷ sản gắn với nâng
cao đời sống vật chất tinh thần của người dân.
b) Phát huy hiệu quả nguồn lực từ các
thành phần kinh tế đầu tư phát triển thuỷ sản hiệu quả với lực lượng doanh nghiệp
là nòng cốt. Tập trung đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng đồng bộ;
đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực; tăng cường
chuyển giao và ứng dụng công nghệ, ưu tiên ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số;
nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tổ chức lại sản xuất theo kinh tế thị trường.
2. Mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2030
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản bình quân của tỉnh giai đoạn 2026
- 2030 đạt 5,37%/năm. Trong đó, giá trị sản
xuất ngành nuôi trồng thuỷ sản đạt 5,53%/năm (2026 -2030).
3. Mục tiêu định hướng đến năm 2050
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành
thuỷ sản theo định hướng thị trường, thân thiện môi trường, phát huy khả
năng liên kết vùng, bảo
vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo tồn đa dạng sinh học; thích ứng
với biến đổi khí hậu; bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn sinh học, đáp ứng yêu
cầu thị trường trong nước và xuất khẩu; hướng đến nền kinh tế số, kinh tế tuần
hoàn, kinh tế xanh.
4. Giải pháp
Tập trung triển khai thực hiện 8 nhóm giải pháp chính sau:
a) Giải pháp quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thủy sản.
b) Giải pháp chính sách.
c) Giải pháp tổ
chức sản xuất và thị trường tiêu thụ.
d) Giải pháp khoa
học - công nghệ.
đ) Giải pháp ứng
phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và phòng chống dịch bệnh.
e)
Giải pháp hạ tầng kỹ thuật phục vụ vùng nuôi tập trung.
g)
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành thủy sản.
h) Giải pháp về vốn.
(Kèm theo Phương án phát triển thủy sản)
Điều 2. Giao
Ủy ban nhân dân Tỉnh
1. Triển khai thực hiện đảm bảo đúng theo quy định
và phù hợp với Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 39/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2024.
2. Điều chỉnh tên, địa danh các địa
phương, tên gọi của các cơ quan, đơn vị cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ sau
khi sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính của tỉnh Đồng Tháp, báo cáo
Hội đồng nhân dân Tỉnh tại kỳ họp gần nhất.
Điều 3. Thường
trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng
nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân Tỉnh giám sát việc thực hiện Nghị quyết
này.
Nghị
quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp Khóa X, Kỳ họp thứ mười thông qua ngày
23
tháng
6 năm 2025 và có hiệu lực
từ ngày thông qua./.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chính phủ;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
- TT.TU, UBND, UBMTTQVN Tỉnh;
- Đoàn ĐBQH Tỉnh;
- Đại biểu HĐND Tỉnh;
- Các sở, ban, ngành, tổ chức CT-XH Tỉnh;
- HĐND, UBND các huyện, thành phố;
- HĐND, UBND cấp xã;
- Cổng Thông tin điện tử Tỉnh;
- Lưu: VT, Phòng Công tác HĐND.
|
CHỦ
TỊCH
Phan Văn Thắng
|
PHƯƠNG ÁN
PHÁT TRIỂN THUỶ SẢN TRONG QUY HOẠCH TỈNH ĐỒNG
THÁP THỜI KỲ 2021-2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
(Kèm theo Nghị quyết số 45/NQ-HĐND ngày 23/6/2025 của HĐND Tỉnh)
MỞ ĐẦU
1.
Sự cần thiết đề án
Đồng Tháp là một trong những tỉnh dẫn đầu về sản
xuất nông nghiệp của khu vực ĐBSCL, là tỉnh trọng điểm về sản xuất
nông nghiệp của cả nước. Kinh tế nông nghiệp phát triển theo chiều
sâu, sản xuất nông nghiệp có nhiều chuyển biến mạnh mẽ theo định
hướng đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp” với nội dung “Hợp tác -
Liên kết - Thị trường” và “Giảm chi phí - Tăng chất lượng - Chế biến
tinh” gắn với Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Nhờ đó, đời sống người dân khu vực nông thôn ngày càng được cải
thiện, nhiều mô hình sản xuất tiên tiến được hình thành, nhân rộng tạo
chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của người nông dân, chuyển đổi
tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang làm “kinh tế nông nghiệp”. Tỷ
trọng khu vực Nông - Lâm - Thuỷ sản trong tổng GRDP của tỉnh đang có xu
hướng giảm (từ 39,88% năm 2015 xuống còn, còn 36,16% vào năm 2020). Tăng
trưởng GRDP của ngành nông nghiệp năm 2020 đạt 2,47%.
Với vị trí địa lý
thuận lợi, có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm cao,
lượng mưa phong phú, mạng lưới sông ngòi đan xen kết nối với nguồn nước từ 2 hệ
thống sông lớn là sông Tiền và sông Hậu mang đến một lợi thế lớn cho phát triển
nông nghiệp nói chung và thủy sản ngọt nói riêng của tỉnh. Năm 2020, tổng
diện tích đất sản xuất nông nghiệp 277.049 ha, trong đó diện tích nuôi
trồng thủy sản đạt 10.761 ha.
Những năm qua ngành
thủy sản của tỉnh đã có những bước phát triển nhanh, thu được những kết quả
tương đối khả quan. Sản lượng NTTS tăng liên tục từ 474.909 tấn năm 2016 lên
565.837 tấn năm 2020. Ngành chế biến thủy sản của tỉnh cũng đạt được nhiều bước
tiến quan trọng. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 623 triệu USD năm 2016 lên 923,1 triệu USD năm
2019, năm 2020 thì có xu hướng giảm do ảnh hưởng từ dịch covid, nhưng nhìn
chung thuỷ sản Đồng Tháp vẫn đang tăng trưởng.
Tuy nhiên Thời gian
qua, các sản phẩm thuỷ sản nói chung và cá tra xuất khẩu nói riêng đã và đang
bị rất nhiều rào cản từ các thị trường nhập khẩu. Giá trị xuất khẩu các sản
phẩm chế biến thủy sản tuy cao, nhưng lại kém đa dạng các mặt hàng. Bên cạnh
đó, giá bán các sản phẩm đầu vào như thức ăn, con giống, thuốc thú y,... luôn
biến động, và có xu hướng ngày càng tăng; những nguyên nhân trên đã và đang
mang đến cho ngành Thủy sản VN nói chung và ĐT nói riêng rất nhiều khó khăn
thách thức.
Quy hoạch ngành nông
nghiệp trước đây của tỉnh được tỉnh xây dựng từ năm 2009, sau hơn 10 năm thực
hiện (2009-2020), nhiều chỉ tiêu quan trọng của quy hoạch đã không phù hợp,
trong đó có thuỷ sản, tình hình phát triển ngành Nông nghiệp - thủy sản Đồng
Tháp đến nay có rất nhiều thay đổi.
Xuất phát từ những
đòi hỏi khách quan và thực tế sản xuất việc “Lập Phương án phát triển thủy sản
trong quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh
Đồng Tháp” thuộc Dự án “Lập Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050” là một việc làm cần thiết và cấp bách, nhằm xây dựng được
các phương án bố trí sản xuất, các giải pháp phát triển hợp lý dựa trên cơ sở
khoa học, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và chủ trương của tỉnh để khai
thác hiệu quả nguồn tài nguyên mặt nước và định hướng ngành thủy sản của tỉnh
phát triển hiệu quả, bền vững.
Những căn cứ pháp lý
- Căn cứ Luật Thủy
sản ngày 21 tháng 11 năm 2017;- Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37
Luật có liên quan đến quy hoạch ngày 20 tháng 11 năm 2018;
- Nghị định số
98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát
triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;
- Quyết định số
339/QĐ-TTg ngày 11/03/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát
triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Quyết định số
287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số
326/QĐ-TTg ngày 09/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phân bổ chỉ tiêu Quy hoạch sử
dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;- Quyết định số
1651/QĐ-UBND-HC 28/12/2018 của UBND Tỉnh về việc Phê duyệt dự án “Rà soát, điều
chỉnh quy hoạch nông nghiệp, phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020,
định hướng đến năm 2030;
- Thông tư số 19/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn về bảo vệ và phát triển NLTS.
2. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác,
doanh nghiệp nuôi trồng, khai thác, chế biến, dịch vụ và tiêu thụ thủy sản
trong chuỗi giá trị ngành hàng thủy sản trên địa bàn tỉnh.
- Về không gian: Quy hoạch triển khai trên phạm vi cấp tỉnh, phân
đến các huyện, thị xã, thành phố đối với một số chỉ tiêu chính.
- Về thời gian thực hiện nghiên cứu: 12 tháng
3. Mục tiêu của đề án
Khai thác tốt
các lợi thế tiềm năng trong sản xuất thủy sản, hướng tới mục tiêu phát triển
ngành thủy sản của tỉnh theo hướng hiệu quả và bền vững. Sản xuất theo chiều
sâu, khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có, nhằm nâng cao giá trị gia tăng
trên từng đơn vị sản phẩm góp phần đạt được mục tiêu tăng trưởng của ngành thủy
sản trong thời gian tới.
4.2.
Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tác
động của điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, môi trường đến phát triển thủy sản
tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2016 – 2020.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển thủy sản tỉnh Đồng Tháp
giai đoạn 2016 – 2020.
- Đánh giá điển cứu hiện trạng chuỗi giá trị cá tra của tỉnh Đồng Tháp.
- Các phương án phát triển thủy sản tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2021 -
2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Đề án sử dụng cách tiếp cận theo không gian
và theo thời gian, theo cả hai trình tự tiếp cận từ trên xuống và tiếp cận từ
dưới lên.
Các cách tiếp cận
trong xây dựng đề án: Sử dụng
phương pháp tiếp cận tổng hợp để thu thập các thông tin, số liệu có liên quan
phục vụ cho công tác nghiên cứu; phân loại các nguồn thông tin, các loại tài
liệu, số liệu cần thu thập và kế thừa các báo cáo nghiên cứu, các tài liệu một
cách khoa học và hiệu quả; sử dụng phương pháp tiếp cận có hệ thống và liên
vùng để đánh giá, tổng hợp phân tích các vấn đề từ cấp quốc gia đến cấp vùng và
cấp tỉnh, theo góc độ đa ngành.
5.1.1. Tiếp
cận hệ thống (đa ngành, liên ngành)
Các nội dung nghiên cứu được xem xét trong một hệ thống
trong phạm vi của toàn tỉnh Đồng Tháp; từ mức độ lan tỏa của tỉnh trong vùng
trên cơ sở tổng hợp phân tích các vấn đề từ cấp quốc gia đến cấp vùng và cấp
tỉnh, theo góc độ đa ngành. Bên cạnh đó, các tác động bên ngoài từ các hoạt
động phát triển kinh tế xã hội, thị trường trong nước và quốc tế cũng được xem
xét.
Tiếp cận hệ thống đảm
bảo tính toàn diện khi xem xét các vấn đề liên quan đến biến đổi môi trường tự
nhiên – xã hội. Tiếp cận hệ thống bao gồm việc nghiên cứu, đánh giá
sự biến động các yếu tố tự nhiên, xã hội trong quá khứ, hiện tại
và tương lai. Cách tiếp cận hệ thống được thực hiện trên cơ sở các
quan sát, đánh giá, xây dựng phương án với các minh chứng cụ thể làm
cơ cở cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp.
5.1.2. Tiếp cận theo thời gian
Diễn biến tác động các yếu tố chính môi trường nước trong nuôi
tôm, giá cả thị trường, CSHT, chính sách, chiến lược phát triển được phân tích
xuyên suốt theo thời gian từ quá khứ, hiện tại đến dự báo trong tương lai.
5.1.3. Tiếp cận
không gian
Bằng phương pháp phân
tích không gian sẽ xác định các khu vực nuôi chuyên canh gồm các vùng nuôi tôm
bán thâm canh, thâm canh và nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao. Bản đồ quy hoạch
là cơ sở chọn mẫu cho bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Ngoài ra các mẫu phân tích môi
trường nước trong các vùng nuôi cũng được nhóm tác giả thể hiện trên bản đồ. Dữ
liệu điều tra, khảo sát, quan trắc ngoài thực địa và từ ảnh viễn thám sẽ giúp
nhận định những biến động theo không gian trong vùng nghiên cứu.
5.1.4. Tiếp cận
cộng đồng
- Thông qua cộng đồng để thu nhận các thông tin định tính, định lượng
về quy mô nuôi, những khó khăn, thuận lợi cũng như những kinh nghiệm và cơ sở
phát triển, định hướng trong tương lai cho ngành thủy sản tỉnh Đồng Tháp.
- Quá trình tìm kiếm các giải pháp phát triển ngành thủy sản
Đồng Tháp cần hướng đến và đảm bảo các mục tiêu liên kết về mặt
lãnh thổ, liên kết chuyên ngành và dựa trên sự tham gia của cộng
đồng. Trong đó cộng đồng được tham gia trong các khâu xuyên suốt toàn bộ
chuỗi giá trị sản phẩm từ giống đến nuôi đến chế biến và tiêu thụ.
- Kiến thức và kinh nghiệm cộng đồng bản địa sẽ rất quý giá để xác định
các giải pháp phát triển hợp lý.
- Tiếp cận theo nguyên lý phát triển bền vững: Các giải pháp giúp ngành
thủy sản tỉnh Đồng Tháp được đề xuất dựa trên nguyên tắc hài hòa theo các tiêu
chí về kinh tế-xã hội, môi trường (sinh thái) và chính sách, thể chế hiện hành,
đảm bảo sự phát triển ổn định và lâu dài cho vùng nghiên cứu.
5.2
Phương pháp nghiên cứu
5.2.1
Phương pháp kế thừa
Kế thừa kết quả
nghiên cứu của các đề tài, dự án có liên quan để đánh giá thực trạng và các yếu
tố tác động đến ngành thủy sản tỉnh Đồng Tháp theo “chuỗi giá trị cá tra“, từ
đó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu cũng như nguyên nhân hạn chế, tồn tại.
Phương pháp điều tra
thực tế, sử dụng bộ câu hỏi điều tra kỹ thuật chuyên ngành và kinh tế-xã hội tiềm năng phát triển các vùng sản xuất giống và nuôi cá lồng bè tập
trung và CNC trên địa bàn tỉnh; tiến hành điều tra, khảo sát thực địa thu thập các số liệu hoạt
động nuôi, sản xuất giống, chế biến thức ăn phục vụ nuôi trồng và chế biến thuỷ
sản, xuất khẩu thuỷ sản; kết hợp thu thập, kế thừa và xử lý các tài liệu đã
công bố hoặc lưu trữ ở các cơ quan liên quan; kế thừa, tiếp thu các tài liệu
liên quan đến phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ
thuỷ sản; tổ chức các cuộc họp tham vấn và thu thập số liệu từ các ngành
và các bên liên quan; phối hợp với cán bộ tại địa phương cùng tham gia vào
một số lĩnh vực khảo sát của nhóm tư vấn.
- Tổng số lượng quan sát được tiến hành điều tra, phỏng vấn theo bảng
hỏi soạn sẵn gồm có:
+ 40 hộ nuôi theo
các mô hình thủy sản: 30 hộ nuôi cá, 10 hộ nuôi: thủy sản khác, ếch, lươn… phân
bố ở các huyện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
+ 01 doanh nghiệp
nuôi thủy sản lồng bè trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
v Phương
pháp phân tích thống kê, mô tả: Sử dụng phần mềm SPSS/excel
để tính toán và mô tả các chỉ tiêu về quy mô, cơ cấu, tốc độ tăng trưởng của
các lĩnh vực trong chuỗi giá trị.
v
Phương pháp dự báo: Được sử dụng để
dự báo các yếu tố liên quan đến đề án như: Dự báo thị trường, khoa học và công
nghệ (KH&CN), biến đổi khí hậu (BĐKH), môi trường.
v Phương
pháp phân tích SWOT: Phương pháp phân tích SWOT mở rộng sử dụng nhằm hiểu rõ Điểm mạnh (Strengths - S), Điểm
yếu (Weaknesses - W), Cơ hội (Opportunities - O) và Nguy cơ (Threats - T) đối
với từng lĩnh vực thủy sản, từ đó đưa ra chiến lược và giải pháp phù
hợp để đạt mục tiêu đề ra, trong đó:
● Chiến
lược SO: theo đuổi những cơ hội phù hợp với điểm mạnh.
● Chiến
lược WO: vượt qua điểm yếu để tận dụng tốt cơ hội.
● Chiến
lược ST: xác định cách sử dụng lợi thế, điểm mạnh để giảm thiểu rủi ro do môi
trường bên ngoài gây ra.
● Chiến
lược WT: thiết lập kế hoạch “phòng thủ” để tránh cho những điểm yếu bị tác động
nặng nề hơn từ môi trường bên ngoài.
v
Phương pháp hội thảo, chuyên gia:
Được áp dụng nhằm tận dụng được trí tuệ của các chuyên gia trong và ngoài
ngành, các nhà quản lý, người sản xuất cũng như những đối tượng liên quan đến
đề án; Họp tham vấn các cấp địa phương để lấy ý kiến về định hướng lập quy
hoạch tỉnh.
v
Phương pháp quy hoạch không gian: Ứng dụng công nghệ GIS – Viễn thám, sử dụng các phần mềm chuyên dụng
(ENVI, ArcGIS, MicroStation, MapInfo) xác định hiện trạng và các lựa chọn bố trí các phân khu chức năng về: Sản xuất
giống, nuôi, khai thác, các khu vực chế biến và dịch vụ hậu cần cho ngành thuỷ
sản;
v Phương
pháp phân tích Chi phí – lợi ích: Được áp dụng để tính
toán hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản và hiệu quả kinh tế của đề
án.
v Phương pháp nghiên cứu điển hình (điển cứu): Được áp dụng nhằm nghiên cứu một chuỗi giá trị đã chọn trong một giai
đoạn cụ thể. Kết quả nghiên cứu điển cứu cho phép nhà nghiên cứu đưa ra lời
giải thích tại sao các hoạt động từ khâu sản xuất tới tiêu dùng trong đó có cả
sự liên kết, quản trị và dịch vụ thuận lợi hay khó khăn ở khâu nào, và thông
qua đó xác định các vấn đề quan trọng cần được giải quyết hay tiếp tục nghiên
cứu rộng rãi hơn trong tương lai.
- Sử dụng các phần mềm Excel, SPSS để xử lý phân tích, đánh giá thông
tin, quản lý số liệu.
- Xác định các vị trí, vùng nghiên cứu bằng máy định vị GPS.
- Ứng dụng công nghệ GIS, sử dụng phần mềm chuyên dụng Mapinfo để xây
dựng bản đồ, bố trí rõ ràng, thể hiện sinh động về mặt không gian.
- Sử dụng các phần mềm Office word 2010 để tiến hành xây dựng báo cáo
đề án.
Chương I:
ĐÁNH GIÁ CHUNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
I.1.
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên tác động đến thủy sản của tỉnh Đồng Tháp
I.1.1. Vị trí địa lý
Đồng Tháp là một trong 13 tỉnh
thuộc vùng ĐBSCL, nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu. Với các vị trí tiếp
giáp như sau: Phía Bắc và Tây Bắc tiếp giáp Vương quốc Campuchia; phía Nam
giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Đông giáp tỉnh Long An và Tiền Giang, phía Tây và Tây
Nam giáp tỉnh An Giang và TP. Cần Thơ.
Tỉnh có đường biên giới quốc gia
giáp Campuchia khoảng 50 km từ Hồng Ngự đến Tân Hồng, với 4 cửa khẩu
là Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước. Hệ thống đường Quốc lộ
30, 80, 54 cùng với Quốc lộ N1, N2 gắn kết Đồng Tháp với thành phố Hồ
Chí Minh và các tỉnh trong khu vực.
Tỉnh có 12 đơn vị hành chính trực
thuộc gồm: TP. Cao Lãnh; TP. Sa Đéc, TP. Hồng Ngự và 9 huyện:
Hồng Ngự, Tân Hồng, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lai Vung, Lấp
Vò, Châu Thành.
Tỉnh Đồng Tháp có vị trí địa lý
kinh tế thuận lợi về đối nội lẫn đối ngoại và bảo vệ an ninh quốc phòng quốc
gia. Về đối nội, phía Tây Nam tỉnh Đồng Tháp giáp với TP. Cần Thơ là trung tâm
kinh tế - văn hóa - giáo dục của vùng ĐBSCL, phía Đông giáp với tỉnh Long An là
cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – TP. Hồ Chí Minh (trung tâm kinh
tế - khoa học công nghệ - thương mại dịch vụ - văn hóa lớn của cả nước) và các
tỉnh Đông Nam Bộ, thuận lợi cho tỉnh Đồng Tháp giao thông đến các tỉnh thành
của vùng ĐBSCL và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tạo điều kiện giao lưu, thương
mại dịch vụ, phát triển kinh tế tỉnh nhà. Về đối ngoại, tỉnh có đường biên giới
với Vương quốc Campuchia dài 48,7 km, nắm giữ vị trí an ninh quốc phòng quốc
gia và phát triển kinh tế đối ngoại với các nước Đông Nam Á. Tỉnh nằm trên lưu
vực sông Mekong chảy qua, hưởng chung tài nguyên nguồn lợi từ con sông này với
các nước khác, thu hút nhiều chương trình, hoạt động khoa học của Ủy ban sông
Mekong và các tổ chức quốc tế tài trợ.
I.1.2.
Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng
Địa hình của tỉnh được chia thành 2
vùng chính:
- Vùng phía Bắc sông Tiền: có diện
tích 258.480,54 ha thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình tương đối bằng phẳng,
có hướng dốc Tây Bắc - Đông Nam, cao ở vùng biên giới và vùng ven sông Tiền,
thấp dần về phía trung tâm Đồng Tháp Mười, tạo thành vùng lòng máng trũng rộng
lớn có dạng đồng lụt kín, do phù sa sông biển bồi đắp đã tạo thành vùng đất
phèn rộng lớn. Toàn vùng có cao độ phổ biến từ 1,0 - 2,0 m; cao nhất > 4,0
m; thấp nhất 0,7 m. Riêng địa bàn Hồng Ngự, Tân Hồng cao độ phổ biến từ 2,5 -
4,0 m; nơi thấp nhất là khu vực Mỹ An với cao độ 0,7 - 0,9 m.
- Vùng phía Nam sông Tiền: có diện
tích 78.926,95 ha nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, địa hình có dạng lòng
máng, hướng dốc từ hai bên sông vào, cao độ phổ biến từ 0,8 - 1,0 m; cao nhất
là 1,5 m; thấp nhất là 0,5 m. Đặc điểm của vùng này là quanh năm có nước ngọt,
hệ thống sông rạch tự nhiên phong phú, tiềm năng tưới tiêu tự chảy khá lớn.
Trên địa bàn tỉnh có nhiều cồn với diện tích 27.000 ha nhưng diện tích này
không ổn định do bồi mới và sạt lở. Nói chung đặc điểm địa hình của tỉnh Đồng Tháp tương đối
đồng nhất mang đặc điểm chung của tỉnh đồng bằng thuộc khu vực ĐBSCL, rất thuận
lợi cho phát triển nông nghiệp trong đó có thuỷ sản. Tuy nhiên do đặc điểm địa
hình nên một số khu vực bị ngập lụt vào mùa mưa và mùa lũ gây khó khăn cho sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân.
I.1.3.
Đặc điểm khí hậu, thủy văn
a) Đặc điểm khí hậu
Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối
cao và bức xạ dồi dào. Trong năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ: Nền nhiệt độ tương đối
cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng 27,0°C, tổng tích ôn lớn trên 9.900°C/năm,
có năm trên 10.000°C/năm. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm
chênh lệch không lớn (2 – 4,5°C), nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 4, tháng 5
trong năm và thấp nhất thường vào tháng 12, tháng 1 năm sau.
- Giờ nắng: tổng số giờ nắng bình
quân trong năm đạt từ 2.300 đến 2.600 giờ. Trong năm, từ tháng 2 đến tháng 4 có
số giờ nắng cao nhất, trung bình từ 7 - 9 giờ nắng/ngày; các tháng mùa mưa có
số giờ nắng thấp, trung bình khoảng 4 - 6 giờ nắng/ngày.
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình
năm khoảng 82-85% (cao nhất vào mùa mưa 83-89%, thấp nhất vào mùa khô 75-80%).
- Lượng mưa: tổng lượng mưa qua
nhiều năm trung bình dao động từ 1.300 đến trên 2.000 mm/năm. Phân bố theo mùa
rõ rệt, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, chiếm trên
90% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa thay đổi theo vùng, có xu hướng giảm dần
từ Tây Nam sang Đông Bắc.
- Gió: chịu ảnh hưởng của gió mùa
nhiệt đới, trong năm có hai mùa gió chính:
+ Gió mùa Tây Nam: thổi từ tháng 5
đến tháng 11, thành phần hướng gió chính là hướng Tây thổi từ vịnh Thái Lan vào
mang nhiều hơi nước gây mưa.
+ Gió mùa Đông Bắc: thổi từ tháng
12 đến tháng 4 năm sau, thành phần hướng gió chính là hướng Đông, hanh khô với
tốc độ gió trung bình năm 1,0 – 1,5 m/s, trung bình lớn nhất 17 m/s.
b) Chế độ thủy văn
Hệ thống sông ngòi tỉnh Đồng Tháp
bao gồm 2 nhánh sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh là sông Tiền dài 130km và sông
Hậu dài 33km cùng với các con sông lớn khác như sông Sở Thượng, sông Sở Hạ.
Ngoài ra, tỉnh còn có hệ thống khoảng 1.000 kênh rạch lớn nhỏ với tổng chiều
dài dòng chảy là 6.273km. Mật độ sông trung bình: 1,86 km/km2.
* Chế độ thuỷ văn sông Tiền,
sông Hậu:
Chế độ thuỷ văn sông Tiền và sông
Hậu chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuỷ văn thượng nguồn sông Mekong
và chế độ thuỷ triều biển Đông, chia thành 2 mùa:
- Mùa kiệt: Từ tháng 1 – 4 hàng
năm. Bắt đầu từ tháng 1 nguồn nước đưa về sông Tiền giảm dần, thời kỳ kiệt nhất
hàng năm từ trung tuần tháng 4, 5, đây cũng là thời kỳ mà sự xâm nhập của thuỷ
triều biển Đông trên sông Tiền và sông Hậu mạnh nhất.
- Đầu tháng 6 tuy ở thượng nguồn đã
có mưa nhưng lưu lượng ở sông Tiền và sông Hậu vào cuối tháng 6 mới rõ nét. Lưu
lượng nhỏ nhất trên sông Tiền tại Mỹ Thuận từ 800 - 900m3/s, trên sông Hậu tại
Cần Thơ 700 - 800m3/s.
- Mùa lũ: Từ tháng 7 – 11 hàng năm.
Lũ trên sông Tiền, sông Hậu được hình thành do mưa ở thượng nguồn sông Mekong
và mưa khu vực gây ra. So với thượng nguồn, lũ ở đây thường chậm hơn 1 tháng và
kết thúc trễ hơn 1 tháng. Lưu lượng lớn nhất trên sông Tiền tại Mỹ Thuận khoảng
16.000 - 18.000m3/s, trên sông Hậu tại Cần Thơ 21.000m3/s. Lũ hiền hòa, mực
nước lũ tại Tân Châu khoảng 3,5 - 4,5m. Cường suất lũ nhỏ, thường 5 - 10cm/ngày
(tại các vị trí thuộc phía Bắc kênh Hồng Ngự).
* Chế độ thuỷ văn các kênh nội
đồng:
Do bị chia cắt bởi sông Tiền nên hệ
thống kênh rạch nội đồng tỉnh Đồng Tháp được chia thành 2 vùng với những đặc
điểm thuỷ văn khác nhau.
- Mùa kiệt:
+ Vùng nằm giữa sông Tiền - sông
Hậu: Trong suốt mùa kiệt, khu vực từ Vàm Cống và Sa Đéc trở lên, mực nước sông
Tiền luôn cao hơn sông Hậu nên có xu thế chuyển nước theo các kênh, rạch từ
sông Tiền sang sông Hậu (nhưng từ phía dưới kênh Lấp Vò trở xuống xu thế này
không rõ ràng và thường tạo nên các giáp nước). Dòng chảy từ sông Tiền và sông
Hậu theo các kênh rạch vào nội đồng khi triều lên, rút ra khi triều xuống.
+ Vùng Đồng Tháp Mười: Dòng chảy
mùa kiệt chịu ảnh hưởng trực tiếp dòng chảy sông Tiền, Vàm Cỏ Tây và một số yếu
tố thuỷ văn khác. Dưới tác động của thuỷ triều, khi triều lên dòng chảy theo
các kênh Tân Thành, Hồng Ngự, Đồng Tiến - Dương Văn Dương, Cần Lố vào trong nội
đồng tạo nên thế nước từ Cao Lãnh trở lên luôn cao hơn trong ruộng và sông Vàm
Cỏ Tây. Ngay cả tháng kiệt nhất (tháng 4) thế nước sông Tiền vẫn cao hơn sông
Vàm Cỏ Tây. Trong suốt mùa kiệt mực nước đỉnh triều giảm dần từ sông Tiền vào
trong kênh và đến sông Vàm Cỏ Tây.
- Mùa lũ:
+ Lũ được hình thành từ thượng
nguồn, mưa lớn ở thượng nguồn tạo thành dòng chảy và đổ xuống sông Mekong, chảy tràn vào ĐBSCL. Mặt khác, kết hợp với mưa tại chỗ lớn và liên tục gây nên lũ
lớn và thường xuyên ở Đồng Tháp nói riêng và ĐBSCL nói chung, mùa lũ thường bắt
đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 11. Đến tháng 8, khi mực nước Tân Châu đạt
3 - 3,5m, lưu lượng vào các kênh tăng nhanh và bắt đầu tràn bờ. Lúc này ngoài
lũ trên sông chính còn lũ tràn dọc theo tuyến biên giới Việt Nam
- Campuchia vào vùng Đồng Tháp Mười.
+ Độ sâu ngập và thời gian ngập: Độ
sâu ngập và thời gian ngập ở từng nơi có khác nhau, phía Bắc tỉnh (trên lộ đi
Tân Hồng) gồm khu Sở Hạ và Sở Thượng đến Tân Châu khi lũ về do bị chắn ngang
bởi tuyến lộ N1 nên thời gian ngập sớm hơn, thường từ tháng 8, độ sâu ngập
trong đồng ruộng nói chung trên 2,5m. Khoảng đầu hoặc cuối tháng 12 nước mới
rút, thời gian ngập kéo dài trên 4 tháng. Từ kênh Hồng Ngự trở xuống đến kênh
Nguyễn Văn Tiếp do có đê kênh Hồng Ngự, An Long, Nguyễn Văn Tiếp dòng chảy bị
cản lại và thời gian ngập chậm dần. Phía Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp, khu kẹp giữa
sông Tiền và sông Hậu do ảnh hưởng mạnh của triều nên thoát tốt hơn, độ ngập 1
- 2m, thời gian ngập dưới 3 tháng. Khu vực huyện Châu Thành có độ sâu ngập nhỏ
hơn, dưới 1,5m.
+ Thời gian nước rút: Trên sông
Tiền vào cuối tháng 10 lũ đã bắt đầu hạ thấp dần, đến cuối tháng 12 và đầu
tháng 1 xem như hết ảnh hưởng lũ. Trong nội đồng tùy ở từng nơi nhưng thông
thường từ cuối tháng 10, đầu tháng 11 lũ đứng lại và xuống dần. Do khối lượng
nước trong đồng ruộng quá nhiều và các cửa rút có khẩu độ nhỏ, mặt khác do ảnh
hưởng của thuỷ triều tạo nên lũ rút chậm.
I.1.4.
Các nguồn tài nguyên đất, nước
a) Tài nguyên đất
Đồng Tháp gồm có 04 loại đất chính
sau:
- Đất phù sa: Đất phù sa có diện tích 183.939,65 ha, chiếm
56,85% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đất hình thành từ trầm tích phù sa
sông, phân bố dọc theo sông rạch và các cù lao của sông Tiền, sông Hậu, hàng
năm được bồi đắp thêm phù sa mới.
- Đất phèn: Đất phèn có diện tích 92.380,87 ha chiếm 28,55%
tổng diện tích toàn tỉnh. Đây là nhóm đất khó khăn trong sử dụng cải tạo, bị
hạn chế bởi các độc chất phèn.
- Đất xám: Nhóm đất xám có diện tích 26.531,41 ha chiếm 8,20%
tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đất xám trong vùng hình thành trên mẫu chất
phù sa cổ (Pleistocene), phân bố chủ yếu ở biên giới Campuchia.
- Đất cát: Đất cát có diện tích 66,55 ha chiếm 0,02% tổng
diện tích tự nhiên toàn tỉnh và được phân bố ở huyện Tân Hồng. Đất hình thành
trên nền cát cũ (cát giồng), không chứa vật liệu sinh phèn và không bị nhiễm
mặn. Đất cát thường phân bố ở nơi địa hình cao, thoát nước.
b) Tài nguyên nước mặt
Đồng Tháp nằm ở đầu nguồn sông Cửu
Long, có nguồn nước mặt khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm
mặn. Tuy nhiên, vùng trũng sâu thuộc trung tâm Đồng Tháp Mười vào cuối mùa khô,
đầu mùa mưa, còn bị ảnh hưởng bởi nước phèn.
Sông Tiền có lưu lượng bình quân
11.500 m3/s, lớn nhất 41.504 m3/s, nhỏ nhất 2.000 m3/s.
Ngoài sông Tiền và sông Hậu, còn có
2 nhánh sông nhỏ ảnh hưởng đến nguồn nước mặt vùng phía Bắc tỉnh, đó là: sông
Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền và Hồng Ngự.
Tỉnh Đồng Tháp còn có hệ thống sông
rạch tự nhiên làm nhiệm vụ cấp thoát nước cho đồng ruộng ra sông Tiền và sông
Hậu, trong đó: phía Bắc tỉnh có rạch Ba Răng, Đốc Vàng Thượng, Đốc Vàng Hạ,
sông Cao Lãnh, Cần Lố...; phía Nam có sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng, sông Sa
Đéc, rạch Lấp Vò – Lai Vung.
I.1.5.
Đánh giá chất lượng môi trường nước phục vụ thuỷ sản tỉnh Đồng Tháp
Theo kết quả quan trắc môi
trường nước phục vụ NTTS trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2020 của
Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thuỷ Sản cho các đối tượng chủ yếu là cá tra, tôm
càng xanh, cá lóc, cá sặc rằn, ếch, cá giống, cá lồng bè (rô phi,
điêu hồng,...)… kết quả như sau:
* Đối với các chỉ tiêu thủy lý hóa
và dinh dưỡng:
- Năm 2020, chỉ tiêu pH nguồn nước cấp của các vùng
nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn nằm trong giới hạn của Quy
chuẩn tuy nhiên thấp hơn so với năm 2019.
- Hàm lượng Oxy hòa tan (DO) thấp hơn so với yêu cầu
của quy chuẩn và thấp hơn so với năm 2019.
- Chỉ tiêu độ mặn môi trường nước cấp trên tuyến
sông lớn như Sông Tiền và Sông Hậu nằm trong giới hạn cho phép của
nước ngọt nhưng cao hơn so với năm 2019.
+ Khu vực Sông Tiền thuộc Thị trấn Cái Tàu Hạ,
huyện Châu Thành, độ mặn trung bình dao động từ 0.045 – 0.145 ‰.
+ Khu vực Sông Hậu thuộc xã Phong Hòa huyện Lai Vung,
độ mặn trung bình dao động từ 0.050 – 0.185 ‰.
Tuy nhiên, với độ mặn này
không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của động vật
thủy sản nước ngọt (0.01 - 0,5 ‰).
Riêng đối với độ mặn ở một
số tuyến sông, kênh nội đồng của huyện Tam Nông, độ mặn cũng vượt
cao hơn so với năm 2019 (khoảng 0.5‰) và vượt yêu cầu độ mặn tối
thiểu quy định đối với nước ngọt. Độ mặn đạt cao nhất ở các kênh
của xã Phú Thành B, huyện Tam Nông.
- Hầu hết các chỉ tiêu dinh dưỡng trong môi trường
nước như H2S, PO43-, COD, NO2,TSS đều vượt giới hạn cho phéo của Quy
chuẩn và cao hơn so với năm 2019. Thường tăng cao vào các tháng
cuối năm (từ tháng 10 – 12).
* Chỉ tiêu kim loại nặng tại các
sông, kênh cấp các vùng nuôi tập trung đều trong giới hạn quy chuẩn.
* Không phát hiện dư lượng thuốc
bảo vệ thực vật tại các vùng nuôi tập trung trên địa bàn Tỉnh.
Kết quả phân tích các chỉ
tiêu thủy lý hóa và dinh dưỡng các nguồn nước cấp trên các sông,
kênh cấp phục vụ cho nuôi trồng thủy sản trên địa Tỉnh cho thấy
chất lượng nước có sự biến đối xấu hơn so với năm 2019. Phần lớn
các thông số quan trắc đều có sự biến động lớn vào thời điểm
nước kiệt, mưa bão và các tháng cuối mùa lũ (từ tháng 5 đến
tháng 12). Nguyên nhân là do nước trên thượng nguồn đổ về, kết hợp
với lượng mưa (chính vụ), nắng nóng, tàn dư nước thải từ các
mùa vụ canh tác lúa làm cho các thông số môi trường có sự thay
đổi và biến động. Chất lượng nguồn nước cấp các vùng nuôi tập
trung trên toàn tỉnh đến nay mặc dù chưa ở mức lý tưởng nhưng vẫn
phù hợp cho nuôi trồng thủy sản.
I.2.
Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh
I.2.1.
Tổng sản phẩm (GRDP) tỉnh Đồng Tháp
Về tăng trưởng: Năm 2020, tốc độ
tăng trưởng bình quân tổng sản phẩm GRDP (theo giá so sánh năm 2010) tăng 2,5%
so với năm 2019, trong đó: khu vực 1 (nông, lâm, thuỷ sản) tăng 2,47%; Khu vực
2 (công nghiệp, xây dựng) tăng 5,77% và Khu vực 3 (các ngành dịch vụ) tăng
0,07%. Tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thuỷ sản theo giá so sánh đạt 65
nghìn tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt 54,1 triệu đồng/người/năm. Trong đó trồng trọt chiếm 56,8%, ngành chăn nuôi chiếm 5,4%, thuỷ sản
chiếm 24,1%, lâm nghiệp chiếm 1,4%, dịch vụ nông nghiệp chiếm 12,2. Tỷ trọng
lĩnh vực thuỷ sản trong những năm gần đây có xu hướng giảm, từ 26,6% năm 2016
và còn 24,1% năm 2020. Trong đó, tỷ trọng ngành cá tra tăng từ 16,2% năm 2016
lên 17,5% năm 2020.
Cơ cấu GRDP: Năm 2020
ngành nông – lâm – thủy sản chiếm tỷ trọng 36,16% tổng GRDP (giá hiện hành) của
toàn tỉnh, trong đó ngành thủy sản đóng góp khoảng 9,04% tổng GRDP tỉnh; nhóm
ngành công nghiệp và xây dựng chiếm cơ cấu 19,62%; nhóm ngành dịch vụ chiếm
35,57%; nhóm khác chiếm 6,65%. Trong giai đoạn 2016 – 2020 cơ cấu các ngành
kinh tế có sự phát triển ổn định.

Hình 1.
Cơ cấu GRDP theo giá hiện hành tỉnh Đồng Tháp năm 2020
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch từ
khu vực 1 sang các khu vực 2 và 3. Tuy nhiên, sự chuyển dịch còn chậm và nông
nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế đến năm 2020.
I.2.2.
Đóng góp của ngành thuỷ sản vào kinh tế của tỉnh
Bảng 1.
Sản lượng thuỷ sản tỉnh Đồng Tháp so với cả nước và vùng ĐBSCL giai đoạn
2016-2020 (Nguồn: Niên giám thống
kê tỉnh Đồng Tháp, 2020; Niên giám thống kê cả nước, 2020)
|
TT
|
Chỉ tiêu
|
Đvt
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
*
|
Sản
lượng thủy sản:
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Cả
nước
|
tấn
|
6.870.703
|
7.313.400
|
7.769.100
|
8.270.220
|
8.497.189
|
|
-
|
Vùng
ĐBSCL
|
nt
|
3.703.448
|
4.096.004
|
4.347.025
|
4.638.165
|
4.697.682
|
|
-
|
Đồng
Tháp
|
nt
|
485.622
|
525.813
|
548.104
|
584.263
|
565.837
|
|
+
|
Khai
thác
|
nt
|
16.607
|
17.171
|
17.897
|
18.260
|
18.721
|
|
+
|
Nuôi
trồng
|
nt
|
469.015
|
508.642
|
530.207
|
566.003
|
547.116
|
|
*
|
Tỷ
trọng Đồng Tháp so với:
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Cả
nước
|
%
|
7.07
|
7.19
|
7.05
|
7.06
|
6.66
|
|
-
|
Vùng
ĐBSCL
|
%
|
13.11
|
12.84
|
12.61
|
12.60
|
12.05
|
Sản lượng thủy sản của tỉnh luôn có
xu hướng tăng trong giai đoạn 2016-2020 với tốc độ tăng bình quân 3.99%/năm và
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng thủy sản của cả vùng ĐBSCL.
Với những đóng góp này, thủy sản
vẫn là một trong những ngành kinh tế chính của tỉnh và ngành thủy sản Đồng Tháp
có vai trò quan trọng trong tổng thể thủy sản của cả vùng ĐBSCL. Nơi đây đã
cung cấp một lượng sản phẩm thủy sản lớn phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ của
người dân trong vùng; hệ thống nhà máy chế biến của tỉnh có vai trò quan trọng
trong việc định hướng và đẩy mạnh sản xuất nguyên liệu thủy sản của cả khu vực
ĐBSCL.
I.2.3.
Dân số, lao động và việc làm trong phát triển kinh tế, thuỷ sản
a) Dân số và lao động
Đồng Tháp có quy mô dân số
và lao động tương đối lớn trong khu vực ĐBSCL. Dân số Đồng Tháp ước tính có
khoảng 1.600.014 người, tăng 0.08% so với năm 2019. Lực lượng lao động (từ 15
tuổi trở lên) có khoảng 941.849 chiếm 57.76%, ngoài ra còn có khoảng 1.1% dân
số là những người ngoài tuổi lao động nhưng vẫn còn tham gia làm việc. Lao động
qua đào tạo đạt 71.72% trên tổng dân số của tỉnh, đây là một lợi thế lớn trong
việc cung ứng nguồn lao động cho tỉnh.
Tỷ suất sinh thô 12.95%, tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên 4.45%. Cơ cấu dân số đô thị chiếm khoảng 19.13%; dân số
lao động nông thôn chiếm 80.87 %, tỷ lệ này khá ổn định trong giai đoạn 2016 –
2020. Đây là một lợi thế so sánh tương đối nếu biết tận dụng tốt nguồn nhân lực
và cũng là sức ép lớn đối với tạo việc làm cho lao động Đồng Tháp.
Bảng 2.
Diễn biến dân số tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2016-2020
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp,
2020)
|
TT
|
Danh mục
|
Đơn vị
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
*
|
Tổng dân số
|
người
|
1.625.637
|
1.612.489
|
1.606.069
|
1.598.754
|
1.600.014
|
|
-
|
Mật
độ
|
Người/km2
|
|
|
|
|
473
|
|
|
Trong
đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Thành
thị
|
người
|
292.694
|
291.561
|
292.276
|
305.629
|
306.145
|
|
-
|
Tỷ
lệ %
|
%
|
18.00
|
18.08
|
18.20
|
19.12
|
19.13
|
|
2
|
Nông
thôn
|
người
|
1.332.943
|
1.320.928
|
1.313.793
|
1.293.125
|
1.293.869
|
|
-
|
Tỷ
lệ %
|
%
|
82.00
|
81.92
|
81.80
|
80.88
|
80.87
|
|
|
Chia
theo giới
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Nam
|
người
|
811.496
|
805.350
|
802.351
|
798.855
|
799.246
|
|
-
|
Tỷ
lệ %
|
%
|
49.92
|
49.94
|
49.96
|
49.97
|
49.95
|
|
2
|
Nữ
|
1.000 người
|
814.141
|
807.139
|
803.718
|
799.899
|
800.768
|
|
|
Tỷ
lệ %
|
%
|
50.08
|
50.06
|
50.04
|
50.03
|
50.05
|
|
*
|
Tỷ lệ tăng dân số
|
%
|
-4.09
|
-4.04
|
-4.00
|
-4.58
|
0.79
|
|
*
|
Tỷ lệ tăng tự nhiên
|
%
|
5.33
|
2.01
|
3.58
|
5.00
|
4.45
|
Trong giai đoạn 2016- 2020, so sánh
giữa số người trong độ tuổi lao động và số lượng người ngoài độ tuổi lao động
thấy tỷ lệ phụ thuộc dưới 50 tức dân số của tỉnh đang ở giai đoạn dân số vàng.
Đây sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Dân số trong độ
tuổi lao động có xu hướng tăng đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế -
xã hội và đặc biệt là cung cấp lực lượng lao động phục vụ cho các ngành kinh tế
của tỉnh; tuy nhiên, đây cũng là một sức ép về vấn đề giải quyết việc làm cho
người lao động hàng năm.
Lao động tham gia khối ngành nông -
lâm - ngư nghiệp: năm 2020, chiếm tỷ lệ khoảng 5.46% lực lượng lao động toàn
tỉnh tương đương 50.453 người, tăng 1.954 người (0.21%) so với năm 2016, và
tăng 4.126 người (0.45%) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, số lượng lao
động làm việc tham gia vào khu vực 1, trong đó có lao động tham gia vào ngành
thuỷ sản có tỷ lệ tăng trưởng nhẹ. Tuy nhiên, lao động có xu hướng chuyển sang
các khối ngành phi nông nghiệp hoặc lên các thành phố lớn khác như T.P HCM, Cần
Thơ để làm việc có thu nhập cao hơn.
Thông qua các chương trình, dự án
trong giai đoạn 2016 – 2020 tỉnh đã giải quyết việc làm cho hơn 20.190 lao động
năm 2020, trong đó có 724 lao động xuất cảnh. Cũng trong năm 2020, tỉnh đã hỗ trợ
dịch covid 226 tỷ đồng cho người dân và tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm 1.45% so với
cùng kỳ năm trước. Công tác giải quyết việc làm đã tác động làm giảm tỷ lệ thất
nghiệp xuống còn 2.55% khoảng 4.000 người.
I.3.
Đánh giá chung
I.3.1.
Thuận lợi
Tỉnh Đồng Tháp có vị thế địa lý rất
thuận lợi do nằm ở trung tâm vùng ĐBSCL, có
hệ thống giao thông thủy và bộ đi đến các tỉnh, thành trong vùng một cách dễ
dàng và thuận tiện để thúc đẩy kinh tế cho tỉnh cũng như khả năng
phát triển các mối liên kết vùng.
Điều kiện khí hậu,
thủy văn tương đối ổn định, ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió, bão hoặc các
tai biến thiên nhiên, nền nhiệt độ cao,… là những điều kiện phù hợp cho sự sinh
trưởng phát triển các giống loài thủy sản bản địa và các loài thủy sản du nhập.
Địa hình bằng phẳng
cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Đặc biệt với nguồn nước ngọt dồi
dào nhận được từ sông Tiền và sông Hậu tạo sự thuận lợi cho phát triển kinh tế
nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng, đặc biệt là nghề NTTS lồng bè trên
sông.
Nguồn lợi thủy sản,
thủy sinh vật đặc thù cho hệ sinh thái sông rạch khá phong phú, bên cạnh nguồn
lợi thủy sản nhận được từ sông Tiền, sông Hậu thuộc hệ thống sông Mekong đặc
biệt vào mùa mưa lũ góp phần gia tăng nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Chất lượng môi trường
nước mặt các sông lớn như sông Tiền, sông Hậu,… nhìn chung còn khá tốt, đảm bảo
cho sự phát triển các giống loài thuỷ sản cũng như là nguồn cung cấp nước cho
sản xuất, sinh hoạt của nền kinh tế.
Lực lượng lao động
dồi dào và có trình độ. Có truyền thống và tiềm năng về đào tạo, với hệ thống
các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề lớn, với cơ sở
vật chất và kỹ thuật tốt, đảm bảo cho công tác đào tạo nguồn nhân lực về lĩnh
vực thủy sản.
Tỉnh có lợi thế lớn
về phát triển du lịch, do đó có tiềm năng lớn về phát triển du lịch sinh thái
nghề cá và tiêu thụ thủy sản nội địa.
I.3.2.
Khó khăn
Hiện tượng giông, bão mặc dù có tần
suất không cao, nhưng khi xuất hiện có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất
của các ngành kinh tế, trong đó có lĩnh vực thủy sản. Một trong
những khó khăn nổi cộm của ĐBSCL nói
chung trong đó có Đồng Tháp, đó là hiện tượng “thiếu lũ, khô hạn”, hiện tượng “trong
hóa” điều này gây khó khăn lớn về mặt lâu dài cho sản xuất nông nghiệp nói
chung và thủy sản nói riêng.
Nguồn lợi thủy sinh vật có xu
hướng suy giảm, đặc biệt là các giống loài có giá trị kinh tế. Hiện nay, do ảnh
hưởng của các công trình thủy điện phía trên thượng nguồn sông Mekong cùng với
tác động của biến đổi khí hậu đã gây hệ lụy không nhỏ đến sự sinh tồn và phát
triển các giống loài thủy sản di cư hàng năm, làm mất tính đa dạng sinh học
thủy vực sông. Vào mùa khô, mực nước các sông chính xuống rất thấp đã làm giảm
sinh khối, kiệt quệ môi trường thủy sinh cũng như khó khăn trong cấp nước cho
các ao nuôi thủy sản nội đồng. Đây là vấn đề bức xúc mà các nhà quản lý, các
nhà khoa học cần phải đi sâu và tạo tiếng nói chung để góp phần bảo vệ và ổn
định nguồn lợi thủy sản trong tương lai.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP)
của tỉnh tuy đạt mức cao trong giai đoạn 2016-2020. Tuy nhiên chưa bền vững và
mức chuyển dịch cơ cấu còn chậm. Nhìn chung tình hình KT-XH của tỉnh tiếp tục
phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực (khu vực I giảm
dần và khu vực II, III) tuy nhiên vẫn còn chậm.
GRDP bình quân đầu người thấp hơn
mức bình quân chung của cả nước, và khu vực ĐBSCL. Huy động vốn đầu tư cho phát
triển Kinh tế - xã hội còn thấp so với tiềm năng.
Gần Tp. Vĩnh Long, TP. Cần Thơ là
lợi thế lớn, tuy nhiên sẽ bị cạnh tranh về thu hút đầu tư và các nguồn lực khác
từ bên ngoài, đặc biệt lao động bị cạnh tranh rất nhiều.
Nguồn nhân lực tuy dồi dào về số
lượng nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp, đặc biệt lao động ngành NTTS
chưa được đào tạo theo kịp nhu cầu của ngành. Mặt khác xuất hiện sự dịch chuyển
lao động ra khỏi tỉnh.
Chất lượng hệ thống giao thông bộ
nông thôn còn nhiều yếu kém, chưa đủ điều kiện hấp dẫn các thành phần kinh tế
đầu tư.
Chương II:
HIỆN TRẠNG NGÀNH THỦY SẢN GIAI ĐOẠN 2016 -2020
II.1.
Nuôi trồng thủy sản
II.1.1.
Diễn biến diện tích NTTS
Hoạt động nuôi trồng thủy sản tỉnh
Đồng Tháp phát triển với nhiều loại hình sản xuất khác nhau và đối tượng nuôi
cũng đa dạng, trong 5 năm trở lại đây diện tích NTTS có xu hướng tăng, năm 2016
toàn tỉnh có 5.835 ha thả nuôi đến năm 2020 diện tích nuôi tăng 326 ha. NTTS
của tỉnh tập trung vào các đối tượng chủ lực như cá, đặc biệt là nuôi cá tra và
nuôi tôm với các hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh (TC/BTC), số ít có
áp dụng nuôi quảng canh (QC) và quảng canh cải tiến (QCCT).
v Diện tích phân theo loài thủy sản
Tại địa phương chủ yếu phát triển
nuôi cá, đặt biệt là nuôi cá tra, diện tích nuôi cá vẫn chiếm phần lớn trong 5
năm vừa qua, năm 2020 diện tích nuôi cá chiếm đến 68,98% tổng diện tích nuôi.
Diện tích nuôi tôm chiếm 16,98 %
trên tổng diện tích nuôi, năm 2016 toàn tỉnh chỉ có 991 ha nuôi tôm, cụ thể là
nuôi tôm càng xanh, tôm thẻ thuần ngọt, đến năm 2018 diện tích nuôi tăng 24 ha
và 2 năm trở lại đây diện tích nuôi tôm có giảm nhẹ còn 931 ha năm 2020. Một
trong những nguyên nhân dẫn đến diện tích nuôi tôm tại tỉnh Đồng Tháp giảm do
diện tích nuôi tôm càng xanh của địa phương giảm nhiều, nguyên nhân những năm
gần đây tại địa phương không có lũ, nhu cầu thị trường không cao chỉ tập trung
ở trong nước dẫn đến người dân ít chú trọng vào đầu tư nuôi đối tượng này.
Diện tích nuôi các loài thủy sản khác trong 4 năm 2016 – 2019
ít bị biến động. Cụ thể năm 2016 có 819 ha thả nuôi chiếm 14,03% tổng diện tích
nuôi, đến năm 2019 diện tích nuôi tăng 61 ha và chỉ sau 1 năm diện tích nuôi đã
giảm còn 3 ha (năm 2020) chiếm 13,61% tổng diện tích nuôi thời điểm đó.

Hình 2. Diện tích
NTTS tỉnh Đồng Tháp phân theo đối tượng nuôi (Nguồn: Niên giám thống kê, 2020)
v Diện tích NTTS phân theo phương thức nuôi
Căn cứ vào những đối tượng thả nuôi
của tỉnh Đồng Tháp, tại địa phương tập trung nuôi theo 2 hình thức TC/BTC đối
với nuôi cá tra, nuôi tôm thẻ và QC/QCCT đối với nuôi tôm càng xanh và một số
đối tượng khác. Cụ thể năm 2020 diện tích nuôi theo hình thức TC/BCT chiếm
98,22% (5.731 ha) tổng diện tích nuôi trong khi đó nuôi theo hình thức QC/QCCT
chỉ có 104 ha chiếm 1,78% diện tích còn lại. Bởi những ưu điểm về quy mô nuôi,
hình thức nuôi TC/ BTC phù hợp với các đối tượng nuôi cá hơn nên mô hình nuôi
TC/BTC được ưa chuộng phát triển tại tỉnh Đồng Tháp.
Bảng 3.
Diễn biến diện tích NTTS tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2016 -2020
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2020)
|
Nội dung
|
ĐVT
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
Phân
theo phương thức nuôi
|
Ha
|
5.835
|
6.161
|
6.341
|
6.479
|
6.457
|
|
Diện
tích nuôi thâm canh/bán thâm canh
|
5.290
|
5.459
|
6.363
|
6.339
|
5.731
|
|
Diện
tích nuôi quảng canh/ quảng canh cải tiến
|
108
|
113
|
115
|
118
|
104
|
v Diện tích NTTS phân theo vùng nước nuôi

Hình 3.
Diện tích NTTS tỉnh Đồng Tháp phân theo vùng nước ngọt
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2020).
Với vị trí địa lý đặc biệt nằm giữa
2 con sông lớn (sông Tiền, sông Hậu), hệ thống kênh rạch chằng chịt cung cấp
nguồn nước ngọt dồi dào cho tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi
thủy sản nước ngọt. Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt có xu hướng tăng quan các
năm. Năm 2016 toàn tỉnh có 5.835 ha nuôi, sau 5 năm diện tích nuôi đã tăng lên
6.457 ha.
v Diện tích NTTS phân theo địa phương
Diện tích nuôi nằm rải rác khắp các
huyện trong tỉnh có vùng nước ngọt, tập trung chủ yếu tại một số thành phố,
huyện như: Tân Hồng, Tam Nông, Thanh Bình, Cao Lãnh, Châu Thành và phân bố rải
rác ở các thị trấn/ xã như Cao Lãnh, Sa Đéc, Lấp Vò,…. Hoạt động nuôi trồng
thủy sản phát triển nhất tại huyện Cao Lãnh với 1.575 ha vào năm 2019 chiếm
26,99% trên tổng diện tích nuôi, và tăng lên 1.821 ha vào năm 2020 chiếm 28,2%
diện tích nuôi tại thời điểm này. Hoạt động NTTS tại Thành phố Cao Lãnh không
phát triển nhiều chỉ có 114 ha nuôi vào năm 2020, tuy nhiên diện tích nuôi tại
Cao Lãnh cũng có xu hướng phát triển qua các năm.
Bảng 4.
Diện tích NTTS tỉnh Đồng Tháp GĐ 2016-2020, (Nguồn: Niên giám thống kê, 2020)
|
Năm
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
TỔNG
SỐ - TOTAL
|
5.835
|
6.161
|
6.341
|
6.479
|
6.457
|
|
1.
Thành Phố Cao Lãnh
|
89
|
103
|
110
|
115
|
114
|
|
2.
Thành Phố Sa Đéc
|
112
|
126
|
142
|
145
|
144
|
|
3.
Thành phố Hồng Ngự
|
320
|
382
|
415
|
420
|
419
|
|
4.
Huyện Tân Hồng
|
467
|
486
|
499
|
514
|
505
|
|
5.
Huyện Hồng Ngự
|
246
|
266
|
273
|
280
|
280
|
|
6.
Huyện Tam Nông
|
885
|
939
|
996
|
988
|
995
|
|
7.
Huyện Thanh Bình
|
495
|
516
|
552
|
576
|
560
|
|
8.
Huyện Tháp Mười
|
365
|
384
|
340
|
351
|
335
|
|
9.
Huyện Cao Lãnh
|
1.575
|
1.619
|
1.765
|
1.793
|
1.821
|
|
10.
Huyện Lấp Vò
|
296
|
318
|
204
|
209
|
206
|
|
11.
Huyện Lai Vung
|
143
|
157
|
172
|
178
|
166
|
|
12.
Huyện Châu Thành
|
842
|
865
|
873
|
910
|
912
|
II.1.2.
Diễn biến, cơ cấu về sản lượng và năng suất NTTS
v Năng suất nuôi
Năng suất nuôi tăng qua
các năm cho thấy hoạt động NTTS tại địa phương khá hiệu quả, năm 2016 năng suất
đạt 116,271 tấn/ha sau 5 năm năng suất hoạt động NTTS tăng 4,775 tấn/ha, năng
suất cao nhất vào năm 2019 đạt 124,799 tấn/ha.
Riêng năm 2020 năng suất nuôi có giảm nhẹ 3,753 tấn/ha so với năm 2019,
một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất năm 2020 giảm có thể do diện tích
mặt nước thả nuôi giảm hoặc mật độ thả và tỷ lệ sống ở các vụ năm 2020 thấp.
Bảng 5.
Năng suất NTTS tỉnh Đồng Tháp GĐ 2016 – 2020
(Nguồn: Báo cáo hoạt động NTTS (Sở
NN&PTNN, 2021)
|
Nội dung
|
ĐVT
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
Diện
tích TN
|
Ha
|
5.835
|
6.161
|
6.341
|
6.479
|
6.457
|
|
Diện
tích MN
|
Ha
|
4.084,5
|
4.312,7
|
4.438,7
|
4.535,3
|
4.519,9
|
|
Sản
lượng
|
Tấn
|
474.909
|
508.642
|
530.207
|
566.003
|
547.116
|
|
Năng
suất
|
Tấn/ha
|
116,271
|
117,940
|
119,451
|
124,799
|
121,046
|
v Sản lượng
Sản lượng nuôi phụ thuộc vào nhiều
yếu tố từ diện tích thả nuôi, chất lượng con giống đến mô hình nuôi, cơ sở hạ
tầng trong ao nuôi và kỹ thuật chăm sóc trong quá trình nuôi, điều kiện môi
trường,.. là các yếu tố quyết định đến hiệu quả nuôi thể hiện qua năng suất,
sản lượng.
Bảng 6.
Sản lượng NTTS tỉnh Đồng Tháp phân theo đối tượng nuôi
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2020)
|
Năm
|
ĐVT
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
Tổng
|
Tấn
|
474.909
|
508.642
|
530.207
|
566.003
|
547.116
|
|
Cá
|
Tấn
|
425.909
|
477.744
|
497.211
|
535.995
|
516.516
|
|
Tôm
|
Tấn
|
688
|
893
|
1.976
|
1.448
|
1.679
|
|
Thủy
sản khác
|
Tấn
|
48.312
|
30.005
|
31.020
|
28.560
|
28.921
|
Sản lượng NTTS tăng đều qua các năm,
năm 2016 hoạt động NTTS thu về 474.909 tấn sản lượng trong đó sản lượng cá
chiếm đến 89,68% tổng sản lượng thu được, sản lượng các loài thủy sản khác
chiếm 10,17% còn lại là sản lượng nuôi tôm 0,15% (688 tấn). Đến năm 2020 sản
lượng nuôi cá vẫn giữ vị trí đầu với 561.516 tấn tăng 90.607 tấn so với năm
2016, sản lượng thủy sản khác vẫn giữa vị trí thứ 2 với 28.921 tấn và 1.679 tấn
là sản lượng nuôi các loài thủy sản khác.
v Một số đối tượng nuôi tiềm năng
- Cá tra
Cá tra là một trong những đối tượng
chủ lực trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản của tỉnh. Trong
những năm qua, Đồng Tháp đã hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung
quy mô lớn tại các huyện Thanh Bình, Tam Nông, Tân Hồng, Châu Thành và huyện
Cao Lãnh. Tỉnh Đồng Tháp đã cấp mã số nhận diện vùng nuôi với gần 100% diện
tích nuôi cá tra thương phẩm; trong đó, 60% diện tích thả nuôi cá tra đạt chuẩn
quốc tế.
Diện tích nuôi cá tra tại tỉnh có xu hướng tăng nhưng không
nhiều, năm 2016 toàn tỉnh có 2.192 ha thả nuôi sau 5 năm tỉnh đã phát triển thêm
413 ha (2.623 ha năm 2020). Với diện tích thả nuôi năm 2016 sản lượng thu về
417.543 tấn, đến năm 2020 sản lượng thu được đạt 455.221 tấn tăng 37.678 tấn so
với năm 2016.
Trong giai đoạn 2016 – 2020, diễn biến về năng suất cá tra
tăng giảm không đều, cụ thể năm 2016 năng suất bình quân đạt 224,12 tấn/ha, đến
năm 2020 năng suất đạt 200,18 tấn/ha.
Nhìn chung năng suất có sự biến động, năm 2018 năng suất đạt
235,88 tấn/ha giảm 5,61 tấn/ha so với năm 2017 (241,5 tấn/ha) và năm 2020 giảm
39,85 tấn/ha so với năm 2019 (240,03 tấn/ha)Nguyên
nhân dẫn đến năng suất nuôi có sự biến động không đều là do mật độ thả nuôi tại
các thời điểm khác nhau, chất lượng con giống và tỷ lệ sống cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến có sự biến động không đều trong nuôi cá tra.
Bảng 7.
Diện tích, sản lượng nuôi cá Tra tỉnh Đồng Tháp GĐ 2016 – 2020
(Nguồn: Báo cáo hoạt động NTTS (Sở
NN&PTNN, 2021)
|
Chỉ
tiêu
|
Năm
2016
|
Năm
2017
|
Năm
2018
|
Năm
2019
|
Năm
2020
|
|
Diện tích TN
|
2.192
|
2.345
|
2.450
|
2.600
|
2.623
|
|
Diện tích lũy kế
|
1.863
|
1.993
|
2.166
|
2.208
|
2.274
|
|
Sản lượng
|
417,543
|
481,306
|
510,933
|
530,005
|
455,221
|
- Cá lóc
Cá lóc là đối
tượng tương đối dễ nuôi, có thể nuôi với nhiều mô hình khác nhau như nuôi trong
ao đất, ao nổi, lồng bèo và có thể nuôi quy mô nhỏ để xóa đói giảm nghèo hoặc
nuôi thâm canh với mật độ cao. Hiện nay, một số huyện như Hồng Ngự, Tam Nông và
Cao Lãnh phát triển nuôi cá lóc. Các hộ nuôi cá lóc đa
phần đều có nhiều năm kinh nghiệm nuôi cá. Có một số hộ vừa sản xuất giống kết
hợp với ương và nuôi hoặc các hộ ương kết hợp với nuôi nhằm chủ động được nguồn
giống, giảm giá thành sản xuất và kiểm tra được chất lượng con giống cho nuôi
thương phẩm.
Hiện nay, thị
trường tiêu thụ cá lóc khá đa dạng cả trong vào ngoài nước, các mặt hàng chế
biến từ cá lóc như khô, chà bông, mắm cá lóc, lạp xưởng,..được tiêu thụ ở các
tỉnh lân cận và xuất khẩu sang các nước như Thái Lan, Campuchia, Lào,…
Nhìn chung, đối
tượng cá lóc có những thuận lợi về thị trường tiêu thụ tốt, nhu cầu thị trường
cao, cá lóc là loại cá dễ nuôi, cá lóc có khả năng chịu đựng cao với điều kiện
bất lợi của môi trường, nguồn con giống dồi dào, thích hợp để phát triển mở
rộng mô hình nuôi tại tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên, để hoạt động sản xuất đạt hiệu
quả cần chú trọng vào các yếu tố đầu vào như con giống, kỹ thuật nuôi, hạ tầng
và cả đầu ra về thị trường lâu dài.
- Cá điêu hồng
Nuôi cá điêu hồng
cũng là một trong những đối tượng đầy tiềm năng của tỉnh, bởi trong tương lai
đây là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta nói chung và tỉnh
Đồng Tháp nói riêng. Tỉnh có lợi thế tự nhiên
rất lớn để phát triển cá điêu hồng, diện tích nuôi trong lồng, bè không ngừng
tăng theo từng năm, hoạt động nuôi tập trung chủ yếu ở các huyện: Cao Lãnh,
Thanh Bình, Châu Thành và TP. Cao Lãnh.
Thị trường tiêu thụ cá điêu hồng phần lớn
là trong nước, thông qua các chợ đầu mối, ngoài ra hiện nay nhờ các công ty
thủy sản, các chương trình, dự án đầu tư nhằm tìm đầu ra cho sản phẩm cá điêu
hồng như: xây dựng các chuỗi liên kết tiêu thụ cá điêu hồng,đã đem lại
hiệu quả cao trong việc đảm bảo sự ổn định về đầu ra cho sản phẩm, gắn kết mối
quan hệ giữa các doanh nghiệp với hộ nuôi, nâng cao chất lượng sản phẩm, dễ
dàng trong việc truy suất ngồn gốc và mở rộng thị trường tiêu thụ ngoài nước,
hiện nay các sản phẩm từ cá điêu hồng của tỉnh đã được xuất khẩu sang hơn 20
quốc gia và vùng lãnh thổ.
Ngoài các tượng chủ lực, tiềm năng như đã đề cập ở trên,
Đồng Tháp có rất nhiều đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, trong
báo cáo này chúng tôi đề xuất việc xác định đối tượng chủ lực dựa vào nhu cầu
thị trường nên để các chủ thể sản xuất tự điều chỉnh dưới sự định hướng của cơ
quan quản lý liên quan, để đáp ứng được quy luật cung cầu của thị trường, hạn
chế đóng khung đối tượng chủ lực khi chưa có những nhận định chính xác, sẽ để
lại hệ lụy lớn cho quá trình sản xuất, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
II.1.3.
Sản xuất và cung ứng con giống
a) Hệ thống và
năng lực sản xuất
v Đối với đối tượng chủ
lực (Cá tra)
Đồng Tháp là một
trong các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long phát triển thủy sản mạnh, đặc biệt là cá
tra. Tỉnh là cái nôi của nghề sản xuất giống cá tra, đứng đầu cả nước về sản
xuất giống, nuôi thương phẩm và chế biến cá tra xuất khẩu.
- Toàn Tỉnh có 89
cơ sở vào năm 2016. Đến năm 2020 là 76 cơ sở. Hiện nay, toàn Tỉnh có khoảng 189.000
con cá bố mẹ, trong đó có khoảng 30.000 con cá tra bố mẹ chọn giống cải thiện
di truyền về tốc độ tăng trưởng từ Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, hàng
năm cung cấp ra thị trường trong và ngoài Tỉnh khoảng 20 tỷ con cá tra bột.
- Bên cạnh đó, Tỉnh
có trên 1.316 cơ sở cơ sở ương dưỡng giống cá tra vào năm 2016 và ổn định trên
1.100 cơ sở cho đến nay. Hàng năm, cung cấp ra thị trường khoảng 1,3 tỷ con cá
tra giống.
v Đối tượng nuôi tiềm
năng:
- Đối với cá điêu
hồng: Nguồn cá bột chủ yếu được mua từ tỉnh Tiền Giang, cá chủ yếu được ương
dưỡng trong ao đất và lồng bè. Số lượng cơ sở ương dưỡng giảm từ 86 cơ sở năm
2015 xuống còn 37 cơ sở vào năm 2020.
- Đối với tôm càng
xanh: Toàn Tỉnh có 24 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống tôm càng xanh, số cơ sở
này ổn định cho đến nay. Giai đoạn từ năm 2016 đến nay, cơ sở sản xuất tiếp
cận, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất (nuôi vỗ tôm bố mẹ,…) kiểm soát
chất lượng tôm bố mẹ nâng cao chất lượng con giống; sản xuất tôm càng xanh toàn
đực bằng phương pháp vi phẫu. Hàng năm, 2 cung cấp khoảng 300 triệu con tôm
post ra thị trường chủ yếu tiêu thụ tại các tỉnh Bạc Liêu, Kiên Giang.
- Đối với cá rô/cá
điêu hồng: Toàn tỉnh có 37 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống năm 2020. Số lượng
cơ sở tăng giảm trong giai đoạn 2016-2020.
b) Kết quả sản
xuất, ương dưỡng giống
v Đối tượng chủ lực (Cá
tra)
Giai đoạn 2016 -
2020, các cơ sở sản xuất của Tỉnh cung cấp cho thị trường từ 13 tỷ - 28 tỷ con
cá tra bột và khoảng 1 tỷ - 1,8 tỷ con cá tra giống. Tuy nhiên, năm 2020 do do
tình hình dịch bệnh Covid – 19, xuất khẩu cá tra thương phẩm gặp nhiều khó khăn
ảnh hưởng đến tình hình sản xuất giống, dẫn đến sản lượng cá giống giảm mạnh,
còn khoảng là 1,299 triệu con.
v Đối
tượng nuôi tiềm năng
- Đối với cá điêu hồng: Sản lượng
cá giống ương dưỡng trong Tỉnh tăng theo từng năm, từ 101 triệu con năm 2016,
tăng lên gần 1,5 lần vào năm 2020, đạt khoảng 142 triệu con.
- Đối với tôm càng xanh: Sản lượng
tôm post cung cấp ra thị trường trong và ngoài tỉnh tăng gấp 3 lần từ năm 2011
đến năm 2020, từ trên 120 triệu con lên 363,3 triệu con.
- Đối với cá rô phi/cá điêu hồng:
đó nhu cầu về con giống là rất lớn, đặc biệt là cá sặc rằn. Với sản lượng ương
dưỡng giống tăng, đạt bột cá gần 142 triệu con/năm.
Bảng 8.
Sản xuất và ương dưỡng giống thủy sản của tỉnh Đồng Tháp
(Nguồn: Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh Đồng Tháp, 2020)
|
TT
|
Các chỉ tiêu thống kê
|
Đơn vị
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
1
|
Tổng
số cơ sở sản xuất
|
Cơ sở
|
46,0
|
50,0
|
50,0
|
41,0
|
40,0
|
|
2
|
Sản
lượng sản xuất thực tế
|
Tr.bột/ năm
|
976,7
|
1.274,0
|
2.067,7
|
1.294,1
|
1.274,6
|
|
3
|
Tổng
số cơ sở ương
|
Cơ sở
|
170,0
|
198,0
|
170,0
|
137,0
|
137,0
|
|
|
Tôm
càng xanh
|
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
|
|
Cá rô
phi/ cá điêu hồng
|
|
101,0
|
76,0
|
63,0
|
43,0
|
37,0
|
|
|
Các
loài bản địa (thát lát, sặc rằn...)
|
|
10
|
10,0
|
19,0
|
20,0
|
15,0
|
|
|
Ếch
|
|
28,0
|
50,0
|
50,0
|
39,0
|
64,0
|
|
|
Khác
.....
|
|
41,0
|
32,0
|
10,0
|
13,0
|
10,0
|
|
4
|
Sản
lượng giống ương
|
Triệu con
|
497,6
|
349,8
|
506,8
|
518,0
|
605,9
|
|
|
Tôm
càng xanh
|
|
-
|
-
|
-
|
-
|
134
|
|
|
Cá rô
phi/ cá điêu hồng
|
|
67,0
|
67,8
|
66,4
|
102,5
|
142,0
|
|
|
Các
loài bản địa (thát lát, sặc rằn...)
|
|
-
|
53,6
|
56,5
|
40,7
|
98,6
|
|
|
Ếch
|
|
93,8
|
96,5
|
119,5
|
85,7
|
130,0
|
|
|
Khác
.....
|
|
336,7
|
67,5
|
208,6
|
243,4
|
169,5
|
|
5
|
Sản
xuất giống Cá tra
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tổng
số cơ sở sản xuất
|
Cơ sở
|
76,0
|
68,0
|
63,0
|
71,0
|
76,0
|
|
|
Sản
lượng sản xuất thực tế
|
Tr.bột/ năm
|
13.235,6
|
15.659,0
|
22.900,8
|
26.189,4
|
22.500,0
|
|
|
Tổng
số cơ sở ương
|
Cơ sở
|
1.150,0
|
1.160,0
|
1.100,0
|
1.250,0
|
1.104,0
|
|
|
Sản
lượng ương giống
|
Triệu con
|
1.023,9
|
1.752,5
|
1.749,6
|
1.803,4
|
1.299,1
|
II.1.4.
Sản xuất và cung ứng thức ăn, thuốc thú y thủy sản
Với diện tích thả nuôi tại tỉnh khá
lớn, hoạt động NTTS cũng đang phát triển từng ngày đòi hỏi nhu cầu sử dụng thức
ăn, thuốc trong hoạt động NTTS cao. Đến nay, toàn tỉnh có 21/23 nhà máy sản
xuất thức ăn thủy sản đang hoạt động với sản lượng thức ăn cá tra sản xuất năm
2020 là 1.466.449 tấn, cung cấp đủ cho nuôi trồng thủy sản và sản xuất giống
của địa phương (khoảng 883.200 tấn chiếm khoảng 60,2%) và phần còn lại 583.249
tấn (chiếm 39,8%) cung cấp cho thị trường ngoài tỉnh.
Đa số các cơ sở nuôi cá tra thương
phẩm sử dụng thức ăn công nghiệp (loại 26% đạm), theo khảo sát trong thời gian
qua hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của cá thương phẩm khoảng 1,55 – 1,65; quá
trình kiểm soát chất lượng các loại thức ăn luôn được cơ quan quản lý chuyên
ngành kiểm tra, không phát hiện có thức ăn kém chất lượng.
Việc sử dụng thuốc thú y, thủy sản
và chế phẩm sinh học dùng trong quá trình sản xuất giống chưa được giám sát
chặt chẽ. Tình hình diễn biến phức tạp của các loại bệnh trên cá tra giống (tần
suất thường xuyên, khó điều trị, tỷ lệ hao hụt cao,…) nên việc sử dụng thuốc
thú y, thủy sản, hóa chất và chế phẩm sinh học nhiều hơn.
II.1.5.
Công tác khuyến ngư và chuyển giao công nghệ
Các hoạt động khuyến ngư, chuyển
giao khoa học công nghệ đã lần lượt được áp dụng vào sản xuất thuỷ sản từ khâu
sản xuất giống, nuôi thịt, chế biến và xuất khẩu. Trên lĩnh vực sản xuất giống
đã chủ động được con giống, thực hiện việc gia hoá và thay đổi đàn giống bố mẹ
làm giảm tỷ lệ hao hụt trong quá trình ương giống, nuôi thịt, cũng như gia tăng
phẩm chất thịt ở đối tượng nuôi. Kỹ thuật nuôi ngày một hoàn thiện, và diện
tích nuôi trồng thủy sản áp dụng các tiêu chuẩn gia tăng qua các
năm. Các tiêu chuẩn áp dụng và đạt chứng nhận chủ yếu bao gồm
Globalgap, ASC, BAP, VietGap, chủ yếu là trên cá tra nuôi thương phẩm.
Từ 202.14ha diện tích nuôi cá tra thương phẩm áp dụng các tiêu
chuẩn năm 2011, tăng lên 845,89ha vào năm 2020. Diện tích áp dụng
chủ yếu là của doanh nghiệp nuôi cá tra chế biến xuất khẩu, chiếm
trên trên 90%, còn lại là của các hộ nuôi nuôi nhỏ lẻ nhưng có
liên kết với doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm.
Việc áp dụng các tiêu chuẩn,
quy chuẩn trong nước và quốc tế là một yêu cầu tất yếu trong việc
nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi cá tra xuất khẩu nhằm đảm
bảo thực hiện tốt các quy định về an toàn thực phẩm, truy xuất
nguồn gốc và đáp ứng nhu cầu của các thị trường nhập khẩu hiện
nay.
Năm 2016 tỉnh Đồng Tháp dựa
trên các quy định về chính sách hỗ trợ của Trung ương đã ban hành
Quyết định số 06/2016/QĐ-UBND về quy định mức chi thực hiện chính
sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt trong
nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
Đến nay, Tỉnh đã thực hiện hỗ trợ chứng nhận cho 177,06 ha nuôi cá
tra thương phẩm (gồm hỗ trợ theo Quyết định 06/2016/QĐ-UBND là 154,83
ha; hỗ trợ từ chương trình Dự án của Tổng cục Thủy sản là 22,23
ha); Hỗ trợ 7,35ha nuôi cá sặc rằn thương phẩm được chứng nhận
VietGAP.
II.1.6.
Hiệu quả kinh tế một số mô hình nuôi thủy sản phổ biến trong tỉnh và hiệu quả
kinh tế
a) Hiệu quả kinh tế
v Hiệu
quả kinh tế so với sản xuất nông nghiệp
Bảng 9.
Giá trị và cơ cấu giá trị ngành nông nghiệp - thuỷ sản giai đoạn 2016-2020
(Nguồn: Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy
sản tỉnh Đồng Tháp, 2020)
|
Danh mục
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
1.
Giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) (triệu đồng)
|
|
- Nông
nghiệp
|
25.398.180
|
25.890.123
|
30.290.716
|
31.093.673
|
32.239.472
|
|
- Thủy
sản
|
9.918.497
|
10.584.986
|
10.980.765
|
11.671.107
|
11.426.860
|
|
2.
Tốc độ tăng GTSX (%)
|
|
Nông
nghiệp
|
3.48
|
1.94
|
7.44
|
2.65
|
3.68
|
|
Thủy sản
|
1.24
|
6.72
|
3.74
|
6.29
|
-2.09
|
|
3.
Giá trị sản xuất (theo giá thực tế) (triệu đồng)
|
|
Nông
nghiệp
|
33.096.777
|
33.725.946
|
41.980.776
|
43.956.785
|
48.451.328
|
|
Thủy sản
|
13.282.335
|
14.033.048
|
15.268.759
|
16.435.744
|
15.752.398
|
|
4.
Cơ cấu GTSX (giá thực tế) (%)
|
|
Nông
nghiệp
|
65.16
|
65.06
|
72.17
|
71.68
|
74.38
|
|
Thủy sản
|
26.15
|
27.07
|
26.25
|
26.80
|
24.18
|
Theo số liệu thống kê của Chi cục
Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản tỉnh Đồng Tháp, giá trị sản xuất (GTSX) của ngành
thuỷ sản giai đoạn 2016-2020 nhìn chung có bước tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng
từ 1.24% (2016) lên 6.29% (2019), tuy nhiên vào năm 2020 thì có sự giảm nhẹ
2.09% so với cùng kỳ năm trước. So với ngành nông nghiệp, thuỷ sản chiếm trung
bình khoảng 25% trong cơ cấu GTSX của cả khu vực 1 và khoảng 1/3 của ngành nông
nghiệp.
v Hiệu
quả so với một số mô hình chính khác
Theo
Sở NN&PTNT Đồng Tháp, địa phương có diện tích và sản lượng nuôi cá tra lớn
nhất cả nước. Tỉnh là cái nôi của nghề sản xuất giống cá tra, đứng đầu
cả nước về sản xuất giống, nuôi thương phẩm và chế biến cá tra xuất khẩu. Tới
giữa tháng 8/2021, giá cá tra nguyên liệu giảm xuống còn 20.500 – 21.500
đồng/kg. So với mức giá trước dịch Covid – 19 là 26.000 – 27.000 đồng/kg thì
người nuôi sẽ có mức lợi nhuận khá cao. Vì thế, mô hình này cũng là mô hình phổ
biến được người dân lựa chọn nhiều nhất.
Do phần lớn các đối tượng thủy sản
trên địa bàn tỉnh được nuôi chủ yếu dưới hình thức nuôi thâm canh và đặc biệt
là cá tra, nên các hình thức nuôi cá mương vườn, cá ruộng lúa và nuôi kết hợp
vẫn tồn tại nhưng diện tích chiếm không nhiều.
- Nuôi cá điêu hồng hiện đang phổ
biến với mô hình nuôi lồng bè, mức đầu tư bình quân khoảng 150 triệu/lồng bè
sau 6 tháng cho lợi nhuận là 60 - 65 triệu, tỷ suất lợi nhuận là khoảng 30%,
nuôi ao tùy theo quy mô mà đòi hỏi mức đầu tư khác nhau và thường cho tỷ suất
lợi nhuận thấp hơn (21%). Tuy nhiên, nuôi cá lồng bè việc phát triển mở rộng
diện tích là rất khó do những khu vực đủ điều kiện cho nuôi lồng bè không
nhiều, quá trình nuôi phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện môi trường bên ngoài.
- Nuôi cá mương vườn và nuôi cá
ruộng lúa với mức đầu tư thấp song cho tỷ suất lợi nhuận/năm khá cao, lần lượt
là 62% và 43%. Tuy mức độ lợi nhuận trên một đơn vị diện tích không cao nhưng
đây lại là 02 hình thức được nhiều người dân lựa chọn do tận dụng được diện
tích mặt nước sẵn có, yêu cầu về vốn, về kỹ thuật, quản lý lại không nhiều và
mức độ rủi ro thấp.
- Nuôi cá kết hợp (thường là cá rô,
cá sặc rằn,…) cho lợi nhuận thấp hơn do năng suất nuôi và giá tiêu thụ của các
loài cá này không cao. Tương tự với mô hình nuôi cá mương vườn và nuôi cá ruộng
lúa, đây là hình thức nuôi có mức đầu tư thấp, có thể tận dụng những ao đầm nhỏ
sẵn có, yêu cầu về điều kiện môi trường, kỹ thuật quản lý không cao nên cũng
phù hợp với khả năng của nhiều hộ dân vốn ít và kỹ thuật nuôi còn hạn chế.

b) Hiệu quả về mặt xã hội
- môi trường
Tăng thu nhập cho người
dân trên một đơn vị diện tích canh tác, góp phần xóa đói giảm nghèo, và mở ra
cơ hội làm giàu đối với các mô hình nuôi thâm canh năng suất cao.
- Giải quyết lao động,
việc làm khu vực nông thôn.
- Góp phần bảo vệ môi
trường - nguồn lợi.
- Hình thành mô hình sản
xuất dạng tổ hợp tác, quá trình tham gia tổ hợp tác, các thành viên thường
xuyên chia sẻ những kinh nghiệm được coi như “bí quyết riêng” để đẩy mạnh sản
xuất, mở rộng thị trường, phát triển thương hiệu thuỷ sản của địa phương.
-
Nâng cao kiến thức cho người dân thông qua các lớp tập huấn, tuyên truyền. Thực
hiện theo Kế hoạch số 162/KH-SNN ngày 20/01/2021 của Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đã được phê duyệt kinh phí tại Công văn số 90/UBND-KT ngày
08/02/2021 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh (đã thực hiện xong). Cụ thể như lớp đào
tạo, tập huấn chuyển giao kỹ thuật vào sản xuất giống cá tra 3 cấp
chất lượng cao; Tuyên truyền, tổ chức tham quan nâng cao trình độ kỹ
thuật, nhân rộng mô hình trình diễn; tuyển chọn dự án khuyến ngư trong
sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao theo các quy định hiện
hành. (Kế hoạch số 222/KH-UBND của UBND tỉnh ngày 15/10/2018 về Triển khai
thực hiện Đề án liên kết sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao tỉnh Đồng
Tháp giai đoạn 2018-2025).
- Tổ chức sản xuất tập
trung, tạo sản phẩm mang tính hàng hóa, dễ tiêu thụ và hạn chế tình trạng tư
thương ép giá.
II.1.7.
Tổ chức sản xuất
Phần lớn lượng giống cung
cấp cho các cơ sở nuôi thương phẩm có nguồn gốc tại địa phương, phần còn lại
được cung cấp từ các tỉnh lân cận như Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang. Việc
cung ứng nguồn giống này được thực hiện trực tiếp giữa các cơ sở nuôi thương
phẩm và các cơ sở sản xuất giống hoặc thông qua các thương lái. Các cơ sở nuôi
thương phẩm mua thức ăn, thuốc, hóa chất trực tiếp từ các nhà máy sản xuất
thuốc, thức ăn thủy sản hoặc thông qua các cơ sở kinh doanh thuốc, thức ăn thủy
sản trên địa bàn.
Các sản phẩm thương phẩm
từ các cơ sở nuôi thương phẩm chủ yếu được các nhà máy hợp đồng và thu mua trực
tiếp (đối với cá tra, basa) hoặc thông qua thương lái thu mua, phân loại và bán
lại cho các nhà máy chế biến hoặc tiêu thụ tại thị trường nội địa đối với các đối
tượng khác. Hiện hay, một số cơ sở nuôi thương phẩm là vùng nuôi của nhà máy
chế biến hoặc có hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các nhà máy chế biến nên việc
mua bán trao đổi diễn ra khá thuận lợi.

Hình 4. Biểu đồ thể hiện quy trình tổ chức sản
xuất
(Nguồn: Nhóm thực hiện nghiên cứu Quy hoạch
thủy sản tỉnh Đồng Tháp, 2021)
Hoạt động sản xuất được
các cơ quan chức năng của tỉnh, huyện kiểm tra, giám sát kiểm soát chưa được chặt
chẽ về mùa vụ sản xuất, giống thả,... Tuy nhiên do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân
tán nên mức độ kiểm tra cũng như các hoạt động hỗ trợ sản xuất gặp rất nhiều
khó khăn. Các cơ quan chuyên ngành cũng thường xuyên mở các lớp tập huấn về kỹ
thuật, thông tin cho người nuôi các thông tin về thị trường, kỹ thuật thông qua
các phương tiện thông tin.
Sở NN và PTNT là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh thực
hiện quản lý nhà nước về hoạt động NTTS nước ngọt trên phạm vi toàn tỉnh. Phòng
Nông nghiệp và PTNT thực hiện chức năng giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về
hoạt động NTTS trên địa bàn huyện. Các Chi cục chuyên ngành trực thuộc Sở như
Chi cục Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản,…thực hiện quản lý theo phân công, phân cấp
của pháp luật về các nhiệm vụ sau:
- Con giống và chất lượng con giống: kiểm dịch
nguồn giống sản xuất và các vấn đề về vệ sinh thú y …
- Hoạt động nuôi thương phẩm: Quản lý vùng
nuôi, mùa vụ nuôi, phối hợp với các ngành liên quan quản lý về vệ sinh môi trường
và phòng chống dịch bệnh.
- Quản lý hoạt động của các cơ sở kinh doanh
dịch vụ thú y thủy sản: kiểm soát về chất lượng của các loại thuốc, hóa chất,
thức ăn.
- Quá trình thực hiện chức năng quản lý, Sở
NN&PTNT có sự phối hợp với UBND cấp huyện chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực
thuộc quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh NTTS trên địa bàn.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh
chỉ đạo Sở NN&PTNT tăng cường công tác quản lý, kiểm tra việc đăng ký đối với
hình thức nuôi thủy sản lồng bè và đối tượng chủ lực; kiểm tra, hướng dẫn, yêu
cầu cơ sở nuôi thủy sản thực hiện theo Nghị định Chính phủ số 55/2-17/NĐ-CP quy
định về nuôi thủy sản, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra.
Việc thực hiện Quyết định số 1802/QĐ-BNN-QLCL
ngày 22/5/2020 ban hành “Chương trình kiểm soát An toàn thực phẩm cá và các sản
phẩm cá bộ Siluriformes xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ” đặt ra nhiều nhiệm vụ
kiểm soát chặt chẽ hơn, từ khâu đầu vào đến đầu ra theo chuỗi liên kết. Cụ thể:
1) Kiểm soát tại công đoạn nuôi, thu hoạch (đối với cơ sở nuôi cá da trơn
cung cấp nguyên liệu, kiểm soát điều kiện đảm bảo ATTP cơ sở nuôi); 2) Kiểm
soát tại công đoạn vận chuyển đến cơ sở chế biến (tàu/ghe, xe); 3) Kiểm tra
chất lượng cá khi tiếp nhận tại cơ sở chế biến; 4) Kiểm soát điều kiện đảm bảo
ATTP trong quá trình vận chuyển và 5)Yêu cầu đối với sản phẩm xuất khẩu.
Được sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ
đạo, cũng với sự phối hợp chặt chẽ của các sở ngành, đoàn thể có liên quan nên
công tác quản lý, đảm bảo ATTP được tiến hành thuận lợi. Tuy nhiên, do tình
hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp (thực hiện giãn xã hội) nên ảnh
hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ.
II.2.
Khai thác thủy sản
II.2.1.
Quy mô nghề khai thác thủy sản
v Diễn biến số lượng tàu
thuyền và cơ cấu nghề khai thác thủy sản
Là tỉnh nội đồng nên hoạt động khai
thác thủy sản tại địa phương không phát triển so với các lĩnh vực khác, quy mô
khai thác nhỏ, đa số sử dụng ghe, xuồng dưới hình thức lưỡng dụng, vừa làm
phương tiện chuyên chở, đi lại, vừa làm phương tiện đánh bắt thủy sản vào những
mùa nước. Năm 2020 toàn tỉnh có 500 ghe thuyền có chiều dài 6 – 12m với công
suất từ 20 – 30 CV, giảm 49 chiếc so với năm 2019. Trên thực tế khó có thể
thống kê đầy đủ số lượng ghe thuyền hoạt động nghề khai thác tại địa phương tàu
hoạt động nghề cấm, bởi hiện nay phân bố rải rác và thuộc quyền quản lý của địa
phương (các huyện), nhiều nghề quy mô hoạt động nhỏ lẻ, khai thác theo hộ gia
đình, hoạt động ở vùng ven sông.
Nghề khai thác thủy sản tỉnh Đồng Tháp khá đa dạng và phong
phú, với nhiều loại hình ngư cụ đánh bắt khác nhau như: ngư cụ chài, cào, lưới
rê (thả trôi, cố định), nghề đáy, đăng, dớn, câu, vợt… Toàn tỉnh có trên 20
loại ngư cụ khác nhau hoạt động trên các ngư trường ở 2 mức độ: chuyên nghiệp,
bán chuyên nghiệp hoạt động mang tính thời vụ.
Bảng
10.
Một số ngư cụ khai thác của tỉnh Đồng Tháp
(Nguồn: Điều tra của PVKT&QHTS Phía
Nam, 2021)
|
STT
|
Loại
nghề
|
Thời
gian KT chính trong năm
|
Đối
tượng khai thác
|
Ngư
trường chủ yếu
|
Phương
tiện
|
|
1
|
Đăng
đáy
|
Tháng
10-3 năm sau
|
cá,
tép, tôm
|
Sông
lớn
|
thủ
công/ cơ giới
|
|
2
|
Chà
|
Tháng
12-2 năm sau
|
cá,
tép, tôm
|
Các
sông
|
thủ
công/ cơ giới
|
|
3
|
Cào
|
Quanh
năm
|
cá,
tép, tôm
|
Sông
lớn
|
Cơ
giới
|
|
4
|
Lưới
rê
|
Quanh
năm
|
cá,
tép, tôm
|
Sông
lớn, kênh, nội đồng
|
thủ
công/ cơ giới
|
|
5
|
Te
|
Quanh
năm
|
cá,
tép, tôm
|
Sông
lớn, kênh, nội đồng
|
thủ
công/ cơ giới
|
|
6
|
Nò,
lờ, lợp
|
Mùa
nước lên
|
Lươn,
cá, tôm
|
Sông,
kênh, rạch
|
thủ
công
|
|
7
|
Chài
quăng
|
Quanh
năm
|
cá,
tôm
|
Sông,
kênh, rạch
|
thủ
công/ cơ giới
|
|
8
|
Câu
|
Quanh
năm
|
cá,
tôm
|
Sông
|
thủ
công/ cơ giới
|
|
9
|
Ngư cụ
khác
|
Quanh
năm
|
cá,
tôm
|
Sông,
rạch, ruộng
|
thủ
công/ cơ giới
|
Bên cạnh những ngư cụ có tính chọn
lọc, ít tác động xấu đến nguồn lợi thì một số nghề như te, nghề cào, đăng và
các nghề đáy khác, hoạt động đánh bắt thủy sản tại địa phương ở những năm trước
diễn biến rất phức tạp. Những năm gần đây hoạt động nghề khai thác tại địa
phương đang có xu hướng giảm lượng thuyền ghe nguyên nhân do thực hiện theo
Thông Tư 19/2018/TT – BNNPTNT ngày 15/11/2018 của Bộ NN&PTNT và Thông Tư
01/2021/TT-BNNPTNT ngày 18/1/2022 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Thông tư số 19 hướng dẫn về bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thủy sản trong đó quy định rõ cấm các nghề lồng xếp, lưới kéo, đăng
đáy, te,…hoạt động vùng nội đồng.
v Khu vực khai thác và
hoạt động tổ chức trong khai thác thủy sản
Khai thác thủy sản tỉnh Đồng Tháp
chủ yếu theo hình thức cá nhân và hộ gia đình. Đối với các hộ chuyên nghiệp,
thường hoạt động trên các sông rạch lớn và thay đổi địa điểm thường xuyên.
Trong khi đó, các hộ khai thác không chuyên có vùng hoạt động chủ yếu là các
thủy vực gần nhà.
Với tính chất khai thác nội đồng,
hoạt động khai thác tập trung chủ yếu ở các vùng sông,
kênh rạch, ruộng trũng. Hoạt động khai thác tại vùng này với các
loại nghề, ngư cụ khai thác có quy mô nhỏ như nghề đăng, lợp, vó, câu…và sản
phẩm khai thác được chủ yếu bán cho các nậu thu mua, sản xuất các loại khô, mắm
và số ít để phục vụ cho nhu cầu thực phẩm hằng ngày của một số hộ dân tại địa
phương.
v Mùa vụ khai thác
Phần lớn nghề khai thác hoạt động
quanh năm, hoạt động nhiều vào mùa nước nỗi, đánh bắt theo con nước tập trung
chủ yếu ở các huyện Hồng Ngự, thành phố Hồng Ngự, Tân Hồng, Tam Nông, Thanh
Bình, Cao Lãnh và Sa Đéc. Tại địa phương hiện nay đã có những quy
định về mua vụ đánh bát như cấm khai thác ngoài tự nhiên tất cả các đối tượng
thủy sản từ ngày 1/5 đến 1/7 hàng năm, tại Tp. Hồng Ngự triển khai cấm khai
thác thủy sản dưới mọi hình thức đoạn sông từ cầu Sở Thượng đến cầu Nguyễn Tất
Thành qua 3 phường với diện tích mặt nước rộng 50ha đển đảm bảo nguồn lợi thủy
sản tại khu vực này không bị tác động bởi các ngư cụ khai thác.
v Nguồn lợi thủy sản
Tỉnh Đồng Tháp có đến 3.283 km2
diện tích tự nhiên, vào mùa nước nổi có đến 65% diện tích bị ngập nước, đây là
thời điểm thích hợp cho các loài thuỷ sinh vật sinh sản và phát triển. Theo
đánh giá thì đến nay Đồng Tháp có 159 loài cá thuộc 89 giống nằm trong 39 họ,
trong đó có một số loài có giá trị cao như cá Hô, cá Tra dầu… Dựa vào sản lượng
khai thác và cơ cấu của các loài cá đã khai thác được, có thể ước tính trữ
lượng cá ruộng trũng của tỉnh là 3.886 tấn/năm, trữ lượng trên sông Tiền là
25.000 tấn, sông Hậu là 17.000 tấn. Do đó, khả năng khai thác thủy sản cho 2
phép giới hạn từ 13.000 – 15.000 tấn/năm sẽ đảm bảo được sự phục hồi, tái tạo
nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Với 7.313ha diện tích
tự nhiên, vườn quốc gia Tràm Chim không chỉ phong phú về thảm động, thực vật mà
những loài thủy sinh tại đây cũng rất đa dạng với 130 loài cá nước ngọt với một
số loài cá có trong danh sách đỏ như cá còm, cá mang rổ, cá duồng, cá
hô…, vào mùa nước nổi các đối tượng thủy sinh nội đồng theo con
nước về tạo nên một hệ sinh thái phong phú, đây cũng là nơi cư trú, lưu giữa cá
bố mẹ để bổ sung cho nguồn giống tự nhiên và tăng số lượng quân thể.
v Lao động trong khai
thác
Lao động tham gia khai thác thủy
sản tỉnh Đồng Tháp phân ra làm 2 đối tượng: lao động chuyên nghiệp và lao động
theo mùa vụ (tận dụng lúc nông nhàn). Do vậy, lao động khai thác không ổn định
mà biến động theo năm và theo từng mùa vụ. Lao động khai thác tăng mạnh vào
những năm được mùa cá và mực nước lũ lớn, những năm sản xuất nông nghiệp gặp
khó khăn và ngược lại.
Đến năm 2020 toàn tỉnh có 1. 263
lao động hoạt động khai thác nội đồng, phần lớn các ngư dân hoạt động khai thác
ở độ tuổi từ 35 – 55 này có trình độ học vấn và chuyên môn còn hạn chế, hoạt
động khai thác là nghề đem lại nguồn thu nhập chính cho gia đình.
II.2.2.
Sản lượng và giá trị sản xuất khai thác
v Sản
lượng khai thác thủy sản
Sản lượng khai thác tăng
hay giảm phụ thuộc vào phương thức khai thác, cường lực khai
thác, đối tượng, mùa vụ khai thác và trữ lượng thủy sản
vào thời điểm đó. Nhìn chung, trong 5 năm (2016 – 2020) sản lượng khai
thác thủy sản tỉnh Đồng Tháp có xu hướng tăng, cụ thể: Năm 2016 sản lượng đạt
16.577 tấn, chỉ sau 1 năm sản lượng tăng 582 tấn (2017), đến năm 2018 sản lượng
khai thác thu về 18.032 tấn tăng 873 tấn so với năm 2017, một trong những
nguyên nhân dẫn đến sản lượng khai thác tăng là do ở thời điểm này các hộ dân
sử dụng các ngư cụ có tính chọn lọc thấp như te, xiệt,… làm tăng sản lượng khai
thác lên.
Sản lượng năm 2019 có sự
biến động nhẹ, giảm 491 tấn bở năm 2018 nhà nước ban hành TT19/2018/TT-BNNPTNT
quy định về một số ngư cụ cấm khai thác làm giảm số lượng ghe, thuyền khai thác
tại địa phương. Đến năm 2020 sản lượng lại tăng lên 18.700 ha, mặc dù số lượng
ghe, thuyền vào năm 2020 có giảm so với những năm trước nhưng sản lượng khai
thác lại tăng cho thấy công tác quản lý hoạt động khai thác tại địa phương đạt
hiệu quả khi thực hiện các chủ trương của nhà nước về quy định các ngư cụ khai
thác.

Hình
5. Sản lượng KTTS Đồng Tháp GĐ 2016 -2020 (Nguồn:
Báo cáo hoạt động KTTS Sở NN&PTNN, 2021)
v Giá
trị sản xuất khai thác hải sản
Hoạt động khai thác
với quy mô nhỏ tuy nhiên giá trị đem lại khá cao, góp phần tăng trưởng GDP cho
tỉnh trong những năm vừa qua. Năm 2016 giá trị sản lượng đạt 353,38 tỷ đồng/
năm đến năm 2018 giá trị sản xuất tăng 45,121 tỷ đồng và giảm 10, 861 tỷ đồng
vào năm 2019 sau đó tăng lên 392,8 tỷ đồng vào năm 2020.
Bảng 11.
Giá trị sản lượng khai thác tỉnh Đồng Tháp GĐ 2016 -2020
(Nguồn: Báo cáo hoạt động KTTS, sở
NN&PTNN, 2021)
|
Nội dung
|
ĐVT
|
Năm
|
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
Giá trị sản lượng
|
Tỷ đồng
|
353,38
|
363,94
|
398,501
|
387,64
|
392,8
|
Giá trị sản xuất có xu hướng tăng
dần, đạt mức cao nhất vào năm 2020 cho thấy hoạt động khai thác thủy sản ngày
càng hiệu quả do một số chủ trương, chính sách của nhà nước và các định hướng
của tỉnh hướng đến phát triển nghề cá theo hướng bền vững, nâng cao vai trò bảo
vệ và phát triển nguồn lợi.
II.2.3.
Kết quả hoạt động khai thác thủy sản
v Đánh
giá hiệu quả hoạt động khai thác thủy sản
Trong những năm qua lượng
tàu thuyền tại tỉnh hoạt động các nghề cấm đã và đang trong quá trình cắt giảm
theo từng giai đoạn, Năm 2004 lượng ghe thuyền hoạt động khai thác tại tỉnh rất
lớn, có đến 10.123 ghe thuyền cho đến nay đã giảm còn 500 ghe, thuyền cho thấy
tỉnh đã thành công trong việc cắt giảm lượng tàu khai thác các nghề cấm, giảm
tác động đến nguồn lợi.
Tuy nhiên tình trạng hoạt
động nghề cấm tại địa phương vẫn còn tồn tại với các hình thức tinh vi hơn, đâu
đó vẫn tác động xấu đến nguồn lợi đặc biệt là những loài cá con như cá linh, cá
rô, cá ròng ròng,…
v Tổ chức sản xuất trong hoạt
động khai thác thủy sản
Tổ chức sản xuất trong
khai thác thủy sản còn thô sơ bởi quy mô khai thác ở phạm vi nhỏ, hoạt động
khai thác sẽ diễn ra trong ngày nên công tác tổ chức cho 1 chuyến khai thác rất
đơn giản, ngư dân chuẩn bị, kiểm tra trước ngư cụ đánh bắt, đổ đủ dầu cho ghe,
thuyền, thời gian khai thác thường ngắn từ 3 -4 tiếng hoặc trong ngày nên
thường cá ngư dân không đầu tư và chú trọng đến việc bảo quản sản phẩm khai
thác, các cá, tôm sau khi khai thác được đựng trong các khay, rổ thô sơ, số ít
có ướt đá.
Với tính chất khai thác nội
đồng nên việc việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, hậu cần nghề cá chưa được phát
triển tại địa phương, đa phần các ngư dân tại đây sử dụng các trang thiết bị
khai thác tự chế, các sản phẩm khai thác được cũng bán trong ngày nên công tác
bảo quản sản phẩm trên ghe sơ sài.
v Công
tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi
Công tác bảo vệ
nguồn lợi thủy sản đang được địa phương đặt biệt chú trọng, quan tâm với mục
tiêu bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản trong những năm qua tỉnh Đồng
Tháp đã đem lại một số kết quả đáng kể
v Hoạt
động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát xử lý vi phạm
Số đợt
kiểm tra, số vụ vi phạm, tổng số tiền xử phạt hành chính trong giai đoạn 2012 –
2020, thành lập trên 445 đợt thanh tra, kiểm tra liên ngành, đoàn liên tỉnh,
đoàn kết hợp với địa phương, đoàn phối hợp với lực lượng cảnh sát đường thủy,
cảnh sát môi trường đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai
thác thủy sản vi phạm pháp luật. Đã kiểm tra trên 6.000 trường hợp, xử lý trên
2.258 vụ vi phạm với tổng số tiền xử phạt VPHC là 932.400.000 đồng (chín trăm
ba mươi hai triệu, bốn trăm ngàn đồng).
Tỉnh đã
ban hành danh mục cấm khai thác thủy sản đối với các ngư cụ làm suy giảm NLTS
như: Cào gọng, đẩy te (xiệp), cào hến,…Nghiêm cấm đặt các ngư cụ tại điểm cố
định (chà, đăng, vó, nò, bò,…) để khai thác thủy sản trên 3 các sông, kênh,
rạch thuộc phạm vi tỉnh quản lý và quản lý nghiêm việc đặt ngư cụ Đáy khai thác
thủy sản trên các tuyến đường thủy nội địa,... Công tác thanh tra, kiểm tra
khai thác thủy sản đã xử lý, giáo dục, nhắc nhỡ các đối tượng vi phạm về kích
điện, kích thước mắc lưới nhỏ hơn quy định, mùa vụ, thời điểm cấm khai thác,...
v Công
tác thả giống, tái tạo phục hồi nguồn lợi
Hằng năm đều tổ
chức thả giống thủy sản quý hiếm bổ sung giống thủy sản vào thủy vực tự nhiên.
Theo dõi chặt chẽ tình trạng buôn bán, vận chuyển và lưu giữ cá con tại các chợ
trên địa bàn tỉnh. Các đối tượng được thả bổ xung như: Cá He vàng, Mè vinh, Hô,
Mè hôi, Cóc, cá Chài, Cá tra nghệ, Ét mọi, Thát lát cườm,...với 7.212.825 con
và 1.925 kg cá giống các loại. được thả tại Sông Tiền và Sông Hậu. Phối hợp
cùng với các đơn vị liên quan, giáo hội phật giáo thả phóng sanh hằng năm.
v Quản
lý nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn đất ngập nước:
Tăng cường công
tác kiểm tra nguồn lợi thủy sinh và bảo vệ NLTS tại các khu bảo tồn đất ngập
nước, thực hiện bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở Vườn Quốc gia Tràm Chim, sinh thái Rừng tràm Gáo Giồng (350 ha), Khu
du lịch Xẻo Quýt (10 ha),...nhằm khôi phục sinh cảnh, tạo môi trường sống, môi
trường sinh sản cho các loài thủy sản bản địa, qua đó bảo tồn gen những loài
thủy sản có giá trị kinh tế (cá dầy, cá hô, trê vàng, lươn, cá rô đồng, sặc
rằn,...). Phục hồi, tái tạo NLTS, đặc biệt là các giống loài thủy sản quý hiếm,
bảo vệ các hệ sinh thái thủy sinh tại các vùng nước nội địa.
II.3.
Chế biến thủy sản
II.3.1.
Thực trạng phát triển công nghiệp chế biến thủy sản
a) Về công nghiệp chế biến và nhu cầu nguồn nguyên liệu phục
vụ chế biến
Công nghiệp
chế biến của Đồng Tháp đã phát huy được thế mạnh có nguồn
nguyên liệu dồi dào và thị trường tiêu thụ tương đối thuận lợi. Giữ vai trò rất
quan trọng trong chế biến các sản phẩm xuất khẩu ở địa phương. Chế biến thủy
sản bao gồm các nhà máy và cơ sở chế biến cá tra xuất khẩu. Hàng năm chế biến
được khối lượng lớn thủy sản thành phẩm. Các ngành chế biến chủ lực gồm có:
đông lạnh, sản phẩm GTGT…
Tính đến
năm 2020, trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp có 30 nhà máy chế biến thủy sản. Tổng
công suất thiết kế của 30 nhà máy chế biến đạt 533.147 tấn thành phẩm/năm, tăng
gần 100.000 tấn so với năm 2016. Như vậy, với tổng sản lượng thành phẩm chế
biến của tỉnh năm 2020 là 262.665,35 tấn thì mức độ huy động công suất mới chỉ
đạt gần 50%. So với các năm trước đây (2010-2015), mức độ huy động công suất
vào chế biến được cải thiện song vẫn còn ở mức trung bình.
Bảng 12. Số lượng nhà máy thủy sản và công suất chế biến giai đoạn 2016-2020
(Nguồn: Sở Công thương tỉnh Đồng Tháp, 2021)
|
Danh mục
|
ĐVT
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
|
Số nhà
máy trực
|
Nhà máy
|
18
|
19
|
25
|
28
|
30
|
|
Công
suất thiết kế
|
Tấn/năm
|
430.000
|
440.000
|
440.000
|
447.200
|
533.147
|
|
Lao
động chế biến
|
Người
|
14.038
|
15.038
|
20.958
|
21.508
|
20.508
|
Các doanh nghiệp chế biến trên địa
bàn phần lớn nằm trong các khu, cụm công nghiệp của tỉnh, các vị trí nhà máy
chế biến tuân thủ đúng quy hoạch chung về mặt không gian, phù hợp với mỹ quan
đô thị và dễ dàng áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường tỉnh. Thành phố Sa
Đéc và Thanh Bình là hai nơi tập trung nhiều nhà máy chế biến nhất của tỉnh, Sa
Đéc 9 nhà máy, tổng công suất hơn 153.000 tấn/năm, tiếp đến là huyện Thanh Bình
với 8 nhà máy tổng công suất hơn 177.000 tấn/năm. Các huyện/thị khác mỗi
huyện/thị có từ 1 đến 2 nhà máy chế biến. Với tổng công suất đạt 541,417
tấn/năm. Các nhà máy chế biến thủy sản ở Đồng Tháp chủ yếu là nhà máy chế biến
cá tra.
Bảng 13. Cơ sở chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh
(Nguồn: Sở Công thương tỉnh Đồng Tháp, 2021)
|
STT
|
Tên doanh nghiệp
|
Công suất
(tấn thành phẩm /năm)
|
|
1
|
Công ty cổ phần nông nghiệp
Hùng Hậu-NM3
|
11.000
|
|
2
|
Công ty TNHH Thanh Hùng
|
10.000
|
|
3
|
Công ty TNHH Thực Phẩm
QVD
|
12.000
|
|
4
|
Công ty Cổ phần CB
& XNK Thủy sản CADOVIMEX II
|
30.000
|
|
5
|
Công ty Cổ phần XNK
Thủy sản Cửu Long
|
10.000
|
|
6
|
Công ty TNHH Hùng Vương
Sa Đéc
|
12.500
|
|
7
|
Công ty Cổ phần Thủy
sản Trường Giang
|
18.400
|
|
8
|
Công ty TNHH XNK Cỏ May
|
10.000
|
|
9
|
Công ty TNHH Hùng Cá
|
48.000
|
|
10
|
Công ty Cổ phần Phát
triển Hùng Cá 2
|
38.628
|
|
11
|
Công ty Cổ phần Hùng Cá
6
|
4.950
|
|
12
|
Công ty Cổ phần Thủy
sản số 4 - Đồng Tâm
(hiện Công ty CP Việt Hồng thuê lại)
|
7.726
|
|
13
|
Công ty Cổ phần Vạn Ý
|
27.600
|
|
14
|
Công ty TNHH MTV Thanh
Bình Đồng Tháp
|
33.522
|
|
15
|
Công ty Cổ phần
ĐT&PT đa quốc gia (I.D.I)
|
19.500
|
|
16
|
Công ty Cổ phần xuất
khẩu Thủy hải sản sạch
|
15.000
|
|
17
|
Công ty Cổ phần MTV
Vĩnh Phước
|
41.344
|
|
18
|
Công ty TNHH MTV chế
biến thủy sản Hoàng Long
|
34.320
|
|
19
|
Công ty TNHH thủy sản
PHÁT TIẾN
|
30.000
|
|
20
|
Công ty Cổ phần Vĩnh
Hoàn
|
61.404
|
|
21
|
Công ty Cổ phần Tô Châu
|
9.000
|
|
22
|
Công ty TNHH SXTM DV An
Ngọc
|
5.150
|
|
23
|
Công ty TNHH Thủy sản
Quốc tế
|
3.700
|
|
24
|
Công ty Cổ phẩn Thủy
sản Phát Tiến 2
|
18.428
|
|
25
|
Công ty TNHH Thủy sản
Hai Nắm
|
6.864
|
|
26
|
CN Công ty TNHH MTV Thủy
sản Vĩnh Tiến tại Đồng Tháp
|
5.063
|
|
27
|
Cty TNHH thực phẩm Sáng
Ngọc - CN Đồng Tháp
|
1.688
|
|
28
|
Công Ty TNHH MTV SXTM
Ngọc Kim Loan Việt Nam
|
6.240
|
|
29
|
Cty TNHH Nguyễn Khanh
|
400
|
|
30
|
Cty TNHH TMDV SX Hoàng
Quân Food
|
720
|
|
Tổng
|
533.147
|
c) Về năng lực, trình độ công nghệ chế biến
Về trình độ công nghệ của các nhà
máy chế biến trên địa bàn, đối với các dòng sản phẩm thô như fillet đông lạnh
thì thiết bị chế biến tương đối hiện đại. Tuy nhiên, để gia tăng giá trị chế
biến thì công nghệ chế biến sâu đang là thách thức đối với các doanh nghiệp
trên địa bàn. Để nâng cao khả năng cạnh tranh và gia tăng giá trị cho ngành chế
biến, thiết yếu các nhà máy chế biến cần phải đổi mới dây chuyền công nghệ,
chuyển dần từ chế biến thô sang chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng, đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
Chế biến cá tra là một trong những
ngành công nghiệp chủ lực của Đồng Tháp, ngành không chỉ đem lại giá trị xuất
khẩu lớn mà còn góp phần quan trọng vào giải quyết việc làm cho một lực lượng
lao động khá đông đảo.
d) Quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm trong chế
biến thủy sản
Công tác quản lý chất lượng và an
toàn vệ sinh thực phẩm dần được chú trọng và được áp dụng trong tất cả các khâu
trong chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ cá tra. Các tiêu chuẩn đang áp dụng
phổ biến là Global GAP, VietGAP, ASC và BAP; HACCP trong chế biến xuất khẩu.
Chất lượng và vệ sinh an toàn thực
phẩm nhìn chung đảm bảo do các nhà máy áp dụng quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn HACCP (Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn), Thực hành
sản xuất tốt (GMP); Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm (ISO 22000). Tuy nhiên,
sản phẩm xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô, còn đơn điệu, tỷ trọng sản phẩm có
giá trị gia tăng còn thấp dưới (20%). Công nghiệp chế biến của Đồng
Tháp đã phát huy được thế mạnh có nguồn nguyên liệu dồi dào và
thị trường tiêu thụ tương đối thuận lợi. Giữ vai trò rất quan trọng trong chế
biến các sản phẩm xuất khẩu ở địa phương.
Để đảm bảo chất lượng
ATVSTP đối với các sản phẩm thủy sản, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đồng Tháp đã
khuyến cáo người nuôi trong tỉnh nhiều biện pháp áp dụng các quy trình kỹ thuật
nuôi tốt (nuôi tôm theo hướng an toàn sinh học, VietGAP… và tham gia các lớp
tập huấn về kiến thức đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Địa điểm nuôi nằm
trong vùng quy hoạch, không bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, sinh hoạt.
Các khu vệ sinh và công trình bố trí xa khu vực nuôi. Tính đến nay trên toàn
tỉnh, diện tích đã được chứng nhận các tiêu chuẩn an toàn trong nuôi trồng thủy
sản là hơn 723 ha; trong đó, cá tra là 642 ha được chứng nhận tiêu chuẩn
VietGAP, GlobalGAP, BAP và ASC; tôm càng xanh có 81,56 ha đã được chứng nhận
VietGAP; cá rô phi, diêu hồng được chứng nhận tiêu chuẩn ASC, GlobalGAP và BAP
với 44,863 m3/150 bè và chứng nhận VietGAP trên cá diêu hồng là 55
lồng, bè/10.583m3.
Ngày 22/5/2020, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đã ký Quyết định số 1802/QĐ-BNN-QLCL ban hành “Chương trình kiểm
soát An toàn thực phẩm cá và các sản phẩm cá bộ Siluriformes xuất khẩu sang thị
trường Hoa Kỳ”; đối với các cơ sở nuôi, vận chuyển, chế biến, bảo quản, xuất
khẩu cá da trơn sang thị trường Hoa Kỳ bắt buộc phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm
ngặt theo quy định của nước nhập khẩu, được các cơ quan thẩm quyền liên quan
đến kiểm soát điều kiện đảm bảo ATTP quản lý. Tính đến nay, có 38 cơ sở vùng
nuôi đã được kiểm tra, 12 cơ sở đạt loại A, 26 loại B và cấy Giấy chứng nhận cơ
sở nuôi đủ điều kiện ATTP là 19 (đạt 50%).
II.3.2. Sản lượng thủy sản và sản phẩm GTGT
a) Về sản lượng chế biến thủy sản
Trong giai đoạn
2016-2020, sản lượng chế biến thủy sản giảm mạnh. Tốc độ tăng trưởng XK giảm về
sản lượng cả giai đoạn là -11%, giảm từ 296.5501,84 (2016) xuống còn 262.665,35
(2020). Năm 2020 tổng sản lượng đạt 565.837 tấn, trong đó sản lượng xuất khẩu
đạt 262.665,35 tấn với giá trị 43.744.629,10 triệu USD, còn lại là tiêu thụ nội
địa. Đồng Tháp hiện còn tồn 50.000 tấn thủy sản, trong đó hơn 30.000 tấn cá
tra, còn lại là cá lồng bè. Nguyên nhân là dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ở
Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, TP HCM... kéo dài nhiều tháng, làm ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa. Đặc biệt, dịch bệnh cũng
khiến hoạt động xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp thuỷ sản trên thị trường chậm
lại.
Bảng 14.
Sản lượng thủy sản và cơ cấu các loại thủy sản 2016-2020
(Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của
NGTK tỉnh Đồng Tháp, 2020)
|
Danh mục
|
ĐVT
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
Tốc độ tăng
(%/năm)
|
|
Cá
|
Tấn
|
482.469
|
516.318
|
538.185
|
574.100
|
562.124
|
4%
|
|
Tôm
|
Tấn
|
1.776
|
1.548
|
1.556
|
1.618
|
1.619
|
2%
|
|
Thủy
sản khác
|
Tấn
|
6.875
|
7.947
|
8.363
|
8.545
|
2.034
|
-13%
|
|
Tỷ
trọng
|
%
|
100
|
100
|
100
|
100
|
100
|
|
|
Cá
|
%
|
98,2%
|
98,2%
|
98,2%
|
98,3%
|
99,4%
|
|
|
Tôm
|
%
|
0,4%
|
0,3%
|
0,3%
|
0,2%
|
0,2%
|
|
|
Thủy
sản khác
|
%
|
1,4%
|
1,5%
|
1,5%
|
1,5%
|
0,4%
|
|
Sản phẩm chế biến chủ yếu
của tỉnh là cá tra, ngoài ra còn tôm càng xanh và thủy sản khác nhưng không
đáng kể. Những năm gần đây, tỷ trọng cá tra chiếm ưu thế, đặc biệt năm 2020 sản
lượng cá tra chiếm tới 99,4%. Sản lượng tôm càng xanh giảm dần từ 0,4% (năm
2016) xuống còn 0,2% (năm 2020). Đặc biệt, thủy sản khác trung bình tốc độ tăng
trưởng giảm mạnh (-13%) và khác giảm mạnh chỉ còn ở mức 0,4% (năm 2020). Một số
mặt hàng thủy hải sản như cá lóc, cá điêu hồng cũng đóng góp vào tỷ trọng sản
phẩm chế biến.
b) Chế biến sản phẩm GTGT
Hiện nay, tỉnh có 11 nhà máy chế
biến phụ phẩm chủ yếu là từ cá tra, hầu hết các phụ phẩm này đều được tái sản
xuất để sản xuất ra những sản phẩm giá trị gia tăng như collagen, dầu cá, bột
cá, mỡ cá,…với công suất thiết kế khoảng 350.000 tấn/năm, với công suất này
hàng năm cho ra thị trường khoảng 80.000 tấn bột cá, mỡ cá; khoảng 1.800 tấn
collagen và 17.700 tấn dầu cá.
II.3.3.
Liên kết sản xuất, tiêu thụ thủy sản
a) Hình thành chuỗi giá trị nguyên
liệu – sản xuất – tiêu thụ sản phẩm thủy sản
Các hộ nuôi nhỏ đã thực hiện các
liên kết ngang và liên kết dọc trong cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm.
84,2% các hộ nuôi có liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm và 87,5% hộ
nuôi có liên kết với các nhà máy chế biến thức ăn hoặc đại lý cung ứng thức ăn,
vật tư thủy sản. Các hộ không đủ điều kiện đã chuyển nuôi gia công cho doanh
nghiệp. Do yêu cầu của thị trường nhập khẩu ngày càng cao về chất lượng, an
toàn vệ sinh thực phẩm, và truy xuất nguồn gốc, người nuôi cá đang chịu áp lực
của nhiều bộ tiêu chuẩn quốc tế và trong nước.
b) Các thị trường tiêu thụ và giá
trị kim ngạch xuất khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu và sản
lượng xuất khẩu trong giai đoạn 2016-2020 tăng. Cụ thể tốc độ tăng trưởng trung
bình của kim ngạch xuất khẩu tốc độ tăng trưởng TB là 6%/năm, của sản lượng
xuất khẩu là -2%. Trong đó, giai đoạn 18-19 KNXK
thủy sản tăng trưởng mạnh mẽ xấp xỉ 1 tỷ USD/năm, tuy nhiên do ảnh hưởng của
dịch Covid năm 2020 KNXK giảm xuống kéo theo giai đoạn 16-20 chỉ còn tăng
trưởng 6%/năm. Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu chỉ còn chủ yếu là cá tra, còn
tôm càng xanh giảm sâu chỉ còn chiếm tỉ lệ rất ít (chưa đến 0,3% sản lượng). Tốc
độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng sản lượng xuất khẩu giảm nhẹ
(-2%), qua đó có thể thấy rằng giá trị của sản phẩm xuất khẩu đã được gia tăng,
sản phẩm XK có giá thành cao hơn, đây cũng là tín hiệu đáng mừng cho ngành xuất
khẩu thủy sản ở Đồng Tháp.
Đến năm 2021, Đồng Tháp nằm top 5
địa phương đứng đầu về xuất khẩu cả nước chiếm tỉ lệ là 8,4% giá trị XK thủy
sản của cả nước với 764 triệu USD. Sản xuất thủy sản theo chuỗi giá trị ngành
hàng tiếp tục phát huy, đi dần theo chiều sâu.
Bảng 15.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2016-2020
(Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Sở
Công Thương, 2020)
|
Danh mục
|
ĐVT
|
2016
|
2017
|
2018
|
2019
|
2020
|
Tốc độ tăng trưởng TB
(%/năm)
|
|
Tổng
kim ngạch xuất khẩu
|
Tr.USD
|
612,2
|
723,1
|
941,0
|
923,1
|
720,4
|
6%
|
|
Sản
lượng xuất khẩu
|
Tấn
|
296.501,84
|
283.258,53
|
289.973,46
|
293.281,32
|
262.665,35
|
-2%
|
|
Tổng
kim ngạch xuất khẩu
|
%
|
100,0
|
100,0
|
100,0
|
100,0
|
100,0
|
|
|
Châu Á
|
nt
|
35,51
|
36,59
|
38,84
|
50,01
|
46,88
|
|
|
Châu
Âu
|
nt
|
16,62
|
13,74
|
12,64
|
13,77
|
15,76
|
|
|
Châu
Phi
|
nt
|
1,67
|
1,80
|
1,37
|
1,76
|
1,26
|
|
|
Châu
Mỹ
|
nt
|
44,54
|
45,00
|
44,59
|
31,60
|
32,57
|
|
|
Châu
Đại Dương
|
nt
|
2,49
|
2,21
|
2,21
|
2,74
|
3,53
|
|
|
Ủy
thác xuất khẩu
|
nt
|
1,16
|
0,65
|
0,35
|
0,11
|
0,00
|
|
Châu Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn
nhất chiếm tỷ trọng 44,54% (năm 2020), tiếp đến là thị trường Châu Á chiếm
35,51% (năm 2020). Xuất khẩu chủ yếu là cá tra, sang Châu Mỹ chủ yếu là thị
trường Mỹ và Brazil, trong khi thị trường Châu Âu chủ yếu là Đan Mạch, Hy Lạp, Lithuania, Romania và Thụy Điển, Bồ Đào
Nha, Anh, Đông Âu. Xuất khẩu cá tra sang Châu Á như Nhật, ASEAN chủ yếu
là Thái Lan, Indonesia, Philippines.
Xuất
khẩu cá tra sang Trung Quốc giảm mạnh bởi nước này siết chặt quy định kiểm dịch
Covid-19 với các mặt hàng thủy sản đông lạnh. Ngược lại, tình hình xuất khẩu cá
tra sang Mỹ có phần khả quan hơn do nhu cầu tiêu thụ tăng đột biến sau khi nền
kinh tế nước này mở cửa trở lại. Tuy nhiên, cá tra thương phẩm cỡ 800 g –
1.000g, cỡ cá được ưa chuộng để sản xuất phi lê cá tra xuất khẩu sang Châu Âu
và Mỹ đang có nguy cơ bị thiếu hụt trong thời gian tới. Phần lớn cá tra vẫn còn
trong ao, lớn quá cỡ trong khi các doanh nghiệp chế biến thủy sản đã sử dụng
hết công xuất kho trữ đông lạnh. Bên cạnh đó, cước vận chuyển đường biển tiếp
tục tăng, công-ten-nơ trống chở hàng vẫn thiếu, thị trường EU vẫn đặt ra nhiều
khó khăn cho cá tra…

Hình 6. Biểu đồ cơ
cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Đồng Tháp từ năm 2016 – 2020
(Nguồn: nhóm thực hiện nghiên cứu Quy hoạch thủy sản tỉnh Đồng Tháp,
2021)
II.4.
Cơ sở hạ tầng trong phát triển thuỷ sản của tỉnh
II.4.1.Trong khai thác, thủy sản.
a) Bến đậu ghe thuyền
Do đặc thù nghề cá của địa phương
chỉ tồn tại hình thức khai thác nội đồng nhỏ lẻ, chủ yếu trên các sông ngòi,
kênh rạch. Bên cạnh đó, các ghe thuyền chủ yếu khai thác về phục vụ cuộc sống
gia đình là chính và có bán ra ngoài một phần, nên cũng chỉ tồn tại một số khu
vực tập trung ghe thuyền và thu gom cá có quy mô nhỏ bến cá nhân dân, nằm gần
các chợ trung tâm, đầu mối giao thông giữa đường thủy và bộ.
b) Đóng sửa ghe thuyền
Hoạt động đóng sửa ghe thuyền theo
phương pháp thủ công truyền thống ở các cơ sở mộc gia dụng chuyên nghiệp và bán
chuyên nghiệp. Ghe thuyền vỏ gỗ được đóng ở Đồng Tháp là các phương tiện nhỏ,
tải trọng chủ yếu dưới 6 tấn và phục vụ cho cả chức năng giao thông lẫn hoạt
động khai thác thủy sản. Các cơ sở đóng, sửa tập trung chủ yếu ở Tp. Cao Lãnh
và rải rác ở các huyện trong tỉnh.
c) Chế tạo và sửa chữa máy móc thiết bị động lực
Hiện tại, ở Đồng Tháp không có các
cơ sở chế tạo, sửa chữa cơ khí riêng cho thủy sản. Các hoạt động cơ khí thủy
sản nằm chung trong cơ khí nông nghiệp, dân dụng.
Các cơ sở sửa chữa cơ khí ghe
thuyền nói chung tập trung ở Tp. Cao Lãnh và khu vực trung tâm các huyện, chủ
yếu là các cơ sở nhỏ có quy mô vài ba nhân công và trang thiết bị rất thiếu
thốn. Năng lực sửa chữa thường ở mức trung tu, sửa chữa nhỏ.
d) Vật tư, thiết bị phục vụ khai thác thuỷ sản
Dịch vụ vật tư, thiết bị phục vụ
KTTS có ở Tp. Cao Lãnh, các trung tâm huyện và rải rác ở các chợ xã với các sản
phẩm nhập tỉnh chủ yếu như: Dây, lưới, sợi, lưỡi câu, máy móc động lực… và các
sản phẩm thủ công được gia công sản xuất tại chỗ như giỏ đựng cá, lờ, bóng,
chài… Nhìn chung, dịch vụ, thiết bị cho khai thác còn nghèo nàn chỉ đáp ứng
được cho các hoạt động của nghề cá truyền thống.
II.4.2.
Trong NTTS: Hệ thống giao thông, thủy lợi, cung cấp điện, hệ thống xử lý nước
thải,... phục vụ cho hoạt động NTTS của tỉnh trong thời gian qua.
a) Hệ thống thuỷ lợi
Tỉnh Đồng Tháp có hệ thống kênh
rạch khá thuận lợi cho việc phát triển thủy sản. Hệ thống hai sông lớn là Sông
Hậu, sông Tiền; cùng một số các kênh, rạch nhỏ như kênh Lấp Vò, kênh Tân Thành,
Hồng Ngự, Đồng Tiến,... đều là các sông, kênh chính bao quanh và xuyên ngang
tỉnh Đồng Tháp. Trong nội đồng có hệ thống kênh ngang dọc với mật độ khá dày.
Mật độ kênh rạch khoảng 67m/ha, trong đó kênh trục 10,8 m/ha, nội đồng 56m/ha.
Hệ thống cống cấp thoát được các cơ
sở, doanh nghiệp đầu tư riêng biệt, tuy nhiên nước thải đa phần không qua hệ
thống ao hay kênh xử lý mà thải trực tiếp ra sông. Ngoài ra bên cạnh việc cấp
thoát nước tự chảy cho các ao nuôi đa phần các cơ sở, doanh nghiệp nuôi trồng
thuỷ sản và chủ yếu là cá tra đều dùng bơm động lực để chủ động bổ sung cấp
thoát nước cho các ao nuôi vào thời kỳ nước kém.
- Toàn tỉnh Đồng Tháp có 833 công
trình kênh trục và các kênh dẫn cấp II, III, IV với chiều dài khoảng 4.073 km
phục vụ sản xuất, nuôi trồng thủy sản; ngoài ra còn có hệ thống kênh nội đồng
với chiều dài khoảng 5.445 km.
- Các kênh đan xen với nhau tạo
thành các ô bao bảo vệ sản xuất độc lập, toàn tỉnh có 1.319 ô bao tiểu vùng
khép kín, với chiều dài 8.105 km, trong đó có 1.102 ô bao triệt để, với chiều
dài 6.303 km và 217 ô bao chống lũ tháng 8 (bảo vệ lúa Hè Thu).
- Hệ thống cống điều tiết nước là
2.616 cống các loại.
- Hệ thống trạm bơm phục vụ tưới,
tiêu là 1.219 trạm bơm điện.
Các sông kênh rạch chính: Có 15
sông rạch nội tỉnh thuộc lưu vực sông lớn Mekong với tổng chiều
dài 266km; trong đó có 2 sông xuyên biên giới Sở Thượng và Sở Hạ
với tổng chiều dài 58km.
Bảng 16.
Các sông kênh rạch chính tỉnh Đồng Tháp
(Nguồn: Danh mục lưu vực sông nội
tỉnh theo Quyết định số 341/QĐ-BTNMT ngày 23/03/2012 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường)
|
STT
|
Tên
sông, rạch
|
Chảy
ra
|
Thuộc
hệ thống
|
Chiều dài (km)
|
|
1
|
Sông
Sở Thượng
|
Sông
Tiền
|
Sông
Mekong
|
16
|
|
2
|
Rạch
Ba Răng
|
Sông
Tiền
|
Sông
Mekong
|
15
|
|
3
|
Rạch
Tân Thành
|
Sông
Tiền
|
Sông
Mekong
|
14
|
|
4
|
Rạch
Đốc Vàng Hạ
|
Sông
Tiền
|
Sông
Mekong
|
12
|
|
5
|
Sông
Cao Lãnh
|
Sông
Tiền
|
Sông
Mekong
|
18
|
|
6
|
Sông
Đình Trung
|
Sông
Tiền
|
Sông
Mekong
|
17
|
|
7
|
Sông
Cần Lố
|
Sông
Tiền
|
Sông
Mekong
|
15
|
|
8
|
Rạch
Ngó Cỏi
|
Sông
Tiền
|
Sông
Mekong
|
10
|
|
9
|
Sông
Sở Hạ
|
Sông
Sở Thương
|
Sông
Mekong
|
42
|
|
10
|
Sông
Cái Tàu
|
Sông
Sa Đéc
|
Sông
Mekong
|
13
|
|
11
|
Kênh
Sa Rài
|
Kênh
Trung Ương
|
Sông
Mekong
|
17
|
|
12
|
Kênh
Phú Hiệp
|
K.
Dương Văn Dương
|
Sông
Mekong
|
18
|
|
13
|
K.
Nguyễn Văn Tiếp
|
K.
Dương Văn Dương
|
Sông
Mekong
|
26
|
b) Hệ thống điện
Hiện nay, tỉnh Đồng Tháp chủ yếu
được cấp điện từ hệ thống điện quốc gia, trong đó nguồn điện chính là các nhà
máy sau: Nhà máy điện tua bin khí chu trình hỗn hợp Cà Mau, gồm 2 cụm, công
suất mỗi cụm là 750MW; Nhà máy nhiệt điện Ô Môn gồm 2 tổ máy, mỗi tổ máy công
suất 330MW; Nhà máy điện Cần Thơ 167MW gồm có 4 tổ tuốc bin khí, công suất khả
dụng 134MW và 1 tổ tuốc bin hơi công suất 33MW.
Các nhà máy này hiện tại đều phát
điện lên lưới điện quốc gia tại cấp điện áp 220kV, và là nguồn cấp cho các trạm
biến áp 220kV trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hoặc khu vực lân cận.
Nguồn điện độc lập trên địa bàn
tỉnh chỉ còn duy nhất cụm diesel tại thành phố Cao Lãnh công suất lắp đặt
3x400kW, công suất khả dụng 450kW, tuổi thọ trên 30 năm, hiện tại đã ngưng vận
hành.
Bên cạnh đó, tỉnh còn được cấp điện
từ các trạm biến áp 220kV như:
- Trạm biến áp Cao Lãnh 2 220/110 –
2x250MVA, đặt tại huyện Cao Lãnh, nhận điện từ đường dây 220kV Cai Lậy – Cao
Lãnh 2 – Thốt Nốt 2. Trạm 220kV Cao Lãnh 2 là nguồn điện cấp cho các trạm 110kV
của tỉnh Đồng Tháp như: Cao Lãnh, Trần Quốc Toản, An Long, Tháp Mười, Hồng Ngự,
Thạnh Hưng, An Hòa, Sa Đéc.
- Trạm biến áp 220/110kV Vĩnh Long
2 – 2x250MVA, đặt tại tỉnh Vĩnh Long, nhận điện từ đường dây 220kV Cai Lậy –
Vĩnh Long 2 và Ô Môn – Vĩnh Long 2. Trạm 220kV Vĩnh Long 2 là nguồn cấp điện
cho các trạm 110kV thuộc tỉnh Đồng Tháp như: Nha Mân, Sa Đéc, An Hòa, Thạnh
Hưng.
- Trạm biến áp 220/110kV KCN Sa Đéc
– 1x250MVA, được đặt tại thành phố Sa Đéc (dự kiến đưa vào vận hành cuối năm
2017), nhận điện từ đường dây 220kV Ô Môn – KCN Sa Đéc và Vĩnh Long 2 – KCN Sa
Đéc. Trạm 220kV KCN Sa Đéc là nguồn cấp điện cho các trạm 110kV thuộc tỉnh Đồng
Tháp như: Sa Đéc, An Hòa, Nha Mân.
- Trạm biến áp Ô Môn 220/110 –
2x125, đặt tại nhà máy điện Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Trạm 220kV Ô Môn là nguồn
cấp điện cho các trạm 110kV thuộc tỉnh Đồng Tháp như: Sông Hậu, Sa Đéc, An Hòa.
Tỉnh còn có 2 tuyến đường dây 220kV
đi ngang qua, trong đó đường dây 220kV Cai Lậy – Ô Môn đi qua các huyện Châu
Thành, Lai Vung và thành phố Sa Đéc; đường dây 220kV Cai Lậy – Cao Lãnh 2 –
Thốt Nốt 2 đi qua huyện Cao Lãnh, huyện Lấp Vò và huyện Lai Vung.
Các trạm biến áp Cao Lãnh, An Long,
Hồng Ngự, Trần Quốc Toản, Tháp Mười cấp điện cho khu vực Bắc sông Tiền tỉnh
Đồng Tháp, còn các trạm Sa Đéc, An Hòa, Thạnh Hưng, Nha Mân và Sông Hậu cấp
điện cho vùng phía Nam Sông Tiền thuộc tỉnh Đồng Tháp.
Nhìn chung, hệ thống điện trong
những năm qua trên địa bàn tỉnh đã được đầu tư khá nhiều đến các ấp, xã và các
trục giao thông nên hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và phát triển thủy
sản cho tỉnh. Như một số khu nuôi thâm canh tập trung ven trục giao thông chính
đã được đầu tư hệ thống điện 3 pha phục vụ bơm nước cho các ao nuôi, tuy nhiên,
bên cạnh đó một số khu nuôi nhỏ lẻ nằm ở xa trục lộ chính vẫn còn gặp ít khó
khăn về nguồn điện 3 pha, chưa được đáp ứng tốt tốt để phục vụ sản xuất.
c) Hệ thống giao thông
v Đường bộ
Hệ thống đường Quốc lộ (QL)
đi qua địa phận tỉnh hiện có 06 tuyến với tổng chiều dài khoảng
247km, cụ thể gồm: QL.30 dài khoảng 111,5 km, QL.54 dài khoảng 31,5km,
QL.80 dài khoảng 48,0km, đường N2 dài khoảng 7km, đường Hồ Chí Minh
dài khoảng 23,0km và N2B dài khoảng 26km (tuyến nối cầu Cao Lãnh -
cầu Vàm Cống). Hiện tại, các tuyến N2B (đường cấp II), QL.80 (đường
cấp III), các tuyến Hồ Chí Minh (đoạn Mỹ An - QL.30), đường N2, QL.54
(đường cấp IV), cơ bản đã đầu tư hoàn chỉnh nền đường, mặt
đường cơ bản đảm bảo được khả năng thông hành trên tuyến. Riêng
tuyến QL.30: Đoạn An Hữu - Cao Lãnh đang được Bộ Giao thông vận tải
xây dựng tuyến mới song song với đường hiện hữu (nối vào cao tốc
Trung Lương - Mỹ Thuận); QL30 đoạn Thành phố Cao Lãnh - Thành phố
Hồng Ngự đang triển khai thi công nâng cấp mở rộng mặt đường, dự
kiến sẽ hoàn thành trong năm 2021.
Hiện trên toàn tỉnh có 17
tuyến Tỉnh lộ đang khai thác với tổng chiều dài khoảng 355km (tuyến
vành đai ĐT.848 và ĐT.852B đoạn từ ĐT.849 đến ĐH.64 mới đưa vào khai
thác). Trong đó đường cấp III đồng bằng có 04 tuyến gồm ĐT.848 đoạn giao
QL.80 đến phà Cao Lãnh; vành đai ĐT.848; ĐT.851 và ĐT.852B đoạn từ
ĐT.849 đến ĐH.64. Còn lại là đường cấp IV. Đa phần các tuyến đường
Tỉnh lộ đã được đầu tư hoàn chỉnh phần nền đường, mặt đường
láng nhựa đảm bảo giao thông thuận lợi.
Một số tuyến đường tỉnh đang
triển khai thực hiện đầu tư xây dựng mới, nâng cấp cải tạo như:
Đường ĐT.850, ĐT.856, ĐT.844 thuộc dự án Hê ̣thống giao thông kết
nối ha ̣tầng du lic̣h và nông nghiêp̣ tin̉h Đồng Tháp; đường ĐT.846
đoạn Mỹ An - Bằng Lăng;....Ngoài ra có 79 tuyến huyện lộ với chiều
dài 807 km hiện nay đã được đầu tư từ cấp V trở lên.
Hệ thống giao thông trên địa
phận tỉnh Đồng Tháp khá phong phú. Các tuyến đường được nâng cấp mặt
đường khá tốt, nhìn chung giao thông bộ đáp ứng nhu cầu phát triển thủy sản.
v Đường thuỷ
Mạng giao thông thủy
trên sông Tiền, sông Hậu nối Đồng Tháp với Tp. Hồ Chí Minh và các
tỉnh trong khu vực, tạo điều kiện thuận lợi trong giao thương với
các tỉnh vùng ĐBSCL và mở rộng đến các tỉnh của Campuchia.
- Đường thuỷ nội địa
Quốc gia: Qua địa phận tỉnh Đồng Tháp có 12 tuyến đường thuỷ nội
địa quốc gia dài khoảng 417,5 km được phân bố theo trục ngang Đông -
Tây gồm: kênh Hồng Ngự - Vĩnh Hưng, kênh Đồng Tiến, kênh Nguyễn
Văn Tiếp A và theo trục dọc Bắc - Nam gồm: sông Tiền, sông Hậu và
trục Phước Xuyên - 4 Bis. Ngoài ra, Tỉnh đang đề xuất Tuyến Mương
Khai - Đốc Phủ Hiền do Tỉnh quản lý chuyển thành tuyến đường thuỷ
do Trung ương quản lý, quy hoạch đạt cấp III-đường thủy nội địa.
Hiện nay, Bộ Giao thông vận tải đang giao cho Ban quản lý các dự án
đường thuỷ đề xuất chủ trương đầu tư dự án Nâng cấp kênh Mương
Khai - Đốc Phủ Hiền.
- Đường thuỷ nội địa
địa phương: Hiện tại, Tỉnh đang quản lý 27 tuyến đường thủy nội
địa với chiều dài khoảng 725,9km và khoảng 1.300 km đường thủy nội
địa do cấp huyện quản lý; đa phần các tuyến đường thuỷ nội địa
địa phương hiện trạng chỉ đạt cấp V, IV.
Mạng đường sông tương đối
dày và mặt cắt lớn, đáp ứng nhu cầu vận chuyển đường thủy phục vụ phát triển
thủy sản. Đặc biệt, mạng đường thủy đáp ứng rất tốt cho ghe “đục” đi thu mua cá
tra.
II.5.
Đánh giá hiện trạng thủy sản giai đoạn 2016 – 2020
II.5.1.
Các kết quả đạt được
- Người nuôi
cũng ngày càng quan tâm hơn đến yếu tố chất lượng sản phẩm, đã từng bước áp dụng
các quy trình nuôi sạch như Global GAP, ASC, Việt GAP,... nhằm đạt những tiêu
chuẩn tốt nhất, tăng thế cạnh tranh khi tiêu thụ.
- Việc cung
ứng con giống thả nuôi đã được các cơ sở sản xuất trong tỉnh cho sản xuất và
ương nuôi khá hoàn thiện, tạo ra con giống khỏe mạnh cung cấp đầy đủ cho hộ
nuôi thương phẩm.
- Ngành công nghiệp chế biến thủy sản và chế biến thức ăn thủy sản phát
triển khá tốt trên địa bàn tỉnh với số lượng lớn các nhà máy phục vụ nhu cầu
đầu vào cho sản xuất nuôi cá tra và chế biến tiêu thụ cá tra thành phẩm.
- Hiện nay,
chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trong nuôi trồng thủy sản (chủ yếu cá tra),
chế biến thủy sản ngày càng nâng cao, đang chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông
nghiệp sang phi nông nghiệp. Cụ thể: Đối với người tham gia hoạt động sản xuất
cá tra, chế biến thủy sản, đa số công nhân kỹ thuật có trình độ từ trung cấp
trở lên. Riêng nguồn nhân lực tham gia sản xuất các đối tượng thủy sản khác đa
số có trình độ giáo dục phổ thông. Ngoài ra, các đối tượng này đã được địa
phương đào tạo, tập huấn cho lực lượng lao động trực tiếp sản xuất tại các nông
hộ, trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản.
- Một số
giống loài thủy sản quý hiếm (như cá hô, cá he vàng, cá trê,…) có nguy cơ tuyệt
chủng đã được các Viện, Trường, tổ chức cá nhân nghiên cứu sản xuất giống đã
đưa ra nuôi thành công.
- Hệ thống
CSHT phục vụ phát triển thuỷ sản đang được đẩy mạnh đầu tư, cụ thể giai đoạn
2015 - 2020 tỉnh và các địa phương tranh thủ các nguồn vốn Trung ương, ngân
sách Tỉnh và nguồn vốn cấp bù miễn thủy lợi phí, vốn Nghị định 35 để đầu đầu tư
nâng cấp hệ thống thủy lợi tạo nguồn phục vụ tưới tiêu, nước sinh hoạt và nuôi
trồng thủy sản kết hợp giao thông nông thôn với tổng kinh phí 1.075,5 tỷ đồng.
- Ngoài hệ
thống kênh trục tạo nguồn các hệ thống công trình kênh dẫn tạo nguồn, bờ bao,
cống điều tiết, kênh nội đồng cũng được đầu tư nâng cấp theo phương châm nhà
nước và nhân dân cùng làm.
II.5.2.
Những hạn chế, khó khăn
- Tuy các cơ quan quản lý
ngành thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn các quy định của pháp luật hiện hành
liên quan lĩnh vực thủy sản, nhưng việc chấp hành các quy định này của người
nuôi chưa nghiêm (do tình hình tiêu thụ khó khăn, chủ yếu sản xuất dựa vào kinh
nghiệm). Điển hình là hiện nay toàn tỉnh Đồng Tháp có khoảng 1.357 cơ sở sản
xuất, ương dưỡng giống thủy sản nhưng chỉ có 35/1.357 cơ sở được cấp Giấy chứng
nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất (trong đó 21/1.180 cơ sở cá tra; 14/23 cơ sở
tôm càng xanh).
- Về sản xuất giống, mối
liên kết giữa các cơ sở sản xuất giống và vùng nuôi, doanh nghiệp nuôi cá tra
thương phẩm còn thiếu chặt chẽ.
- Việc sản xuất con giống
gắn với nuôi thương phẩm đến nay vẫn chưa có hình thức liên kết ổn định, vì vậy
luôn tìm ẩn các mối nguy mất cân đối cung cầu
- Các dự án, đề tài
nghiên cứu khoa học về bảo tồn và phát triển NLTS chưa nhiều, việc triển khai
chuyển giao còn chưa hiệu quả.
- Các
sản phẩm cá tra xuất khẩu hiện nay phụ thuộc quá nhiều vào nhà nhập khẩu: yêu
cầu chất lượng sản phẩm chế biến phải đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm
và truy xuất nguồn gốc; tình trạng kinh tế của thị trường nhập khẩu, đã dẫn đến
tình trạng phát triển một cách bất bình thường, không bền vững theo tiến trình
phát triển đã được định hướng.
- Chưa
quản lý được chất lượng, giá cả các yếu tố đầu vào của chuỗi sản xuất: con
giống, thức ăn, thuốc và hóa chất thủy sản; trong đó, thức ăn và thuốc, hóa
chất thủy sản lại bị phụ thuộc vào thị trường nước ngoài, giá thành sản xuất cá
tra tăng trong khi không kiểm soát được giá bán cá tra nguyên liệu và thành
phẩm, người nuôi thua lỗ không có khả năng tái đầu tư nên làm diện tích và sản
lượng nuôi ở địa phương đó phát triển không ổn định.
- Tuy hệ
thống CSHT phục vụ thuỷ sản đặc biệt là hệ thống thuỷ lợi đang được chú trọng
đầu tư nhưng do nguồn vốn đầu tư hạn chế nên nhà nước chỉ
đầu tư một phần (đầu tư xây dựng lần đầu hoặc đầu tư các kênh nội đồng tưới
tiêu chính), còn lại phần lớn là do các tổ chức làm dịch vụ bơm tưới đầu tư và
thực hiện duy tu, sửa chữa.
Chương III:
CÁC DỰ BÁO LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN THỦY SẢN TỈNH ĐỒNG
THÁP ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN 2050
III.1.
Dự báo phát triển
III.1.1.
Tiềm năng phát triển cá tra và thủy sản khác ở tỉnh Đồng Tháp
Cá tra buổi ban đầu là đối tượng
sống tự nhiên trên sông Mekong, được người dân vớt nuôi trong lồng, bè, sau đó
được chuyển lên nuôi trong ao hầm, là đối tượng thuỷ sản nước ngọt được nuôi
chủ lực của tỉnh Đồng Tháp. Ðây là loài cá có tính thích nghi rộng, chịu đựng
được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường. Trong khi đất đai tỉnh Đồng
Tháp được thiên nhiên ưu đãi với phần lớn diện tích của tỉnh Ðồng Tháp nằm giữa
2 con sông Tiền và sông Hậu, trong đó có 70.000 ha có khả năng NTTS, đặc biệt
là bãi bồi, ao hầm, có nguồn nước ngọt dồi dào và được nước lũ bồi bổ, nuôi
dưỡng, làm sạch môi trường nên Ðồng Tháp là tỉnh có tiềm năng rất lớn trong
việc phát triển nuôi cá tra chất lượng phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất
khẩu. Bên cạnh đó, một số đối tượng thủy đặc sản như cá điêu hồng, cá lóc cũng
là các đối tượng tiềm năng.
III.1.2.
Dự báo về thị trường tiêu thụ và sản phẩm chế biến chủ lực
Theo dự báo mức tiêu
thụ thủy sản ở thị trường Việt Nam trong thời gian tới phụ thuộc chủ yếu vào
hai yếu tố đó là sự gia tăng dân số và tăng thu nhập bình quân đầu người qua
các năm.
Theo Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, dân số toàn quốc dự báo đến năm 2030 ở mức
102,9 triệu người. Như vậy với tốc độ tăng dân số như trên và với mức tiêu dùng
thủy sản đầu người 36,6/kg/người/năm thì mức tiêu thụ thủy sản toàn quốc đến
năm 2030 đạt khoảng 3,7 triệu tấn.
Theo Quyết
định số 147/QĐ-TTg ngày 22 tháng 1 năm 2020 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2030 thì khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 là 35 triệu người, thời gian lưu
trú trung bình 2 ngày/người, chi tiêu cho thủy sản là 11,1 USD/người/ngày, giá
trị kim ngạch xuất khẩu tại chỗ 777 triệu USD, trong đó tập trung chủ yếu là
mặt hàng thủy sản tươi sống và đến năm 2030 lượng khách quốc tế đến Việt Nam sẽ
tăng mạnh với giá trị xuất khẩu trị xuất khẩu tại chỗ khoảng 1,28 tỷ USD.
Bên cạnh sản phẩm
đông lạnh có sự phát triển vượt bậc và đem lại lợi ích lớn từ xuất khẩu thì
lĩnh vực sản xuất sản phẩm giá trị gia tăng (GTGT) thời gian qua cũng có bước
phát triển, đặc biệt là ngành cá tra. Sản xuất của các sản phẩm này góp phần
tận thu 25-30% những phần tổn thất sau thu hoạch, do các nhà máy chế biến chỉ
sử dụng một phần nguyên liệu để xuất khẩu, bên cạnh đó sản phẩm GTGT đem lại
lợi nhuận rất cao.
Về nhu cầu thị trường
những năm gần đây, nhiều thị trường tỏ ra hấp dẫn với các sản phẩm GTGT. Lý do
là một số nước đã và đang tăng cường khai thác, đánh bắt, khiến cho sản phẩm
tươi sống của họ có giá rẻ, sản phẩm nhập khẩu khó cạnh tranh. Ngoài ra, do vấn
đề thời gian nên việc mua các sản phẩm đã qua chế biến, nhất là các sản phẩm
đòi hỏi chế biến công phu, đang ngày càng được chú ý hơn.
Vì vậy, việc chế biến
sản phẩm GTGT là xu thế không thể đảo ngược, khi sản lượng nuôi trồng ngày càng
giảm và giá trị xuất khẩu thô không tăng. Đơn cử việc chế biến toàn bộ con cá
tra có thể tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với việc mở rộng diện tích,
tăng sản lượng. Chẳng hạn chế biến phụ phẩm từ thịt cá vụn, đầu cá, xương cá,
da cá, nội tạng cá… tạo ra các sản phẩm surimi cá, dầu cá tinh luyện, bột cá,
chà bông, collagen và gelatin… Sự đa dạng sản phẩm cũng đưa đến sự đa dạng
trong tiếp cận và phục vụ thị trường ngày càng phong phú.
Định hình các sản
phẩm thủy sản trong thời gian tới: sự tiện dụng, đảm bảo sức khỏe, bền vững và
truy xuất nguồn gốc là những xu hướng chính hình thành nên sở thích của người
tiêu dùng trên toàn cầu.
Theo FAO, tổng nhu
cầu thủy sản và các sản phẩm thủy sản trên thế giới dùng làm thực phẩm đạt 180
triệu tấn năm 2030 và liên tục tăng với tốc độ bình quân 2,1%/năm. Về thị hiếu,
tiêu thụ thủy sản chế biến nhanh, ăn liền và tiện dụng cũng gia tăng. Thêm vào
đó, ngày càng nhiều người tiêu dùng lựa chọn mua thủy sản ở các siêu thị, giao
dịch thủy sản online đang phát triển khá nhanh, dẫn đầu là Trung Quốc. Người
tiêu dùng ở các nước phát triển cũng sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm có
nhãn phát triển bền vững và các yêu cầu về sức khỏe, dinh dưỡng. Đây là vấn đề
mà các doanh nghiệp thủy sản cần đầu tư để tiếp cận người tiêu dùng tốt hơn.
Theo FAO (2018),
thặng dư thương mại thủy sản toàn cầu đến năm 2030 rất lớn khoảng 22,08 tỷ USD.
Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn cầu đạt khoảng 230,45 tỷ USD trong khi
đó nhập khẩu thủy sản toàn cầu chỉ đạt 208,37 tỷ USD. Điều này hoàn toàn phù
hợp với thực tế vì hầu hết các quốc gia sản xuất thủy sản, đặc biệt là các
cường quốc mới nổi về thủy sản như Ấn Độ, Chi Lê, Canada, Đan Mạch và Thụy
điển... đều hướng đến sản xuất và chế biến xuất khẩu các mặt hàng thủy sản vào
các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU... trong khi đó nhu cầu
tiêu thụ tại các thị trường này có hạn; vì vậy sẽ xảy ra hiện tượng dư cung
thủy sản.
Việc dư cung dẫn đến
tình trạng canh tranh gay gắt giữa các nước sản xuất thủy sản nhằm chiếm được
thị phần nhiều hơn vì vậy giá xuất khẩu thủy sản sẽ có xu hướng giảm. Ngoài ra,
còn tiềm ẩn nhiều rủi ro về các rào cản thương mại và kỹ thuật nhằm bảo hộ sản
xuất trong nước.
Dự báo xu hướng
thương mại thủy sản top 10 quốc ra nhập khẩu thủy sản hàng đầu thế giới đến năm
2030: trong top 10 nước nhập khẩu thủy sản hàng đầu thế giới có Mỹ, Nhật Bản,
Trung Quốc... chiếm 31% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới và
chiếm 55% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Thương mại thủy
sản top 10 quốc gia nhập khẩu thủy sản hàng đầu thế giới vẫn thâm hụt khoảng
trên 40 tỷ USD (dư địa top 10 quốc gia nhập khẩu thủy sản hàng đầu vẫn còn rất
lớn, khoảng trên 40 tỷ USD). Trong đó, thị trường Mỹ thâm hụt 15,57 tỷ USD;
Nhật Bản thâm hụt 13,74 tỷ USD, Pháp thâm hụt trên 5 tỷ USD, Đức thâm hụt 851
triệu USD, Italy thâm hụt 5,75 tỷ USD, Thụy Điển thâm hụt 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc
thâm hụt gần 5 tỷ USD, Anh thâm hụt gần 1,5 tỷ USD.
Ngành cá tra đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhờ nhu cầu
tiêu thụ cá tra tại nhiều thị trường phục hồi (đặc biệt là sau đại dịch). Giá
cá tra nguyên liệu cũng đã tăng lên ở mức cao, kích thích người dân, doanh
nghiệp phát triển nuôi. Tuy
nhiên, ngành cá tra vẫn còn gặp nhiều khó khăn, khi nhiều loại dịch bệnh trên
thủy sản còn diễn biến phức tạp, cùng với các tác động ngày càng tăng của biến
đổi khí hậu và hạn mặn. Cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng tăng và
nhiều nước gia tăng các rào cản kỹ thuật trong thương mại. Ðáng lo là giá thành
nuôi cá tra thương phẩm đang tăng do giá thức ăn chăn nuôi và nhiều chi phí đầu
vào tăng, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm. Tỷ tệ hao hụt trong nuôi
cá tra còn cao do điều kiện sản xuất bất lợi và nguồn con giống chưa đảm bảo
tốt cả về giá cả và chất lượng.
Dự báo thị trường ngành cá tra xuất khẩu vẫn tăng trường đồng đều ở các
thị trường Mỹ (chủ lực), Trung Quốc, Hong Kong và các thị trường Hiệp định Đối
tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Ðể ổn định và phát triển bền vững ngành hàng cá tra, cần phối hợp làm
tốt công tác quy hoạch và tổ chức sản xuất để đảm bảo cân đối cung cầu gắn với
nhu cầu chế biến và xuất khẩu. Ðặc biệt, hỗ trợ và thúc đẩy hợp tác và liên kết
theo chuỗi để ổn định sản xuất và đầu ra sản phẩm, tránh tình trạng giá cá tra
nguyên liệu "sốt ảo" dẫn tăng trưởng nóng về diện tích, sản lượng và
kéo theo nhiều hệ lụy sau đó như đã từng xảy ra. Các doanh nghiệp cần liên kết
chặt với nông dân để đảm bảo có các vùng nguyên liệu ổn định, phát triển chế
biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm chế biến gắn xây dựng thương thiệu để nâng cao
chất lượng, giá trị sản phẩm. Ðồng thời, ngành chức năng quản lý điều kiện sản
xuất và kiểm soát chặt từ các quá trình sản xuất đầu vào như diện tích thả
nuôi, chất lượng con giống, chất lượng và giá cả thức ăn chăn nuôi… đến việc
chế biến, tiêu thụ sản phẩm…
III.2.
Dự báo các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Công nghệ chế biến
thủy sản: Nghiên cứu ứng dụng và sản xuất các loại
enzym có giá trị kinh tế cao, ứng dụng trong công nghệ chế biến nhằm tăng sức
cạnh tranh của hàng hoá thủy sản sẽ là hướng đi được lựa chọn trong giai đoạn
2020 và tới năm 2030; tầm nhìn đến năm đến năm 2045, ứng dụng công nghệ nano,
sử dụng vật liệu đóng gói, bao bì có thể tái chế được, thân thiện với môi
trường sẽ ngày càng trở nên phổ biến và là hướng đi được các doanh nghiệp chế
biến thủy sản lựa chọn trong thời kỳ tới. Các công nghệ và thiết bị cấp đông
siêu nhanh như: đông trong dung môi chất tải lạnh, hệ thống cấp đông và bảo
quản đông CAS (Cells Alive System)... Các công nghệ chiết tách các dạng sản
phẩm thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thủy sản để gia tăng giá trị sản phẩm.
Công nghệ tự động
hóa trong các lĩnh vực sản xuất thủy sản (khai thác, nuôi trồng, bảo quản, vận
chuyển, chế biến thủy sản): sẽ làm giảm nhanh chóng
lao động trực tiếp trong chuỗi giá trị; nâng cao năng suất lao động, giảm chi
phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm thủy sản xuất khẩu.
III.3.
Dự báo về môi trường và biến đổi khí hậu
Theo diễn biến BĐKH thì mức nước tại tỉnh Đồng
Tháp vào năm 2020, 2050, 2070 và 2100 tương ứng tăng là 11; 16; 20 và 48cm. Khi
đó, sẽ gây ra ngập ở một số khu vực như: ngập sâu (huyện Tân Hồng, Hồng Ngự,
Tp. Hồng Ngự và một phần huyện Tam Nông); ngập trung bình đến nông (huyện Cao
Lãnh, Thanh Bình và Tháp Mười); khu vực nhạy cảm chịu tác động của sạt lở bờ
sông (Tp. Sa Đéc, Tp. Hồng Ngự, huyện Thanh Bình và Hồng Ngự); khu vực nhạy cảm
chịu tác động của hạn hán (Vườn Quốc gia Tràm Chim, vùng đất phèn huyện Tháp
Mười và Tam Nông). Sản xuất nông nghiệp đang chịu sử tổn thương từ sự tác động
của BĐKH. Trong những năm qua, lượng phù sa trên các sông Tiền, sông Hậu suy
giảm đáng kể, diện tích đất bị nhiễm phèn có xu hướng tăng, nhất là vùng trũng
Đồng Tháp Mười; bên cạnh đó sạt lở bờ sông Tiền, sạt lở bờ bao kênh, rạch nội
đồng; giông lốc, gió mạnh, sấm sét gây ra thiệt hại các công trình hạ tầng.
Bảng 17.
Diện tích ngập theo các kịch bản nước biển dâng
tỉnh Đồng Tháp không tính đến yếu tố môi trường cực đoan.
(Nguồn: Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh
Đồng Tháp. Xây dựng kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Đồng Tháp).
|
Năm
|
Mức độ dâng mực nước biển trung bình (cm)
|
Tỷ lệ diện tích đất bị ngập
(%)
|
Diện tích đất bị ngập
(km2)
|
|
2020
|
11
|
0
|
0
|
|
2030
|
16
|
0
|
0
|
|
2050
|
20
|
4,21
|
142,3
|
|
2070
|
27
|
9,47
|
319,68
|
|
2100
|
48
|
18,73
|
632,15
|
Đến năm 2030, biến đổi khí hậu hầu
như không tác động đến lĩnh vực khai thác và sử dụng tài nguyên đất trên địa
bàn tỉnh nói chung, diện đất sản xuất cá tra nói riêng. Từ sau năm 2030 - 2100
thì quản lý và sử dụng tài nguyên đất của tỉnh ít nhiều sẽ bị tác động, chủ yếu
tập trung ở các huyện phía Nam của tỉnh (Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò).
Trong trường hợp có xét đến các yếu
tố môi trường cực đoan, cùng với điều kiện mức nước lũ thượng nguồn lớn như năm
2000 và mực nước biển dâng tương ứng dưới hạ nguồn là 12, 17, 30,
46 và 75 cm, thì mức độ ngập theo các kịch bản mô phỏng trên địa bàn
tỉnh đến năm 2020, 2050, 2070 và 2100 như bảng sau.
Bảng 18.
Diện tích ngập theo các kịch bản nước biển dâng
tỉnh Đồng Tháp (B2) có tính
đến yếu tố môi trường cực đoan (Nguồn: Sở
Tài nguyên - Môi trường tỉnh Đồng Tháp. Xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với
biến đổi khí hậu của tỉnh Đồng Tháp)
|
Huyện
|
S
(km2)
|
Năm 2020
|
Năm 2030
|
Năm 2050
|
Năm 2070
|
Năm 2100
|
|
|
S(km2)
|
%
|
S(km2)
|
%
|
S(km2)
|
%
|
S(km2)
|
%
|
S(km2)
|
%
|
|
Hồng
Ngự
|
210
|
107,5
|
51,19
|
107,9
|
51,38
|
108,1
|
51,47
|
108,5
|
51,66
|
108,7
|
51,76
|
|
Lai
Vung
|
238
|
87,39
|
36,71
|
87,64
|
36,82
|
87,68
|
36,84
|
87,7
|
36,84
|
87,74
|
36,86
|
|
Lấp Vò
|
246
|
87,13
|
35,41
|
87,62
|
35,61
|
88,06
|
35,79
|
88,18
|
35,84
|
88,2
|
35,85
|
|
TP.
Cao Lãnh
|
107
|
47,98
|
44,84
|
48,1
|
44,95
|
48,13
|
44,98
|
48,15
|
45,00
|
48,17
|
45,01
|
|
TP. Sa
Đéc
|
60
|
31,31
|
52,18
|
32,41
|
54,01
|
32,3
|
53,83
|
32,55
|
54,25
|
32,58
|
54,3
|
|
Tam
Nông
|
474
|
78,49
|
16,55
|
78,31
|
16,52
|
78,5
|
16,56
|
78,53
|
16,56
|
78,57
|
16,57
|
|
Thanh
Bình
|
341
|
84,76
|
24,85
|
85,25
|
25,00
|
85,28
|
25,88
|
85,33
|
25,01
|
88,26
|
25,02
|
|
Tháp
Mười
|
528
|
136,77
|
25,90
|
136,61
|
25,87
|
136,82
|
25,91
|
136,85
|
25,91
|
136,89
|
25,92
|
|
Tân
Hồng
|
311
|
49,18
|
15,81
|
50,84
|
16,34
|
50,86
|
16,35
|
50,89
|
16,36
|
51,02
|
16,40
|
|
Cao
Lãnh
|
491
|
167,83
|
34,18
|
167,99
|
34,21
|
168,01
|
34,21
|
168,03
|
34,22
|
168,05
|
34,22
|
|
Châu
Thành
|
246
|
88,29
|
35,89
|
88,35
|
35,91
|
88,4
|
35,93
|
88,41
|
35,93
|
88,43
|
35,94
|
|
Tp.
Hồng Ngự
|
122
|
33,82
|
27,72
|
33,84
|
27,73
|
33,87
|
27,76
|
33,9
|
27,78
|
33,94
|
27,81
|
|
Đồng
Tháp
|
3.374
|
1.000,45
|
29,65
|
1.004,86
|
29,78
|
1.006,01
|
29,81
|
1.007,02
|
29,84
|
1.010,55
|
29,95
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
BĐKH
làm tăng mức độ ô nhiễm, suy giảm chất lượng và trữ lượng các hệ sinh thái thủy
sinh, thay đổi mục đích sử dụng nguồn nước. Nhiệt độ trung bình tăng cao làm
tăng nguy cơ hạn hán và cháy rừng, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học các hệ sinh
thái. Mặt khác, khi có nhiều diện tích đất bị ngập nước thì diện tích rừng tự
nhiên sẽ bị suy giảm nghiêm trọng; nhiệt độ gia tăng sẽ dẫn đến sự di cư ngày
càng nhiều của các loài động vật, các loài không thích nghi sẽ dần suy giảm và
tuyệt chủng.
Dự
báo đến năm 2030, khi mực nước biển tăng thêm 17cm thì sẽ gây ra thiệt hại lớn
cho ngành xây dựng và ngành giao thông vận tải, tiến độ thực hiện và chất lượng
các công trình xây dựng bị giảm; thiệt hại về kết cấu hạ tầng, ảnh hưởng không
tốt đến ngành thương mại, dịch vụ, du lịch; thay đổi cơ cấu lao động về ngành
nghề. Đặc biệt, khí hậu biến đổi sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, nhất
là người dân vùng sâu. Ngoài ra, những thay đổi bất thường về điều kiện khí hậu
sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác quy hoạch sử dụng, bảo vệ tài nguyên đất,
nước, rừng và đa dạng sinh học...
Cá tra sống trong môi
trường nước ngọt. Tuy nhiên, nếu tập quen dần, cá có thể chịu độ mặn tới 5 phần
ngàn nhưng mức tăng trưởng cá bị giảm và màu sắc thịt cá không như ý. Nếu tình
trạng xâm nhập mặn sâu hơn, vùng nuôi cá tra bị thu hẹp nhưng nuôi cá tra có
thể duy trì an toàn, qua việc sản xuất giống cá tra có khả năng thích ứng BĐKH
và mở rộng quy mô nuôi ở khu vực khác. Tóm lại, biến đổi khí hậu trong 10 năm
tới và tầm nhìn đến năm 2050 có tác động đến hoàn cảnh con cá tra, nhưng sự
linh hoạt trong thực tế, sản lượng cá tra có thể duy trì. Thậm chí sẽ tăng
trưởng tốt nếu việc chế biến và khai thác thị trường có tầm cao hơn.
Giải pháp ứng phó
tình hình BĐKH đối với nuôi thủy sản nói chung trong đó có cá tra là cần phải
đẩy mạnh nuôi theo hình thức thâm canh, bán thâm canh, đầu tư xây dựng hoàn
thiện các công trình đê bao, ngăn lũ, nhất là cho sông Tiền, sông Hậu và một số
nhánh sông quan trọng khác; phòng chống sạt lở, hạn hán, xâm nhập mặn; nâng cao
khả năng tiêu úng cho các khu vực vùng trũng, cấp nước phục vụ sản xuất cho các
vùng khô hạn.
Chương IV:
XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN THỦY SẢN GIAI ĐOẠN 2021-2030,
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050 TỈNH ĐỒNG THÁP
IV.1.
Quan điểm, định hướng, triển thủy sản tỉnh Đồng Tháp
giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
IV.1.1. Quan điểm,
định hướng phát triển
- Lấy tái cơ cấu
ngành nông nghiệp làm trọng tâm tái cơ cấu kinh tế chung của tỉnh, Khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương,
phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh
Đồng Tháp theo hướng bền vững, hiệu quả, trên cơ sở lấy
kinh tế thủy sản của tỉnh làm trọng tâm của vùng và liên vùng để thúc đẩy khả
năng kết nối và lan tỏa, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập
cho người nông dân; đồng thời, bảo vệ môi trường sinh thái và an toàn dịch
bệnh, đáp ứng yêu cầu chất lượng, an toàn thực phẩm cho tiêu dùng trong nước,
tăng cường xuất khẩu.
- Tiếp tục phát triển
các sản phẩm chủ lực của tỉnh; phát triển ngành hàng cá tra trở thành ngành
xuất khẩu chiến lược quốc gia theo hướng bền vững, hiện đại, có giá trị gia
tăng cao, thỏa mãn nhu cầu thị trường đa dạng thông qua phát triển vùng chuyên
canh cá tra gắn với cụm công nghiệp – dịch vụ phục vụ sản xuất, chế biến, kinh
doanh, tiếp thị cá tra tại tỉnh Đồng Tháp. Sản xuất giống cá tra có chất lượng
cao đạt được những tính năng tăng trưởng nhanh, kháng bệnh, tỷ lệ sống cao, thích
ứng với BĐKH, có thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, nhằm cung cấp nguồn giống
cho việc nuôi cá tra thương phẩm ở tỉnh Đồng Tháp nói riêng và toàn vùng ĐBSCL
nói chung. Phấn đấu đạt mục tiêu chung của ngành cá tra là
chiếm 10-15% thị phần tiêu thụ nội địa trên tổng sản lượng.
- Thu hút các nguồn
lực, các thành phần kinh tế đầu tư phát triển thuỷ sản hiệu quả với lực lượng
doanh nghiệp là nòng cốt. Tập trung đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật
hạ tầng đồng bộ; đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, sử dụng hiệu quả nguồn nhân
lực; tăng cường chuyển giao và ứng dụng công nghệ, ưu tiên ứng dụng công nghệ
cao, chuyển đổi số; nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tổ chức lại sản xuất
theo kinh tế thị trường.
- Đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thuỷ sản theo định hướng thị trường, thân thiện
môi trường, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, bảo tồn đa dạng
sinh học; thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn
sinh học, an sinh xã hội. Phát triển thuỷ sản gắn với nâng cao đời sống vật
chất tinh thần của người dân, xây dựng nông thôn mới.
IV.1.2.
Phương án và mục tiêu phát triển
Căn cứ vào phương án xây dựng dựa trên quan điểm chủ trương của Chính phủ và của
Tỉnh.
Căn cứ vào nhu cầu
cấp thiết của ngành (CSHT, môi trường, thương mại dịch vụ...) thông qua
kết quả điều tra phỏng vấn sâu các chuyên gia và doanh nghiệp.
Căn cứ vào phương án
xây dựng dựa vào đánh giá thực trạng, phân tích dự báo về tiềm lực phát triển
thuỷ sản của tỉnh.
Căn cứ vào Quyết định
số 1195/QĐ-TTg ngày 05 tháng 08 năm 2020 về phê duyệt lập quy hoạch tỉnh Đồng
Tháp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Dựa trên những quan
điểm, định hướng phát triển cùng những tính toán nhu cầu và khả năng đáp ứng
thấy rằng muốn đạt được những chỉ tiêu đưa ra, ngành thủy sản của tỉnh phải
chọn hướng chiến lược phát triển thuỷ sản về quy mô và tăng trưởng với các đối
tượng được chọn lọc hướng vào xuất khẩu nhằm góp phần thực hiện được định hướng
tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới.
Phát triển nuôi trồng
thủy sản sẽ tập trung theo hướng:
- Tiếp tục mở rộng
diện tích NTTS nước ngọt tại những địa bàn phù hợp cho từng đối tượng nuôi,
nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh của tỉnh về điều kiện tự nhiên, vị trí
địa lý. Đồng thời chú trọng thúc đẩy đầu tư theo chiều sâu, ứng dụng công nghệ
cao nhằm nâng cao năng suất và sản lượng đối với hình thức nuôi cá tra, cá diêu
hồng, cá lóc, cá rô, nhóm cá bản địa và tôm Càng xanh. Phấn đấu phát triển diện
tích tự nhiên nuôi cá tra đến năm 2025 là 3.506 ha, với sản lượng 609.700 tấn;
100% cơ sở nuôi cá tra trong quy hoạch được cấp mã số nhận diện theo quy định
(giấy xác nhận đăng ký nuôi đối tượng thuỷ sản nuôi chủ lực); trên 60% vùng
nuôi có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh đảm bảo có hệ thống xử lý nước thải và bùn
thải theo quy định; trên 50% diện tích nuôi cá tra thương phẩm áp dụng và được
chứng nhận tiêu chuẩn trong nuôi trồng thuỷ sản như VietGAP, ASC, BAP,
GlobalGAP,…
- Hoàn thiện hệ thống
cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi để kêu gọi
các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực NTTS. Tiếp tục đổi mới
trang thiết bị, dây chuyền công nghệ chế biến theo hướng hiện đại.
- Tăng cường công tác
đào tạo nguồn nhân lực và trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý ngành
thủy sản của tỉnh.
- Triển khai thực
hiện các dự án đầu tư theo thứ tự ưu tiên được đề xuất trong quy hoạch trong
giai đoạn 2021 - 2030.
- Khép kín quy trình
sản xuất đối với cơ sở có điều kiện tốt nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cũng
như bảo quản và chống thất thoát sau thu hoạch.
- Tăng cường công tác
giám sát, xử lý tác động môi trường của hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế
biến và dịch vụ thủy sản trên địa bàn tỉnh của các cơ quan chức năng.
- Áp dụng công nghệ
sinh học trong khâu sản xuất giống và nuôi thương phẩm cũng như các sản phẩm
sau thu hoạch. Tăng cường hoạt động bảo vệ và lưu giữ các nguồn giống gen cá
bản địa, cá có giá trị kinh tế.
- Tổ chức sản xuất
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chống thất thoát sau thu hoạch, tuân
thủ nghiêm ngặt các quy chế quản lý vùng nuôi an toàn, sản phẩm chế biến an
toàn.
- Hoàn thiện hệ thống
kênh thông tin trong và ngoài ngành đặc biệt là thông tin về thị trường tiêu
thụ sản phẩm giữa các cơ quan hữu quan, các doanh nghiệp và các tổ chức sản
xuất. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm.
- Kiện toàn bộ máy tổ
chức, quản lý phát triển thủy sản trong sản xuất, kinh doanh và thương mại thủy
sản. Phát triển hệ thống khuyến ngư đến tận phường, xã những nơi có diện tích
nuôi trồng thủy sản tập trung và tương đối lớn.
Phát triển khai thác
thủy sản theo hướng tái cơ cấu nghề cá, khai thác chọn
lọc, từng bước khuyến khích thực hiện chuyển đổi nghề cho tàu, thuyền hoạt động
các nghề nằm trong đối tượng cấm khai thác theo Thông tư 19/2018/TT-BNNPTNT, ưu
tiên phát triển các nghề khai thác thủy sản thân thiện với môi trường, định
hướng cắt giảm tiến tới chấm dứt các phương tiện hoạt động các nghề có tính
chọn lọc thấp theo lộ trình phù hợp, đẩy mạnh công tác bảo
vệ nguồn lợi thủy sản nội đồng.
v Định
hướng phát triển cụ thể đến năm 2030
Chỉ tiêu đến năm 2030: phát triển thuỷ sản thành ngành kinh
tế quan trọng của Tỉnh, sản xuất hàng hóa lớn gắn với công nghiệp hóa - hiện
đại hóa, phát triển bền vững và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; có cơ
cấu và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao;
có khả năng cạnh tranh cao và hội nhập quốc tế, cụ thể:
Tốc độ
tăng trưởng giá trị sản xuất thuỷ sản đến năm 2030 đạt 4,58%/năm. Trong đó,
giai đoạn 2021 - 2025 đạt 4,3%/năm, giai đoạn 2026 - 2030 đạt 4,86%/năm.
Tổng
sản lượng thuỷ sản sản xuất:
- Đến năm 2025 đạt 749.300 tấn. Trong đó, sản lượng nuôi
trồng thuỷ sản là 731.300 tấn, sản lượng khai thác thuỷ sản 18.000 tấn.
- Đến năm 2030 đạt 974.200 tấn. Trong đó, sản lượng nuôi
trồng thuỷ sản là 957.200 tấn, sản lượng thuỷ sản khai thác 17.000 tấn.
Giá
trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2030
đạt khoảng 1,2 tỷ USD. Trong đó, giá trị sản
xuất NTTS (giá SS) đến năm 2025 là 13.550
tỷ đồng và đến năm 2030 là 17.731 tỷ
đồng.
v Tầm nhìn đến năm 2050
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành thuỷ sản theo
định hướng thị trường, thân thiện môi trường, phát
huy khả năng liên kết vùng, bảo vệ, tái tạo và phát triển
nguồn lợi thuỷ sản, bảo tồn đa dạng sinh học; thích ứng với biến đổi khí hậu;
bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn sinh học, đáp ứng yêu cầu thị trường trong
nước và xuất khẩu; hướng đến nền kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh.
IV.1.3.
Phát triển thủy sản tỉnh Đồng Tháp theo phương án chọn
IV.1.3.1. Nuôi trồng thuỷ sản
- Tiếp tục phát triển hệ thống sản
xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao, kết hợp phát triển sản
xuất giống các loài thuỷ sản tiềm năng hiện hữu tại địa phương phù hợp các điều kiện
phát triển của Tỉnh như giống cá sặc rằn, tôm càng xanh…; nghiên cứu sản xuất
giống một số loài thuỷ sản mới như: cá heo, cá trèn, cá xác, cá chốt... theo
quy định tại danh mục loài thuỷ sản được phép kinh doanh tại Việt Nam.
Tiếp tục phát triển nuôi hiệu quả
theo chiều sâu đối với đối tượng nuôi chủ lực hiện nay của tỉnh là cá tra, đồng thời chú trọng đến phát triển nuôi các loài thủy sản tiềm năng khác có giá
trị kinh tế cao, gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với điều kiện biến đổi
khí hậu (cá lóc, cá rô, cá điêu hồng).
- Chọn lọc, phát triển nuôi một số
loài thuỷ sản cá bản địa như cá sặc điệp, cá nàng hai, cá hậu. Tận dụng lợi thế
mùa nước lũ để phát triển các mô hình nuôi nhỏ lẻ như: nuôi lươn, cá chạch, ốc
bươu đen… nhằm chủ động cung cấp nguồn thực phẩm, tạo công ăn việc làm, góp
phần xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó cũng cần chú trọng đến các
mô hình sản xuất các loại cá phục vụ cho nhu cầu nuôi làm cảnh như cá Chạch
lửa…
- Khuyến khích các
doanh nghiệp, hộ nuôi áp dụng các công nghệ nuôi mới, tiên tiến, tuần hoàn,
thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu vào sản xuất nhằm giảm
giá thành sản phẩm; phát triển các mô hình nuôi hữu cơ, nuôi sinh thái, sử dụng
các loại thảo dược, áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận thực hành nuôi trồng thuỷ
sản tốt (GAP), an toàn thực phẩm để nâng cao 4 giá trị sản phẩm và phát triển
bền vững.
- Nâng cao năng lực
quản lý và sản xuất thuỷ sản theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin,
công nghệ số trong quản lý, sản xuất giống, vật tư thuỷ sản, phòng trị bệnh và
nuôi trồng thuỷ sản.
- Tiếp tục phát triển
các mô hình sản xuất nuôi trồng thuỷ sản theo hình thức hợp tác như hợp tác xã,
tổ hợp tác, hội quán để tạo vùng sản xuất hàng hóa lớn, liên kết theo chuỗi giá
trị, gắn với thị trường tiêu thụ.
- Xây dựng và triển
khai kế hoạch quan trắc, cảnh báo và giám sát môi trường nước phục vụ nuôi
trồng thuỷ sản; công tác phòng chống dịch bệnh trên thuỷ sản nuôi.
a) Quy hoạch diện tích nuôi trồng thủy sản
- Cơ sở tính toán quy
hoạch NTTS:
+ Quyết định số
339/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản
Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (khoản 7 điều 28 Nghị định
37/2019/NĐ-CP).
+ Nghị quyết số 122/NQ-CP ngày 01/10/2018 về việc phê duyệt Điều chỉnh
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020)
tỉnh Đồng Tháp.
+ Phân tích diễn biến
kết quả sản NTTS từ năm 2015 đến 2020, đặc biệt là mức độ rủi ro của nuôi tôm,
nuôi cá tra làm nguyên liệu chế biến hàng thủy sản xuất khẩu.
+ Căn cứ vào diện
tích quy hoạch sử đất của tỉnh Đồng Tháp đến năm 2030 dựa trên việc đánh giá
thích nghi đất NTTS cho các đối tượng nuôi.
+ Căn cứ tính toán của các quy hoạch, dự án: Đề án liên kết sản xuất
giống cá tra 3 cấp chất lượng cao vùng ĐBSCL (QĐ 987); Đề án tái cơ cấu ngành
nông nghiệp (QĐ 591); Quy hoạch nông nghiệp phát triển nông thôn đến năm 2020
(QĐ 263); Quy hoạch chi tiết nuôi, chế biến cá tra trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 (QĐ 1046); Quy hoạch sắp xếp lại vùng
nuôi cá lồng, bè của tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020 (QĐ 1178); Điều chỉnh, bổ sung
quy hoạch sắp xếp lại vùng nuôi cá bè tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020 (QĐ 666); Quy
hoạch phát triển tôm càng xanh tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020 (QĐ 1025); Dự án Rà
soát, điều chỉnh Quy hoạch Nông nghiệp, phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp đến
năm 2020, định hướng đến năm 2030 (QĐ 1651); Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp
tỉnh Đồng Tháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Dự án nâng
cao khả năng thoát lũ và ổn định sinh kế, thích ứng với BĐKH vùng ĐTM – các
huyện thị phía Bắc tỉnh Đồng Tháp và các quy hoạch, kế hoạch phát triển nuôi
trồng thủy sản các loại của 12 huyện, thị, thành phố.
Bảng 19.
Quy hoạch diện tích, lồng bè NTTS tỉnh Đồng Tháp đến năm 2030
|
Stt
|
Danh mục
|
Đvt
|
HT
|
Quy hoạch
|
TTBQ (%)
|
|
2020
|
2025
|
2030
|
'21-'25
|
'26-'30
|
|
I
|
Diện tích NTTS
|
ha
|
7.404
|
13.000
|
18.000
|
11,92
|
6,73
|
|
-
|
Nuôi chuyên
|
-
|
6.457
|
10.006
|
11.824
|
9,15
|
3,40
|
|
-
|
Nuôi kết hợp
|
-
|
947
|
2.994
|
6.176
|
25,89
|
15,58
|
|
1
|
Cá tra
|
-
|
2.623
|
3.506
|
4.615
|
5,97
|
5,65
|
|
2
|
Tôm càng xanh
|
-
|
931
|
2.100
|
3.055
|
17,67
|
7,79
|
|
-
|
Nuôi chuyên
|
-
|
931
|
1.100
|
1.200
|
3,39
|
1,76
|
|
-
|
Nuôi kết hợp (tôm- lúa)
|
-
|
|
1.000
|
1.855
|
|
13,15
|
|
3
|
Thủy sản khác
|
-
|
3.850
|
7.394
|
10.330
|
13,94
|
6,92
|
|
-
|
Nuôi chuyên
|
-
|
2.903
|
5.400
|
6.009
|
13,22
|
2,16
|
|
-
|
Nuôi kết hợp
|
-
|
947
|
1.994
|
4.321
|
16,06
|
16,73
|
|
*
|
Phân theo đối tượng
|
-
|
3.850
|
7.394
|
10.330
|
13,94
|
6,92
|
|
-
|
Cá rô
|
-
|
55
|
150
|
170
|
22,25
|
2,53
|
|
-
|
Cá lóc
|
-
|
423
|
550
|
670
|
5,38
|
4,03
|
|
-
|
Cá sặc rằn
|
-
|
590
|
590
|
590
|
0,00
|
0,00
|
|
-
|
Đối tượng khác
|
-
|
2.782
|
6.104
|
8.900
|
17,02
|
7,83
|
|
4
|
Cá lồng, bè
|
chiếc
|
3.774
|
5.200
|
6.000
|
2,16
|
1,39
|
Tăng diện tích NTTS toàn
tỉnh đến năm 2025 là 13.000 ha và đến năm 2030 là 18.000 ha. Trong đó, diện tích NTTS chuyên theo QH sử dụng đất đến
năm 2025 là 10.006 ha và đến năm 2030 là 11.824 ha. Tốc độ
tăng trưởng bình quân về diện tích giai đoạn 2021-2025 là 11,92%/năm
và giai đoạn 2026-2030 là 6,73%/năm. Diện tích các loại
hình nuôi phân bổ như sau: Nuôi cá tra đến năm 2025 là 3.506
ha (diện tích mặt nước là 2.292 ha),
đến năm 2030 là 4.615 ha (diện tích mặt nước
là 3.000 ha). Nuôi tôm càng xanh (TCX) đến năm 2025 là 2.100
ha, đến năm 2030 là 3.055 ha. Nuôi thủy sản khác (cá rô,
cá lóc, cá sặc rằn, nhóm cá bản địa…) đến năm 2025 là 7.394 ha, đến năm 2030 là 10.330 ha.
Nuôi cá lồng bè đến năm
2025 là 5.200 chiếc, đến năm 2030 là 6.000 chiếc. Tuỳ theo
tình hình thực tế, trong điều kiện sản xuất thuận lợi và đảm bảo theo các yêu
cầu đối với Phương án, nhu cầu phát triển sản xuất của các hộ nuôi số lượng bè
có thể phát triển tối đa khoảng 7.000 chiếc vào năm 2025 và 8.000 chiếc vào năm
2030; ước sản lượng 79.000 tấn năm 2025, 90.000 tấn năm 2030; giá trị sản xuất
ước đạt 1.735 tỷ đồng năm 2025, 1.980 tỷ đồng năm 2030.
b) Quy hoạch sản lượng
và năng suất NTTS
Tăng tổng sản lượng NTTS toàn tỉnh
đến năm 2025 đạt 731.300 tấn và đến năm 2030 đạt 957.200 tấn, với tốc độ tăng bình quân là 5,97%/năm
trong giai đoạn 2021-2025 và 5,53%/năm trong giai đoạn
2026-2030. Cơ cấu sản lượng các đối tượng là cá tra chiếm 83,4
– 83,7%; kế đến là cá lồng bè chiếm 5,6
– 6,3%; các đối tượng thủy sản khác
chiếm 5,7 – 6,5%; cá lóc chiếm 2,2 – 2,3%; cá sặc rằn chiếm 0,9 – 1,2%, cá rô chiếm 0,4 – 0,5%, TCX chiếm 0,5 -
0,6% trong suốt thời kỳ quy hoạch. Chi tiết cơ cấu sản
lượng các đối tượng nuôi thể hiện trong các (Hình 8 và Hình 9) dưới đây.

Hình 7. Cơ cấu sản lượng
các đối tượng NTTS TP. Đồng Tháp đến năm 2025

Hình 8. Cơ cấu sản lượng các đối tượng NTTS TP. Đồng Tháp đến năm 203
Bảng 20.
Quy hoạch sản lượng nuôi thủy sản tỉnh Đồng Tháp đến năm 2030
|
Stt
|
Danh mục
|
Đvt
|
HT
|
Quy hoạch
|
TTBQ (%)
|
|
2020
|
2025
|
2030
|
'21-'25
|
'26-'30
|
|
I
|
Sản lượng NTTS
|
tấn
|
547.116
|
731.300
|
957.200
|
5,97
|
5,53
|
|
1
|
Cá tra
|
-
|
455.221
|
609.700
|
801.000
|
6,02
|
5,61
|
|
2
|
Tôm càng xanh
|
-
|
1.679
|
3.800
|
5.500
|
17,75
|
7,68
|
|
3
|
Thủy sản khác
|
-
|
51.352
|
71.600
|
96.700
|
6,87
|
6,19
|
|
-
|
Cá rô
|
-
|
1.339
|
3.600
|
4.100
|
21,88
|
2,64
|
|
-
|
Cá lóc
|
-
|
12.682
|
17.100
|
21.400
|
6,16
|
4,59
|
|
-
|
Cá sặc rằn
|
-
|
8.411
|
8.900
|
8.900
|
1,14
|
0,00
|
|
-
|
Đối tượng khác
|
-
|
28.921
|
42.000
|
62.300
|
7,75
|
8,21
|
|
4
|
Cá lồng, bè
|
-
|
38.864
|
46.200
|
54.000
|
3,52
|
3,17
|
Với việc đẩy mạnh ứng
dụng khoa học công nghệ và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều năm của người nuôi sẽ
nâng cao được năng suất NTTS trong giai đoạn tới. Riêng đối với nuôi cá Tra TC
năng suất sẽ tuân thủ theo quy định để đảm bảo chất lượng sản phẩm và môi
trường nước. Năng suất NTTS trung bình trong thời kỳ quy hoạch từ 53 - 56 tấn/ha/năm. Đối với từng mô hình và
đối tượng nuôi, năng suất tính theo diện tích tự nhiên như sau:
- Năng suất nuôi cá Tra
TC: trung bình 174 tấn/ha.
- Năng suất nuôi TCX
chuyên trung bình 2,0 tấn/ha; nuôi TCX – lúa trung bình 0,7 tấn/ha;
- Năng suất nuôi cá rô TC
từ trung bình 24 tấn/ha.
- Năng suất nuôi cá lóc
TC từ 31 - 32 tấn/ha.
- Năng suất nuôi cá sặc
rằn TC trung bình 15
tấn/ha.
- Năng suất nuôi đối tượng thủy sản khác TB 7 tấn/ha, trong
đó nuôi chuyên khoảng 12 - 15 tấn/ha, nuôi kết hợp khoảng
2 tấn/ha.
- Năng suất nuôi cá lồng bè
11- 12 tấn/chiếc.
c) Quy hoạch đối tượng và hình thức NTTS,
vùng nuôi tập trung.
* Quy hoạch nuôi cá tra thương phẩm:
Phân vùng nuôi cá tra thương phẩm theo 2 vùng. (i) Vùng nuôi chính:
Tiếp giáp với Sông Tiền, sông Hậu các kênh rạch lớn tập trung ở huyện có tiềm
năng năng như huyện Thanh Bình, huyện Cao Lãnh, huyện Châu Thành, huyện Tam
Nông, huyện Tân Hồng, Tp. Hồng Ngự và huyện Hồng Ngự. (ii) Vùng nuôi phụ ở các
huyện còn lại. Quy hoạch đến năm 2025: bố trí DTMN 2.292 ha, năng suất (tính
theo DTMN) 266 tấn/ha, sản
lượng 609.700 tấn; đến năm 2030 bố
trí DTMN 3.000 ha, năng suất 267 tấn/ha, sản lượng 801.000 tấn. Bố trí quy hoạch nuôi cá tra trên
địa bàn các địa phương: các thành phố Cao Lãnh, Sa Đéc, Hồng Ngự; các huyện Tân
Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Cao Lãnh, Thanh Bình, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành.
Bảng 21.
Quy hoạch nuôi cá tra thương phẩm tỉnh Đồng Tháp đến năm 2030
|
Stt
|
Danh mục
|
Đvt
|
HT
|
Quy hoạch
|
TTBQ (%)
|
|
2020
|
2025
|
2030
|
'21-'25
|
'26-'30
|
|
1
|
Diện tích tự nhiên
|
ha
|
2.623
|
3.506
|
4.615
|
5,97
|
5,65
|
|
-
|
Diện tích mặt nước
|
-
|
1.717
|
2.292
|
3.000
|
5,95
|
5,53
|
|
2
|
Sản lượng
|
tấn
|
455.221
|
609.700
|
801.000
|
6,02
|
5,61
|
|
3
|
Năng suất (DTMN)
|
tấn/ha
|
265
|
266
|
267
|
|
|
*
Nuôi tôm càng xanh:
Diện
tích nuôi tôm càng xanh (TCX) đến năm 2025 là 2.100 ha, đến năm 2030 là 3.055 ha. Trong đó, diện tích nuôi TCX chuyên TC, BTC đến năm 2025 là 1.100 ha và đến năm 2030 là 1.200 ha. Sản lượng nuôi đến năm 2025 là 3.800 tấn và đến năm 2030 đạt 5.500 tấn. Năng suất nuôi TCX chuyên trung bình
2,0 tấn/ha; nuôi TCX – lúa trung bình 0,7 tấn/ha. Bố trí tập trung ở huyện Tam
Nông.
*
Nuôi thủy sản khác:
Diện
tích nuôi thủy sản khác (cá rô, cá lóc, cá sặc rằn,…) năm 2025 là 7.394 ha, đến năm 2030 là 10.330 ha. Bố trí nuôi ở hầu hết các huyện thuộc
tỉnh Đồng Tháp, trong đó:
- Diện
tích nuôi cá rô TC đến năm 2025 là 150 ha tăng lên 170 ha (2030), với sản lượng
tương ứng là 3.600 – 4.100 tấn. Năng suất nuôi cá rô TC trung bình 24 tấn/ha.
- Diện
tích nuôi cá lóc TC đến năm 2025 là 550 ha tăng lên 670 ha (2030), với sản lượng tương ứng là 17.100 – 21.400 tấn Năng suất nuôi cá lóc TC từ 31 - 32 tấn/ha.
- Diện
tích nuôi cá sặc rằn TC đến năm 2025 là 590 ha và ổn định
đến năm 2030, với sản lượng tương ứng 8.900 tấn. Năng suất nuôi cá sặc rằn TC trung bình 15 tấn/ha.
- Diện
tích nuôi các đối tượng thủy sản
khác đến năm 2025 là 6.104 ha tăng
lên 8.900 ha (2030), với sản lượng tương ứng là 42.000 – 62.300 tấn. Năng suất nuôi thủy sản khác từ 7 - 8 tấn/ha, trong đó nuôi
chuyên khoảng 12 - 15 tấn/ha, nuôi
kết hợp khoảng 2 tấn/ha.
+ Nuôi
cá/tôm - lúa:
Mô hình
nuôi tôm lúa, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm càng xanh, cá rô phi, chép, mè
vinh, rô, cá lóc. Khu vực nuôi cá/tôm kết hợp với ruộng lúa nằm hầu hết ở các
huyện.
+ Nuôi
cá ao mương vườn:
Mô hình
nuôi thủy sản kết hợp mương vườn theo hình thức QC, QCCT đang được phát triển
hầu hết trên địa bàn các huyện, thị nhằm nâng cao giá trị trên cùng một diện
tích. Một số đối tượng nuôi theo mô hình này như cá sặc rằn, cá mè, trắm,….
*
Nuôi cá lồng bè:
Nuôi cá
lồng bè đến năm 2025 là 5.200
chiếc, đến năm 2030 là 6.000 chiếc; sản lượng nuôi đến năm 2025 là 46.200 tấn và đến năm
2030 đạt 54.000 tấn. Tuỳ theo tình
hình thực tế, trong điều kiện sản xuất thuận lợi và đảm bảo theo các yêu cầu
đối với Phương án, nhu cầu phát triển sản xuất của các hộ nuôi số lượng bè có
thể phát triển tối đa khoảng 7.000 chiếc vào năm 2025 và 8.000 chiếc vào năm
2030; ước sản lượng 79.000 tấn năm 2025, 90.000 tấn năm 2030; giá trị sản xuất
ước đạt 1.735 tỷ đồng năm 2025, 1.980 tỷ đồng năm 2030.
d) Quy hoạch hệ thống giống phục vụ nuôi
trồng thủy sản
* Quy hoạch sản xuất
giống:
Quy
hoạch vùng sản xuất giống trên 11 huyện, thị, Tp (trừ Tp Sa Đéc), tuy nhiên tập
trung ở 05 huyện: H. Cao Lãnh, H. Lấp Vò, H. Tân Hồng, Tp. Hồng Ngự, H. Châu
Thành để sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng cao, cụ thể như sau:
- Huyện
Cao Lãnh, quy hoạch với diện tích 150 ha, ở 02 tiểu vùng:
+ Tiểu
vùng số 1: Diện tích 93 ha, có chiều dài 2.500 mét, chiều ngang 200 – 450 mét,
được bao quanh bởi kênh Đường Thét (kênh cấp chính), kênh Bảy Thước, kênh Đốc
Hằng, rạch Bờ Đào thuận lợi trong quá trình vận chuyển con giống và xây dựng hệ
thống cấp, thoát nước.
+ Tiểu
vùng số 2: Diện tích quy hoạch 79 ha (chiều dài là 2.220 m
chiều rộng 408 m).
- Huyện
Lấp Vò: Quy hoạch vùng sản xuất giống cá tra 3 cấp chất lượng, với diện tích
104 ha đất tự nhiên. Hiện vùng quy hoạch là đất nông nghiệp (diện tích đang
ương cá tra khoảng 50 ha tập trung theo hai bên kênh Mương Tiêu Lớn).
- Huyện Tân
Hồng: Vùng quy hoạch diện tích quy hoạch là 46 ha (chiều dài 1.700 m và chiều
rộng là 270 m) đất tự nhiên. Vùng đã được rải đá tại tuyến đường dọc kênh Hai
Chắc và tuyến đường Lò Gạch; chưa có hệ thống đường điện.
- Thành
phố Hồng Ngự; Diện tích quy hoạch là 78 ha. Hiện tại, vùng có 50 ha ương dưỡng
cá giống. Nguồn nước cấp từ sông Sở Hạ.
- Huyện
Châu Thành: Vùng quy hoạch với diện tích 69 ha. Vùng này rất thuận lợi do tiếp
giáp với nhiều kênh rạch (kênh Tân Phú Hòa, rạch Nha Mân, rạch Ông Mười, rạch
Ông Quãng...) nên dễ dàng trong việc vận chuyển con giống và xây dựng hệ thống
cấp, thoát nước (nguồn nước cấp chính là kênh Tân Phú Hòa và rạch Nha Mân).
Đến năm
2025, sản xuất khoảng 1,8 tỷ con giống (trong đó giống cá tra 3 cấp chất
lượng cao 1,5 tỷ con) và đến năm 2030 là 2 tỷ con giống (trong đó giống
cá tra 3 cấp chất lượng cao 1,65 tỷ con).
* Quy
hoạch ương giống:
Đến năm
2025 là 985 ha, sản lượng 2.360 triệu con, đến năm 2030 là 1000 ha, sản lượng
2.513 triệu con, trong đó tập trung 2 loại giống chủ lực là cá tra và tôm càng
xanh.
- Giống
Cá tra: Cải thiện chất lượng đàn cá bố mẹ. Thành lập trung tâm chọn
lọc lưu giữ đàn cá bộ mẹ tốt. Siết chặt công tác quản lý chất
lượng giống để tránh tình trạng lạm dụng thuốc và hóa chất trong
quá trình ương nuôi cá giống.
Thiết
lập vùng sản xuất giống tập trung tại 03 huyện: Hồng Ngự, Cao Lãnh và Châu
Thành, theo đó phân bố thành 3 cụm: Hồng Ngự ở phía Bắc, Cao Lãnh là trung tâm
và Châu Thành ở phía Nam. Nhu cầu giống cá Tra đến năm 2020 là 1.574 triệu con,
đến năm 2025 là 1.664 triệu con và đến năm 2030 là 1.813 triệu con. Nhu cầu
giống tôm Càng xanh đến năm 2030 cần khoảng 110 triệu con Postlarvae.
e) Lao động NTTS
Nhu cầu
lao động phổ thông đáp ứng chuyên cho NTTS toàn tỉnh (chưa bao gồm lao động từ
dịch vụ sản xuất giống) đến năm 2025 là 36.144 người tăng lên 46.596
người (2030). Trong đó, lao động nuôi cá tra chiếm từ 29,1 – 29,7%, lao động nuôi
TCX chiếm từ 11,6 – 13,1%, và thủy sản khác chiếm tỷ lệ từ 36,0% - 37,9%.
Ngoài
nguồn lao động phổ thông, cần đào tạo lao động kỹ thuật có trình độ trung cấp,
cao đẳng và đại học cho NTTS. Đến năm 2030 cứ khoảng 50 ha nuôi cá TC, BTC,
nuôi TCX chuyên và nuôi thủy đặc sản cần 01 kỹ sư NTTS thì con số này đến năm
2030 cần khoảng 100 kỹ sư. Nguồn lao động kỹ thuật đào tạo ở một số trường có
đào tạo chuyên ngành NTTS như: Đại học Đồng Tháp, Đại học Cần Thơ, Đại học Nông
Lâm-TP. HCM và ĐH Nha Trang. Triển khai vận dụng tốt Thông tư
42/2014/TT-BNNPTNT ngày 17/11/2014 của Bộ trưởng Bộ NN và PTNT về Ban hành Tiêu
chuẩn kỹ năng nghề Quốc gia đối với các nghề thuộc nhóm nghề nông nghiệp.
Bảng 22.
Nhu cầu lao động phục vụ NTTS tỉnh Đồng Tháp đến năm 2030
|
Stt
|
Danh mục
|
Đvt
|
HT
|
Quy hoạch
|
TTBQ (%)
|
|
2020
|
2025
|
2030
|
'21-'25
|
'26-'30
|
|
I
|
Lao động NTTS
|
người
|
24.657
|
36.144
|
46.596
|
7,95
|
5,21
|
|
1
|
Cá tra
|
-
|
7.870
|
10.518
|
13.846
|
5,97
|
5,65
|
|
2
|
Tôm càng xanh
|
-
|
1.862
|
4.200
|
6.110
|
17,67
|
7,79
|
|
3
|
Thủy sản khác
|
-
|
7.378
|
13.026
|
17.640
|
12,04
|
6,25
|
|
-
|
Cá rô
|
-
|
165
|
450
|
510
|
22,25
|
2,53
|
|
-
|
Cá lóc
|
-
|
1.270
|
1.650
|
2.010
|
5,38
|
4,03
|
|
-
|
Cá sặc rằn
|
-
|
1.770
|
1.770
|
1.770
|
0,00
|
0,00
|
|
-
|
Thủy sản khác
|
-
|
4.173
|
9.156
|
13.350
|
17,02
|
7,83
|
|
4
|
Cá lồng, bè
|
-
|
7.548
|
8.400
|
9.000
|
2,16
|
1,39
|
IV.1.3.2. Khác thác thủy sản
a) Các vấn đề chính
Định hướng quy hoạch
phát triển cho lĩnh vực khai thác thủy sản chủ yếu tập trung vào những thế mạnh
và cơ hội đã xác định được cũng như những điểm yếu hay thách thức cần giải
quyết. Bảng dưới đây thể hiện ma trận về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
thức (SWOT) cho lĩnh vực khai thác thủy sản.
Bảng
23. Phân tích SWOT lĩnh vực khai thác thủy sản
|
Điểm mạnh (S)
|
Điểm yếu (W)
|
|
1. Có hệ thống sông,
kênh rạch chằng chịt, rất thích hợp cho các loài thủy sinh cư trú, sinh sản
và phát triển.
2. Công tác kiểm tra,
kiểm soát hoạt động khai thác và thả giống bổ sung vào môi trường tự nhiên
được thực hiện hàng năm.
3.
Thường xuyên tuyên truyền công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
đến các hộ dân.
|
1. Ngư dân hoạt động
khai thác chủ yếu là các hộ nghèo, dân trí còn thấp.
2. Người dân chưa quan
tâm đến công tác BVNLTS, sử dụng nhiều ngư cụ cấm trong KTTS.
3. Ngư trường khai thác
bị hạn chế do hình thành các đê bao, thủy lợi nội đồng phục vụ sản xuất nông
nghiệp và NTTS.
4.
Năng lực quản lý, giám sát hoạt động khai thác còn hạn chế.
|
|
Cơ hội (O)
|
Thách thức (T)
|
|
1. Được sự quan tâm của
các cơ quan, ban ngành của tỉnh về lĩnh vực khai thác và BVNLTS.
2. Nhà nước đã và đang
xây dựng nhiều chính sách, quy định nghiêm trong khai thác thủy sản nội đồng.
3.
Có nhiều công trình nghiên cứu bảo tồn gen cho các loài thủy sản để bổ sung
vào tự nhiên.
|
1. Nguồn lợi có dấu
hiệu suy giảm, các đối tượng đánh bắt ngày càng ít.
2. Môi trường bị ô
nhiễm, hiện tượng xâm nhập mặn sẽ làm mất đi nhiều loài thủy sản đặc hữu
trong vùng nước ngọt.
3.
Việc áp dụng các chính sách ban hành của Nhà nước về phát triển thuỷ sản đến
người dân chưa được nhanh và kịp thời.
|
Xác định những vấn đề đặt ra cho
hoạt động khai thác thủy sản
Trong giai đoạn 2015 - 2020, ngành
đang thực hiện tái cơ cấu nghề cá, khai thác chọn lọc, từng bước khuyến khích
thực hiện chuyển đổi nghề cho tàu, thuyền hoạt động các nghề nằm trong đối
tượng cấm khai thác theo Thông tư 19/2018/TT-BNNPTNT. Với đặc thù hoạt động
khai thác tỉnh Đồng Tháp mang tính nội đồng, với các nghề như te, xuyệt, lồng
bẫy, cào… chủ yếu khai thác hải sản tầng
đáy, do đó trữ lượng thủy sản tầng đáy ngày càng suy giảm
rõ rệt. Vì vậy, trong thời kỳ tới cần có giải pháp giảm mạnh nghề khai thác có
tính chọn lọc thấp theo lộ trình phù hợp.
Huy động các tổ chức xã hội, thực
hiện công tác tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, thả bổ sung giống một
số loài thủy sản có giá trị kinh tế, thành phần loài đang
có dấu hiệu suy giảm, loài nguy cấp, quý hiếm ở các vùng nước nội đồng trên địa
bàn tỉnh.
b) Mục tiêu phát triển
- Phát huy những lợi thế sẵn có
trong hoạt động khai thác thủy sản, đồng thời sử dụng hiệu quả tiềm năng nguồn
lợi thủy sản và nguồn nhân lực tại địa phương nhằm phát triển theo hướng nâng
cao giá trị gia tăng và phát triển ngành theo hướng bền vững.
- Không còn tình trạng người dân sử
dụng các nghề và dụng cụ khai thác hủy diệt nguồn lợi thủy sản ảnh hưởng đến
sinh kế của ngư dân.
- Giảm sản lượng khai thác đến mức
hợp lý, tạo sinh kế bền vững cho ngư dân; chất lượng và giá trị thủy sản khai
thác được cải thiện.
- Công tác bảo vệ và tái tạo nguồn
lợi được chú trọng quan tâm, đẩy mạnh các hoạt động tái tạo, bổ sung nguồn lợi,
đảm bảo được sự đang dạng trong hệ sinh thái thủy sinh tại địa phương.
c) Định hướng phát triển
Từ mục tiêu đã xác định, căn cứ vào
những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành khai thác, quy hoạch
đề xuất các định hướng phát triển của lĩnh vực khai thác, bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thủy sản như sau:
v Hoạt động khai thác thủy sản
Sắp xếp lại cơ cấu hoạt
động khai thác hợp lý: khuyến khích các nghề có năng suất, tính chọn lọc
cao và thân thiện với môi trường; hạn chế phát triển đối với các nghề có tính chọn lọc thấp; ngăn chặn triệt để các nghề khai thác
thủy sản có tính chất hủy diệt nguồn lợi, gây ô nhiễm môi trường.
Cụ thể:
- Đến năm 2025 giảm lượng ghe thuyền còn 470 chiếc, sản lượng
đạt 18.000 tấn.
- Duy trì số lượng ghe, thuyền còn 450 chiếc vào năm 2030,
với sản lượng 17.00 tấn.
- Tầm nhìn đến năm 2050 giảm lượng ghe thuyền còn 400 chiếc,
với sản lượng đạt 16.000 tấn.
Trong đó, một số ngư cụ được ưu
tiên khai thác do đánh bắt ít gây sát hại nguồn lợi như câu cần, câu giăng,
lưới thưa nhưng cần có các quy định mùa vụ, ngư trường và sản lượng khai thác
cụ thể cho từng loại ngư cụ. Các ngư cụ cần hạn chế và tiến đến cấm khai thác
do sát hại nguồn lợi lớn là xung điện, hóa chất, thuốc nổ, cào sông, đáy sông.
Quy định loại ngư cụ, kích thước ngư cụ theo đúng theo Thông tư số
01/2022/TT-BNNPTNT ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Bộ NN&PTNT.
Bảng 24.
Định hướng Quy hoạch ngư cụ KTTS tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021
– 2030, tầm nhìn 2050
|
Loại nghề
|
Mùa vụ khai thác
|
Ngư trường khai thác chủ yếu
|
Quy hoạch
|
|
Đáy
|
|
|
Cấm KT
|
|
Nghề
cào
|
|
|
Cấm KT
|
|
Te
|
|
|
Cấm KT
|
|
Chà
|
Tháng 12-2 năm sau
|
Các sông
|
Hạn chế
|
|
Lưới
rê
|
Quanh năm
|
Sông lớn, kênh, nội đồng
|
Ưu tiên
|
|
Nò,
lờ, lợp
|
Mùa nước lên
|
Sông, kênh, rạch
|
Hạn chế
|
|
Chài
quăng
|
Quanh năm
|
Sông, kênh, rạch
|
Hạn chế
|
|
Câu
|
Quanh năm
|
Sông, kênh, rạch
|
Ưu tiên
|
|
Ngư cụ
khác
|
Quanh năm
|
Sông, rạch, ruộng
|
Hạn chế
|
- Giải quyết hỗ trợ đền
bù cho các phương tiện nằm trong danh mục cấm khai thác, định hướng các lĩnh vực
sản xuất để chuyển đổi nghề cho các đối tượng này phù vợi với tình hình hiện
tại.
- Tổ
chức hoạt động khai thác thuỷ sản hợp lý, gắn phát triển sinh kế của cộng đồng
ngư dân với phát triển nuôi trồng thuỷ sản, du lịch sinh thái, nghề cá giải
trí.
v Bảo vệ và phát triển nguồn lợi
thủy sản
- Tập trung điều tra,
đánh giá nguồn lợi thuỷ sản và môi trường sống các loài thuỷ sản làm cơ sở bảo
vệ, tái tạo và khai thác bền vững nguồn lợi thuỷ sản.
- Quan tâm, tổ chức, quản
lý, bảo vệ các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thuỷ sản con non sinh sống
và đường di cư của loài thuỷ sản. Phát triển bảo tồn gắn với du lịch sinh thái
và nông thôn mới.
- Thực hiện thả bổ sung
các giống loài thuỷ sản có giá trị kinh tế, khoa học; loài thuỷ sản bản địa;
loài thuỷ sản đặc hữu vào vùng nước tự nhiên.
- Bảo vệ môi trường sống
của các loài thuỷ sản, bổ sung tái tạo nguồn lợi thuỷ sản tại các thuỷ vực nước
tự nhiên. Hoạt động thả giống bổ sung, tái tạo, phát triển nguồn lợi thuỷ sản
được coi trọng, thực hiện thường xuyên và được xã hội hóa sâu rộng.
- Tăng cường thực hiện
đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, giao quyền quản lý cho tổ chức
cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
- Bố trí quy hoạch các khu
bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các khu vực:
+ Đoạn sông thuộc địa phận các xã Long Khánh A,
Long Khánh B, Long Thuận, Phú Thuận B huyện Hồng Ngự: 660 ha.
+ Đoạn sông thuộc địa phận 3 phường: An Lạc, An
Thạnh, An Lộc thành phố Hồng Ngự: 140 ha.
+ Vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long (Vườn
quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông): 7.206 ha.
- Huy động các nguồn lực
tài chính cho bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
- Số lượng giống thả: tỉ
lệ 5 -10% tổng sản lượng giống sản xuất của mỗi trại.
- Thời gian
thả giống: Lấy ý kiến quần chúng nhân dân và các cấp chính quyền trong tỉnh
chọn một ngày nhất định trong thả giống cá xuống thủy vực. Ngày đó là ngày hội
hàng năm của ngành thủy sản địa phương mà nhân dân đồng tình ủng hộ hưởng ứng
hoặc các ngày rằm hàng tháng.
- Địa điểm
thả giống: Vị trí được xem là an toàn cho các loài cá con trong thủy vực tại
địa phương. Tại địa điểm thả giống được bảo vệ một thời gian nhất định cấm các
ngư cụ hoạt động gần các khu vực thả giống, cần tuyên truyền giáo dục ý thức
cho cộng đồng dân cư hiểu rõ việc làm này cùng đồng lòng tham gia. Hiện nay, vị
trí thả giống bổ sung nguồn lợi thủy sản được thả dọc theo sông Tiền và sông
Hậu
- Các đối
tượng được thả bổ sung chủ yếu là: Cá He vàng, Mè vinh, Hô, Mè hôi, Cóc, cá
Chài, Cá tra nghệ, Ét mọi, Thát lát cườm,...
- Triển
khai thực hiện các chính sách xã hội, hỗ trợ việc làm để chuyển đổi nghề nghiệp
cho các đối tượng khai thác thuỷ sản, nhằm giảm áp lực khai thác nguồn lợi thuỷ
sản tự nhiên. - Triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ để chuyển giao
các tiến bộ kỹ thuật nhân nuôi một số loài thuỷ sản nước ngọt có giá trị phục
vụ công tác bảo tồn và phát triển kinh tế.
v Lao động trong khai thác thủy sản
Đến năm 2020, tổng lao động
tham gia đánh bắt thủy sản của tỉnh có 1.263 người, đến năm 2025 định hướng
giảm còn 1.000 lao động sau 5 năm (năm 2030) tiếp tục giảm xuống còn 950 lao và
ổn định số lao động này đến năm 2050.
IV.1.3.3. Chế biến và dịch vụ thương mại thủy sản
a) Quy hoạch năng lực chế biến (cơ sở chế biến, công suất,
lao động).
Hiện công suất
thiết kế của các nhà máy đảm bảo phục vụ nên quan điểm quy hoạch là không gia
tăng về công suất chế biến mà tập trung vào việc áp dụng khoa học công nghệ nhằm
nâng cao tỷ trọng các sản phẩm giá trị gia tăng; đối mới máy móc, thiết bị và
công nghệ nhằm tăng năng suất, chất lượng, phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm
giá trị gia tăng cao có nguồn gốc từ nguyên liệu, phụ phẩm thủy sản phục vụ các
ngành thực phẩm và phi thực phẩm; đảm bảo an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc,
an toàn môi trường và an sinh xã hội; nâng cao hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh
tranh.
Mục tiêu cụ
thể đến năm 2030 với tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản chế biến đạt trên
6%/ năm với trên 70% số lượng cơ sở chế thủy sản xuất khẩu đạt trình độ và năng
lực công nghệ sản xuất từ trung bình tiên tiến trở lên.
Ngoài ra,
với lượng phế phẩm từ chế biến cá tra là khoảng 300.000 tấn mỗi năm, lượng
“nguyên liệu” này có thể tận dụng để chế biến các sản phẩm như dầu cá, gelatin,
collagen, bột cá, mỡ cá, có giá trị kinh tế rất cao. Hiện nay đã có 9 cơ sở có
chế biến các sản phẩm này với tổng công suất thiết kế đạt 462.000 tấn nguyên
liệu/năm. Như vậy, với công suất này cũng đã đáp ứng để chế biến tận thu lượng
phế liệu từ chế biến cá tra trong tỉnh.
Bên cạnh phát
triển năng lực chế biến, cần khuyến khích các nhà máy hiện có đổi mới dây
chuyền công nghệ cũng như khuyến khích, hỗ trợ các nhà đầu tư mới đầu tư dây
chuyền công nghệ chế biến thủy sản hiện đại, công nghệ cao, thân thiện môi
trường, tăng tỷ trọng sản phẩm GTGT, cải thiện chất lượng và hiệu quả chế biến.
b) Nguồn nguyên liệu cho chế biến.
Tổ chức thực
hiện việc kiểm soát và phát triển nguồn nguyên liệu chế biến thủy sản từ nuôi
trồng, khai thác và nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp chế biến,
phù hợp với nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; tuân thủ các điều kiện,
quy định của Việt Nam và thông lệ quốc tế; đảm bảo các yêu cầu về truy xuất
nguồn gốc, tránh gian lận thương mại.
Dự kiến nhu
cầu nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến cá tra trong tỉnh khoảng
khoảng 550.000 tấn vào năm 2025 và 600.000 tấn vào năm 2030 và 2050 (với định
mức tiêu hao nguyên liệu được giả định là 2,2kg nguyên liệu/kg thành phẩm). Để
đáp ứng nhu cầu nguyên liệu trên, giả sử các doanh nghiệp thu mua hoàn toàn từ
trong tỉnh thì lượng nguyên liệu trong tỉnh sẽ đáp ứng 88% Tuy nhiên, do hoạt
động chế biến thuỷ sản nói riêng cũng như bất cứ ngành nghề sản xuất kinh doanh
nào, việc ép buộc doanh nghiệp phải thu mua nguyên liệu trong tỉnh là khó khả
thi mặc dù điều này luôn được khuyến khích. Trong thời gian tới, với các giải pháp
liên kết trong sản xuất tiêu thụ cũng như cơ chế ràng buộc hợp đồng được tăng
cường, các doanh nghiệp chế biến trong tỉnh sẽ ưu tiên sử dụng nguồn nguyên
liệu tại chỗ phục vụ cho chế biến xuất khẩu.
Bảng 25.
Cân đối nhu cầu nguyên liệu chế biến cá tra đến năm 2030 tầm
nhìn đến năm 2050
|
Danh mục
|
Đvt
|
2020
|
2025
|
2030
|
2050
|
|
Nhu
cầu nguyên liệu
|
Tấn
|
550.000
|
550.000
|
600.000
|
600.000
|
|
Trong
tỉnh
|
nt
|
-
|
485.000
|
529.200
|
529.200
|
|
Ngoài
tỉnh
|
nt
|
-
|
65.000
|
70.800
|
70.800
|
|
Tỷ
trọng
|
%
|
100,0%
|
100,0%
|
100,0%
|
100,0%
|
|
Trong
tỉnh
|
nt
|
-
|
89,2%
|
88,2%
|
88,2%
|
|
Ngoài
tỉnh
|
nt
|
-
|
11,8%
|
11,8%
|
11,8%
|
c) Sản lượng chế biến
Tổng sản lượng chế biến đến năm
2020 đạt 565.777 tấn, tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid nên tỷ suất xuất
khẩu bị giảm sút, hàng chủ yếu tiêu thụ nội địa. Định hướng quy hoạch sản lượng
chế biến hướng mạnh vào xuất khẩu với tỷ trọng trên 80%, tiêu thụ nội địa duy
trì ở mức dưới 50.000 tấn mỗi năm còn sản lượng xuất khẩu trên 500.000 tấn. Quy
hoạch sản lượng chế biến đến năm 2030 là 630.000 tấn, 2050 là 650.000 tấn, với
kim ngạch xuất khẩu lần lượt là 1.200 triệu USD; 1.500 triệu USD tương ứng năm
2030 và 2050.
Bảng 26.
Quy hoạch sản lượng chế biến và tiêu thụ (XK và nội địa) đến năm 2030 định
hướng đến năm 2050.
|
Danh mục
|
ĐVT
|
2020
|
2025
|
2030
|
2050
|
|
Sản
lượng chế biến
|
Tấn
|
565.777
|
600.000
|
630.000
|
650.000
|
|
Giá
trị sản lượng
|
Tỷ đồng
|
47.525
|
50.400
|
53.000
|
55.000
|
|
Xuất
khẩu
|
Tấn
|
262.665
|
480.000
|
579.600
|
598.000
|
|
Tỷ
trọng
|
%
|
46,4%
|
80%
|
92,0%
|
92,0%
|
|
Kim
ngạch xuất khẩu
|
Tr.USD
|
720.4
|
980
|
1.200
|
1.500
|
|
Nội
địa
|
Tấn
|
303.112
|
120.000
|
50.400
|
50.000
|
|
Tỷ
trọng
|
%
|
53,6%
|
10%
|
8,0%
|
8,0%
|
d) Giá trị KNXK
Tỷ trọng giá trị xuất khẩu
sản phẩm thủy sản chế biến giá trị gia tăng trung bình trên 40% (trong đó: cá
tra đạt 60%, tôm đạt 10% và các thủy sản khác đạt 30%). Chủ động hội nhập quốc
tế, thu hút đầu tư, nguồn lực và mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao chất
lượng và đa dạng hóa sản phẩm chế biến đáp ứng nhu cầu thị trường xuất khẩu và
nội địa.
Giữ vững, phát triển thị
phần xuất khẩu tại các thị trường trọng điểm (Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Trung
Quốc, Nhật Bản,...), không ngừng mở rộng thị phần tại các thị trường tiềm năng
(Hàn Quốc, Trung Đông, Đông Âu, Nam Mỹ và Đông Nam Á... ). Củng cố và phát
triển chế biến thuỷ sản nội địa, mở rộng thị trường trong nước trên cơ sở đa
dạng hóa các sản phẩm, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người Việt Nam
e) Quy hoạch không gian chế biến thủy sản
Mở rộng, nâng cấp phát
triển công nghệ chế biến và thương mại. Phát triển chế biến thủy sản hiện đại,
hiệu quả và bền vững, đáp ứng được nhu cầu, quy định của thị trường tiêu thụ;
nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp tục hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị
toàn cầu căn cứ thực hiện Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11/3/2021 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045.
Các dự án đầu tư dưới dạng
nghiên cứu đổi mới công nghệ chế biến và tiêu thụ thủy sản của tỉnh trong giai
đoạn 2021-2030 tầm nhìn đến năm 2050 sẽ được gắng với các vùng quy hoạch nuôi
trồng thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá tại: cụm CN thị trấn Cái Tàu Hạ-An
Nhơn huyện Châu Thành (40,68 ha), cụm CN Vàm Cống 1 huyện Lấp Vò (43,1977 ha),
cụm CN Mỹ Hiệp (65,446 ha); cụm CN Phong Mỹ (5,75 ha); cụm CN Chế biến thực
phẩm An Bình (16 ha), cụm công nghiệp AN Lộc – An Bình A (34 ha).
IV.1.3.4. Hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật nghề cá
Xây dựng,
hoàn thiện quy hoạch ngành thuỷ sản Tỉnh đảm bảo đồng bộ quy hoạch từ khâu sản
xuất đến chế biến thuỷ sản. Tổ chức triển khai các chương trình, đề án, dự án
lĩnh vực thuỷ sản được phê duyệt.
- Hệ
thống thủy lợi
Đầu tư hệ
thống công trình thủy lợi ứng phó với biến đổi khí hậu,
nước biển dâng, nâng cấp hệ thống
bờ bao kiểm soát lũ, chống sạt lở, củng cố hạ tầng giao thông nông thôn, công trình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Hiện đại hóa hệ
thống thủy lợi phục vụ thủy sản bền vững và tạo điều kiện
thuận lợi ứng dụng công nghệ 4.0 vào hoạt động sản xuất.
Ưu tiên
bố trí nguồn vốn đầu tư nạo vét hệ thống kênh, rạch trên địa bàn các huyện,
thị xã, thành phố phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và nuôi trồng thủy
sản nói riêng.
Lắp đặt hệ
thống quan trắc, cảnh báo môi trường, thời tiết, thủy văn ở những khu vực
nhạy cảm. Tăng cường công tác kiểm
tra, kịp thời phát hiện và xử lý hành vi lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình
thủy lợi.
Huy động
các nguồn lực của trung ương, địa phương và các thành phần kinh tế đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng ngành thuỷ sản đồng bộ, an toàn dịch bệnh phù hợp quy hoạch,
đúng quy định của nhà nước, bao gồm: vùng sản xuất giống cá tra 3 cấp (tập trung tại các huyện Cao Lãnh, Lấp Vò, Tân Hồng, Châu Thành và
Tp.Hồng Ngự); vùng nuôi cá tra; vùng nuôi cá lồng bè và các vùng nuôi tập trung các loài thuỷ sản
khác; thực hiện điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản; hệ thống
quan trắc, cảnh báo môi trường, dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản.
- Hệ thống
giao thông
Nhiều dự án đầu tư hạ tầng được Trung ương triển khai thực
hiện cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là dự án cao tốc Trung
Lương - Mỹ Thuận, cùng với nhiều dự án đầu tư, phát triển kết cấu
hạ tầng của Tỉnh hoàn thành đưa vào sử dụng sẽ tạo thuận lợi cho việc
kết nối, lưu thông hàng hoá nông sản và tăng lợi thế cạnh tranh của Tỉnh.
Phát triển mạng lưới giao thông của Tỉnh kết nối đồng bộ với
mạng lưới giao thông của vùng, liên vùng, quốc gia, bảo đảm liên thông
và chuyển tiếp liên tục giữa hệ thống giao thông đối nội với hệ
thống giao thông đối ngoại, tạo điều kiện thuận lợi để kết nối với
các đô thị lớn trong khu vực và cả nước; đầu tư hạ tầng nông nghiệp,
nông thôn phục vụ thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp”, trong
đó có hạ tầng phục vụ phát triển Ngành thuỷ sản.
Mở rộng, nâng cấp các tuyến đường tỉnh, đường huyện và hệ
thống giao thông nông thôn hiện có và đầu tư xây dựng các tuyến đường
mới phục vụ cho phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là các tuyến đường
vào các khu nuôi tập trung.
- Hệ thống dịch vụ nghề cá
v
Dịch vụ phục vụ hoạt động khai thác thủy sản
Các dịch vụ cung ứng ngư cụ, nhiên liệu xăng dầu và các nhu yếu phẩm
khác phục vụ khai thác thủy sản tỉnh Đồng Tháp không chuyên biệt để phục vụ
riêng cho nghề khai thác thủy sản mà tận dụng các dịch vụ có sẵn trên địa bàn
tỉnh.
Về đóng sửa
ghe thuyền: Do nhu cầu cơ khí đóng sửa ghe thuyền nhỏ nên không phát triển các
cơ sở cơ khí đóng sửa chuyên biệt, mà chỉ dựa vào các cơ sở nông ngư cơ và cơ
khí trong các khu công nghiệp; đặc biệt gắn chặt với sự hỗ trợ của cơ khí, đóng
tàu của giao thông vận tải.
Tận dụng diện tích mặt nước dọc các tuyến sông để neo đậu các ghe, ưu tiên nâng cấp các chợ, khu
định cư của người làm nghề đánh bắt để thuận tiện cho người dân giao dịch mua
bán các sản phẩm thủy sản. Nâng cao trách nhiệm cộng đồng trong giữ gìn vệ sinh
môi trường tại các chợ, hoạt động đánh bắt, neo đậu không làm ảnh hưởng
xấu đến nguồn nước và luồng lạch giao thông đường thủy.
Dịch vụ du
lịch: Phát triển các mô hình thủy sản kết hợp với du lịch sinh thái như câu cá
giải trí, ẩm thực,….
v Dịch vụ tiêu thụ thủy sản
Đa dạng hóa kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm cả ở thị trường trong nước
và nước ngoài, chuyển dần sang tiếp thị sản phẩm một cách chủ động. Phát triển
các mô hình liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, sắp xếp lại hệ thống
nậu vựa, chợ thủy sản trong dân. Tăng cường công tác thông
tin, dự báo thị trường thủy sản giúp người dân định hướng phát triển sản xuất.
IV.1.4.
Các chương trình dự án ưu tiên
Bảng 27.
Danh mục các chương trình, đề án phát triển thủy sản trên địa bàn tỉnh Đồng
Tháp theo Kế hoạch số 242/KH-UBND ngày 10/08/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng
Tháp.
|
TT
|
Nhiệm
vụ
|
Cơ
quan, đơn vị chủ trì
|
Cơ
quan, đơn vị phối hợp
|
Thời
gian thực hiện
|
|
I
|
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC BỘ
MÁY, THỂ CHẾ
|
|
1
|
Hoàn thiện tổ chức bộ
máy:
|
|
|
|
|
1
|
Kiện toàn tổ chức, bộ
máy của hệ thống quản lý nhà nước về thuỷ sản
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện, thành phố
|
2021
- 2022
|
|
II
|
XÂY DỰNG VÀ TRIỂN
KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA, ĐỀ ÁN ƯU TIÊN THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
|
|
1.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Chương trình quốc gia bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
2.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Chương trình quốc gia phát triển khai thác thuỷ sản hiệu quả, bền
vững.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
3.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình quốc gia phát triển nuôi
trồng thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
4.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Đề án đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản và khai
thác thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
5.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Đề án phát triển chế biến và thương mại thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
6.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Đề án phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong ngành
thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
7.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
8.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Đề án nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
9.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Đề án phát triển đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
10.
|
Kế hoạch triển khai
thực hiện Đề án bảo vệ môi trường trong hoạt động thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Sau
khi Chính phủ ban hành
|
|
III
|
TỔ CHỨC SẢN XUẤT THUỶ
SẢN
|
|
|
|
|
1
|
Trong lĩnh vực bảo
tồn, phát triển nguồn lợi thuỷ sản
|
|
1.1.
|
Xây dựng Chương trình
điều tra đánh giá tổng thể nguồn lợi thuỷ sản và môi trường sống của các loài
thuỷ sản trên phạm vi cả nước
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Tổng cục Thủy sản
|
Cơ
quan, đơn vị, địa phương liên quan
|
Sau
khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai
|
|
1.2.
|
Tổ chức điều tra,
đánh giá tổng thể nguồn lợi thuỷ sản và môi trường sống của các loài thuỷ sản
trên phạm vi cả nước làm cơ sở bảo vệ, tái tạo và khai thác bền vững nguồn
lợi thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Tổng cục Thủy sản
|
Cơ
quan, đơn vị, địa phương liên quan
|
Sau
khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai
|
|
1.3.
|
Thực hiện thả bổ sung
các giống loài thuỷ sản có giá trị kinh tế, khoa học; loài thuỷ sản bản địa;
loài thuỷ sản đặc hữu vào vùng nước tự nhiên. Hình thành khu vực cư trú nhân
tạo cho loài thuỷ sản nguy cấp, quý, hiếm.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Cơ
quan, đơn vị, địa phương liên quan
|
Hàng
năm
|
|
1.4.
|
Triển khai đồng quản
lý trong bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Cơ
quan, đơn vị, địa phương liên quan
|
Hàng
năm
|
|
1.5.
|
Huy động các nguồn
lực tài chính cho bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Cơ
quan, đơn vị, hội, hiệp hội liên quan
|
2021
- 2030
|
|
1.6.
|
Thành lập Quỹ Bảo vệ
và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Tổng cục Thủy sản
|
Cơ
quan, đơn vị, hội, hiệp hội liên quan
|
2021
- 2030
|
|
1.7
|
Triển khai các nhiệm
vụ nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhân nuôi một số loài thuỷ sản nước
ngọt có giá trị phục vụ công tác bảo tồn và phát triển kinh tế theo Quyết
định số 908/QĐ-UBND-HC ngày 09/7/2021 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
|
Sở
Khoa học và Công nghệ
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
2021
- 2025
|
|
2
|
Nuôi trồng thuỷ sản
|
|
|
|
|
2.1.
|
Phát triển hệ thống
sản xuất giống, nuôi trồng thuỷ sản chất lượng cao gắn với các đối tượng nuôi
chủ lực, có giá trị kinh tế.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
UBND
huyện, thành phố và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất thuỷ sản
|
Hàng
năm
|
|
2.2.
|
Phát triển các hình
thức liên kết theo chuỗi từ sản xuất giống, thức ăn, nuôi trồng, chế biến,
thương mại thuỷ sản đảm bảo thân thiện môi trường, thích ứng biến đổi khí
hậu.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
UBND
huyện, thành phố và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất thuỷ sản
|
Hàng
năm
|
|
2.3.
|
Xây dựng kế hoạch
Quan trắc, cảnh báo và giám sát môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản giai
đoạn 2021- 2025 và tầm nhìn 2030
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
UBND
huyện, thành phố và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất thuỷ sản
|
2021
|
|
2.4.
|
Phát triển các mô
hình nuôi trồng thuỷ sản đảm bảo điều kiện an toàn thực phẩm và thực hành
nuôi trồng thuỷ sản tốt (GAP)
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
UBND
huyện, thành phố và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất thuỷ sản
|
Hàng
năm
|
|
2.5.
|
Quan trắc, cảnh báo
và giám sát môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
UBND
huyện, thành phố và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất thuỷ sản
|
Hàng
năm
|
|
2.6.
|
Triển khai phòng
chống dịch bệnh thuỷ sản
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
UBND
huyện, thành phố và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất thuỷ sản
|
Hàng
năm
|
|
2.7
|
Dự án Liên kết sản
xuất cá tra giống chất lượng cao tỉnh Đồng Tháp
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
UBND
huyện, thành phố và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất thuỷ sản
|
2022-2024
|
|
3
|
Khai thác thuỷ sản
|
|
|
|
|
3.1.
|
Tổ chức hoạt động
khai thác thuỷ sản hợp lý, gắn phát triển sinh kế của cộng đồng ngư dân với
phát triển nuôi trồng thuỷ sản, du lịch sinh thái, nghề cá giải trí.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND huyện, thành phố
|
Hội,
Hiệp hội thuỷ sản; tổ chức, cá nhân liên quan
|
Hàng
năm
|
|
3.2.
|
Giảm thiểu, tiến tới
chấm dứt các nghề khai thác có tính huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản, chuyển đổi
các nghề xâm hại lớn đến nguồn lợi, sử dụng nhiều nhiên liệu sang các nghề
thân thiện với môi trường và nguồn lợi thuỷ sản.
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND huyện, thành phố
|
Cơ
quan, đơn vị, cá nhân có liên quan;
|
Hàng
năm
|
|
4
|
Chế biến và tiêu thụ
sản phẩm
|
|
|
|
1.
|
Dự án đổi mới công
nghệ, phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm giá trị gia tăng cao có nguồn gốc
từ nguyên liệu, phụ phẩm thuỷ sản phục vụ các ngành thực phẩm và phi thực
phẩm
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở
Công Thương, UBND huyện, thành phố và doanh nghiệp chế biến
|
2022
- 2025
|
|
IV
|
GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ
THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
|
|
1.
|
Theo dõi, tổng hợp, đánh
giá tình hình thực hiện Kế hoạch triển khai Chiến lược
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Hàng
năm
|
|
2.
|
Sơ kết đánh giá kết
quả thực hiện Kế hoạch triển khai Chiến lược
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Quý
IV/2025
|
|
3.
|
Tổng kết đánh giá kết
quả thực hiện Kế hoạch triển khai Chiến lược
|
Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
|
Sở,
ban, ngành và UBND huyện, thành phố
|
Quý
IV/2030
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Chương
V:
CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH
V.1. Các giải pháp thực hiện
quy hoạch
V.1.1. Giải pháp về
quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực thủy sản
Là một trong những địa phương trọng điểm về nuôi trồng thủy sản ở
Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng Tháp đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng
ngành hàng cá tra và các loại thủy sản nước ngọt khác. Để quản lý hiệu quả lĩnh vực thủy sản, các giải pháp
quản lý Nhà nước cần được xây dựng và phát triển khai đồng bộ, đảm bảo phát triển
bền vững, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống dân dân. Công tác quản lý cần triển khai theo một số
nhóm giải pháp cụ thể như sau:
- Bảo đảm các quy định về nuôi trồng, khai thác,
chế biến và bảo vệ nguồn lợi thủy sản phù hợp với thực tiễn của Đồng Tháp. Tạo
điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp thông qua các chính sách ưu
đãi về vay vốn, thuế và chuyển giao công nghệ trong nuôi trồng thủy sản. Đồng
thời, đẩy mạnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về môi trường,
…đúng quy định.
-
Xây dựng quy hoạch chi tiết các vùng nuôi thủy sản sản trung, đặc biệt là vùng
nuôi cá tra, nhằm tối ưu hoá diện tích và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
-
Đầu tư vào nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học, nuôi trồng tuần hoàn, và
hệ thống giám sát chất lượng nước tự động. Tăng cường tổ chức các chương trình
đào tạo cho nông dân về kỹ thuật nuôi trồng hiện đại, quản lý dịch bệnh và sử dụng
thức ăn an toàn. Bên cạnh đó, liên kết với các Viện nghiên cứu và Trường đại học
để phát triển giống thủy sản chất lượng cao, kháng bệnh tốt, phù hợp với điều
kiện địa phương.
-
Tăng cường quản lý hoạt động khai thác thủy sản tự nhiên trên sông Tiền, sông Hậu
và các hồ, ao nội đồng để ngăn chặn tình trạng khai thác quá mức. Thực hiện các
chương trình thả cá giống tạo nguồn lợi thủy sản, bảo vệ các khu vực sinh sản tự
nhiên.
-
Đẩy mạnh quảng bá thương hiệu cá tra Đồng Tháp trên thị trường trong nước và quốc
tế. Hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân tham gia các hội chợ, triển lãm để tìm kiếm
đối tác và mở rộng thị trường xuất khẩu. Khuyến khích mô hình liên kết giữa
nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến để đảm bảo đầu ra ổn định và nâng
cao giá trị gia tăng.
-
Ngoài ra, cũng cần tập trung vào đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cao cho
các cán bộ phụ trách quản lý trực tiếp lĩnh vực thủy sản ở các cấp; Học hỏi
kinh nghiệm quản lý thủy sản từ các nước phát triển khác để áp dụng phù hợp với
địa phương mình.
V.1.2. Giải pháp cơ chế, chính sách
Triển khai kịp thời các cơ chế chính sách của Trung ương ban
hành, đồng thời cụ thể hoá các chính sách cho ngành thuỷ sản để giải
quyết các vấn đề còn tồn tại của nghề cá của tỉnh gắn với tổ chức
lại sản xuất, nâng cao giá trị gia
tăng và phát triển bền vững
các lĩnh vực của ngành và tại từng địa phương, trong đó:
- Ưu tiên thực hiện Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11/03/2021 của Thủ tướng
Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045.
- Ưu tiên thực hiện Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng
Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Ưu tiên thực hiện Quyết định số 1527/QĐ-BNN-TCTS ngày 27/04/2022 Ban
hành Kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai thực hiện Đề
án phát triển ngành chế biến thủy sản giai đoạn 2021 – 2030.
- Thực hiện Công văn số 458/UBND-TCD-NC ngày 07/9/2020, Công văn số
905/UBND-KT ngày 26/10/2020 của Ủy ban nhân dân Tỉnh về việc giao Sở Lao động
– Thương binh và Xã hội tham mưu UBND Tỉnh chính sách hỗ trợ vay vốn, tạo việc
làm, chuyển đổi nghề cho người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt thủy sản
bằng xung điện.
- Trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cần triển khai
thực hiện tốt Thông tư số
19/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Hướng dẫn về bảo vệ và phát triển NLTS; Quyết
định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch
tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm
2030; Quyết định số 188/QĐ-TTg
ngày 13 tháng 02 năm 2912 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương
trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Tiếp tục nghiên cứu, thực hiện các chính sách về huy động các nguồn lực,
chính sách đẩy mạnh đầu tư ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, thúc đẩy nhanh
chuyển đổi cơ cấu trong các lĩnh vực; khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh
nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất và hộ nông-ngư dân liên kết chặt chẽ với
các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước; tiêu thụ sản phẩm
thông qua hợp đồng; tăng cường tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, kỹ năng thực hành
cho lao động thuỷ sản; đầu tư, đổi mới hoạt động tư vấn hỗ trợ, chuyển giao
khoa học - công nghệ để nâng cao trình độ sản xuất của người dân.
- Ban hành chính sách hỗ trợ và tăng cường cơ sở vật chất,
nâng cao năng lực cho thanh tra và bảo vệ nguồn lợi. Ban hành quy định về vùng,
thuỷ vực nội đồng cấm khai thác, cấm khai thác có thời hạn nhằm bảo vệ nguồn lợi.
Cấp kinh phí xây dựng mô hình đồng quản lý ở các xã có nhiều hộ khai thác thủy
sản.
- Đặc biệt khuyến khích,
ưu đãi đầu tư đối với các dự án đầu tư nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt tập
trung, sản xuất giống, đặc biệt là các loại thuỷ đặc sản. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy
sản có điều kiện tiếp cận thị trường mới. Thực hiện thí điểm và tiến tới
thực hiện trên diện rộng việc bảo hiểm nuôi trồng thuỷ sản thâm canh,
bán thâm canh. Có cơ chế chính sách để các tổ chức (tổ hợp tác, hợp tác
xã) vay tín chấp thực hiện dự án đầu tư nuôi cá và thuỷ đặc sản.
- Được phép chuyển đổi đất trồng lúa, cây ăn trái hiệu quả thấp, bấp
bênh và đất bãi bồi, hoang hóa sang nuôi trồng thủy sản.
- Ưu tiên, hỗ trợ về kỹ thuật, vốn cho những người có chứng chỉ đào tạo
nghề.
- Có chính sách ưu tiên đầu
tư các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ vùng nuôi thủy sản tập trung, nhất là
vùng nuôi các đối tượng chủ lực của tỉnh.
- Thực hiện chính sách hỗ trợ các cơ sở chế biến đầu tư công nghệ thiết
bị hiện đại phục vụ chế biến sản phẩm GTGT; áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng tiên tiến.
V.1.3. Nhóm giải pháp tổ chức sản xuất và thị
trường tiêu thụ
a) Giải pháp tổ chức lại sản xuất
- Thiết lập mạng lưới liên kết sản xuất giống theo hướng chuyên môn hóa
cho từng công đoạn (cung cấp cá hậu bị/bố mẹ - cá bột - cá hương/cá giống) để tạo
ra con giống đảm bảo chất lượng, cân đối được sản lượng và nhu cầu con giống, kịp
thời phục vụ cho phát triển nuôi trồng thủy sản.
- Củng cố và phát triển các mô hình liên kết sản xuất theo các hình thức
như tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp...sản xuất theo quy mô
công nghiệp. Trên cơ sở đó xây dựng vùng nuôi tập trung, đầu tư cơ sở hạ tầng,
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các biện pháp quản lý tiên tiến (GAP, BMP,
ASC...) để tăng năng suất, sản lượng, đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực
phẩm, tạo ra nguồn nguyên liệu lớn cho các nhà máy chế biến và thị trường tiêu
thụ thủy sản. Đồng thời, gắn kết giữa người nuôi với khâu cung cấp vật liệu đầu
vào và khâu tiêu thụ đầu ra.
- Áp dụng hiệu quả các chương trình OCOP cho ngành thủy sản tại địa
phương.
- Trong thời gian tới tỉnh Đồng Tháp thiết thực hiện các kế hoạch cần tổ
chức, sắp xếp lại hoạt động nuôi cá tra và cá lồng bè trên sông.
- Phát huy vai trò hoạt động của Hội Thủy sản tỉnh Đồng Tháp theo hướng làm tốt vai trò phối hợp, hỗ trợ xây
dựng chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất giống, thức ăn – người nuôi
cá nguyên liệu – doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, tổ chức tín dụng và nhà nước
nhằm tổ chức sản xuất thủy sản theo hướng bền vững trên cơ sở hài hòa lợi ích
các thành phần tham gia trong chuỗi.
- Cơ quan quản lý chuyên ngành phải thực hiện tốt công tác quan trắc, cảnh
báo môi trường, dịch bệnh; hướng dẫn người nuôi áp dụng các biện pháp phòng ngừa
dịch bệnh; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
- Nghiên cứu tạo sinh kế mới cho cộng đồng ngư dân đang sử dụng các ngư
cụ và phương pháp khai thác gây sát hại nguồn lợi. Xây dựng chương trình và các
mô hình chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp cho cộng đồng ngư dân nghèo.
- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền giúp người sản xuất nắm
rõ và thực hiện; hướng dẫn các quy trình nuôi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm;
đồng thời, tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.
b) Giải pháp thị trường tiêu thụ
- Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại; tích cực tham gia các hội
chợ triển lãm trong nước và quốc tế; mở rộng hệ thống thông tin của ngành nhằm
cập nhật nhanh chóng thông tin về thị trường, giá cả, xây dựng website riêng với
thông tin trung thực, phong phú và giao diện hấp dẫn nhằm tạo điều kiện thuận lợi
trong việc quảng bá sản phẩm chủ lực của tỉnh.
- Kêu gọi các doanh nghiệp gắn kết với vùng nuôi để hình thành hệ thống
phân phối sản phẩm ổn định. Tổ chức các điểm thu mua tại các chợ hoặc các điểm
thu mua gắn với vùng nuôi tập trung; hình thành và phát triển mạng lưới cửa
hàng bán sản phẩm thủy sản tươi sống an toàn vệ sinh thực phẩm trên phạm vi
toàn tỉnh, có thể mở rộng đến các tỉnh bạn.
- Đối với những đối tượng nuôi chủ lực cần phải đăng ký thương hiệu
thương hiệu thủy sản của tỉnh như như cá tra, cá sặc rằn cần kêu gọi doanh nghiệp
đầu tư phát triển nhà máy chế biến và nghiên cứu sản xuất ra nhiều sản phẩm giá
trị gia tăng cao, cần có sự đầu tư mạnh vào sản xuất phụ phẩm cho chế biến cá tra
nhằm nâng cao giá trị gia tăng.
V.1.4. Giải pháp khoa học - công nghệ ngành thủy
sản
a) Trong nuôi trồng thủy sản
- Hoàn thiện quy trình sản xuất giống chất lượng cao, sạch bệnh cho các
đối tượng thủy sản chủ yếu của tỉnh. Ứng dụng kỹ thuật sản xuất giống các đối
tượng nuôi mới, có giá trị kinh tế cao và có khả năng thích ứng với biến đổi
khí hậu.
- Điều tra, nghiên cứu, đánh giá tổng thể điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội, môi trường để hoạch định kế hoạch sản xuất cho từng vùng trong tỉnh.
Trên cơ sở đó kêu gọi đầu tư cho những vùng sản xuất tập trung.
- Hoàn thiện công nghệ nuôi theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm đối với
các đối tượng nuôi chủ yếu và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Khuyến khích, tạo cơ chế thu hút nhà đầu tư
có năng lực tài chính đầu tư ứng dụng mô hình nuôi thủy sản theo công nghệ cao, cho một số đối tượng thủy
đặc sản có giá trị kinh tế cao hoặc sản xuất giống thủy sản chất lượng cao như ba ba, cá thát lát,
lươn...
Khuyến khích người dân nuôi thủy sản theo mô hình Aquaponics.
- Nghiên cứu, phát triển những mô hình nuôi thủy sản thích ứng với biến
đổi khí hậu.
- Xây dựng và tuyên truyền nhân rộng mô hình khuyến ngư mang lại hiệu
quả cao.
- Phối hợp với các viện, trường nghiên cứu để đẩy mạnh công tác chuyển
giao các quy trình sản xuất giống, quy trình nuôi đã nghiên cứu thành công của
các đối tượng có giá trị kinh tế.
- Nghiên cứu các biện pháp phòng và điều trị hiệu quả một số bệnh thường
gặp trên thuỷ sản. Phát triển các kỹ thuật chuẩn đoán, điều trị và kiểm soát dịch
bệnh thủy sản. Ứng dụng các loại vaccine, các chất nâng cao sức đề kháng để
phòng ngừa các bệnh thường xảy ra. Ứng dụng công nghệ biofloc, công nghệ sử dụng
các chế phẩm sinh học trong phòng trừ dịch bệnh và xử lý
môi trường ao nuôi.
- Tổ chức đăng ký các đề tài, dự án nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm về
lĩnh vực thủy sản, ưu tiên các hướng nghiên cứu mới, có triển vọng và được hỗ
trợ bằng nguồn vốn ngân sách.
b) Trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Nghiên cứu các hình thức sơ chế, bảo quản và nâng cao giá trị cho các
sản phẩm thủy sản khai thác.
- Nghiên cứu, đánh giá tác động của nông dược, phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật đến nguồn lợi thủy sản. Qua đó xây dựng các tiêu chuẩn về sử dụng an
toàn các loại thuốc bảo vệ thực vật, chất xử lý môi trường nước, phân bón, các
hoá chất trong công nghiệp......đối với môi trường tự nhiên của các thuỷ vực.
- Nghiên cứu, khoanh vùng khu vực các bãi cồn có ốc gạo tự nhiên và một
số loài nhuyễn thể mới xuất hiện trở lại trong thủy vực.
- Khôi phục và bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản, đặc biệt
là các khu sinh sản, nơi tập trung cá bố mẹ, con non.
- Áp dụng các mô hình quản lý trong công tác bảo vệ nguồn lợi….
- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và tổ chức quản lý, giám sát
cộng đồng để quản lý môi trường, quản lý khai thác thủy sản và áp dụng các hình
thức xử phạt nghiêm đối với các cơ sở sản xuất không tuân thủ quy định pháp luật
về bảo vệ môi trường, về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
- Thực hiện nghiêm các quy định về cấm khai thác một số đối tượng thủy
sản trong mùa sinh sản, khai thác thủy sản bằng các công cụ hủy hoại môi trường,
tận thu, tận diệt nguồn lợi thủy sản.
- Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân trong công
tác bảo vệ môi trường, khai thác và tái tạo nguồn lợi thủy sản.
c) Trong chế biến và bảo quản sản phẩm
- Tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp chế biến thuỷ hải sản theo quy
trình khép kín và tự động hoá với các thiết bị hiện đại trong chế biến thủy sản.
- Hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ tận thu phế phẩm thuỷ sản (đầu,
xương, da, vỏ, nội tạng) sản xuất Collagen, Gelatin, bột đạm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, chiết rút mỡ cá
với nhiều ứng dụng trong thực tế.
- Khuyến
khích ứng dụng các chế phẩm sinh học, các chất phụ gia thiên nhiên, ứng dụng
công nghệ enzyme, lên men trong chế biến và bảo quản sản phẩm, hạn chế sử dụng
các loại hóa chất độc hại, không rõ nguồn gốc.
- Tăng hiệu lực thi hành đối với Luật Công nghệ cao số 13/2014/QH12 để
kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, chế biến
thủy sản, ưu tiên ứng dụng những công nghệ phù hợp với khả năng đầu tư của
doanh nghiệp cũng như điều kiện thực tế của tỉnh.
- Khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin, tự động hóa
trong quy trình sản xuất, bảo quản, chế biến, quản lý lưu trữ dữ liệu, truy
nguyên nguồn gốc xuất xứ hàng hoá, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của các thị
trường.
V.1.5. Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu,
bảo vệ môi trường và phòng chống dịch bệnh
a) Ứng phó với biến đổi khí hậu
- Thực hiện tốt Nghị quyết 120/NQ-CP, ngày 17/11/2017 của Chính phủ về
phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu
(ngành đã có báo cáo và các giải pháp thực hiện Nghị quyết cả trong ngắn hạn và
dài hạn).
b) Bảo vệ môi trường và phòng chống dịch bệnh
- Cơ quan quản lý chuyên ngành phải thực hiện tốt công tác quan trắc, cảnh
báo môi trường, dịch bệnh; hướng dẫn người nuôi áp dụng các biện pháp phòng ngừa
dịch bệnh; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
- Triển khai thực hiện Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường, dịch bệnh
thủy sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đến năm 2030.
- Hàng năm tổ chức thả thủy sản giống ra các dòng sông để phục hồi, tái
tạo nguồn lợi và tạo sinh kế cho người dân.
- Tuyên truyền, xây dựng mô hình mẫu về quản lý nguồn lợi thủy sản có sự
tham gia của cộng đồng.
V.1.6. Giải pháp hạ tầng kỹ thuật phục vụ vùng
NTTS tập trung
Vốn cho hạ tầng cơ bản chủ yếu do ngân sách nhà nước đầu tư, bởi vì các
hạng mục đầu tư đều là công trình đầu mối và kênh cấp 2 trở lên. Mặc dù vậy nếu
tỉnh có chính sách thu hút đầu tư tốt (có thể do Ban xúc tiến đầu tư), các nhà
đầu tư và doanh nghiệp hoàn toàn có thể bỏ vốn đầu tư toàn bộ hoặc một phần hạ
tầng tại vùng nuôi của họ, nhà nước chỉ hỗ trợ về quy hoạch chi tiết cho từng
vùng.
Tuy nhiên cũng có một vài hạng mục nhỏ có thể huy động vốn của nhân dân
đóng góp nhưng nhà nước phải lập dự án, người dân chỉ góp tiền thi công. Vốn
nhà nước cũng được huy động từ nhiều nguồn: do Trung ương đầu tư từ nguồn ngân
sách đầu tư hạ tầng cho TS, ngân sách tỉnh và huyện.
Ở các vùng nuôi cá tra tập trung khi đã có điện 3 pha, đường bê tông xe
bốn bánh đi được, giá cá Tra tốt thì sẽ thu hút được các nhà đầu tư, các kênh
thoát phía sau khu ao nuôi sẽ được người dân hiến đất hoặc tự đầu tư đào kênh,
nhà nước sẽ không phải đầu tư kênh đó nữa.
Trong quá trình thi công các hạng mục công trình cần mất một phần diện
tích đất. Do vậy cần có giải pháp tổ chức dồn điền đổi thửa: giả sử khi diện
tích đất cho hạ tầng là 20%, sau khi đầu tư hạ tầng thì chia lại mỗi hộ sẽ được
nhận 80% diện tích của mình. Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi của người dân thì
diện tích để xây dựng hạ tầng vẫn thuộc về họ, sau này có đền bù giải tỏa họ vẫn
được hưởng.
Sử dụng các cầu sắt có ưu điểm là giá thành hạ, thi công nhanh, đáp ứng
được nhu cầu vận chuyển trong NTTS, không lãng phí khi các ngành khác quy hoạch
vì nó được tháo dỡ nhanh chóng chuyển đi cho vùng khác.
Kiến nghị ngành điện có kế hoạch xây dựng các tuyến điện phục vụ riêng
cho thủy sản và kế hoạch sản lượng cung cấp điện cho thủy sản.
V.1.7. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
ngành thủy sản
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức quản lý nhà nước ở các
cấp nhằm phát huy hiệu quả quản lý trên lĩnh vực quản lý thủy sản.
- Thường xuyên củng cố, nâng chất đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến
ngư nhằm phục vụ tốt nhất về hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao, ứng dụng công nghệ
cho người nông dân trong sản xuất thủy sản.
- Có chính sách ưu đãi, thu hút lao động có trình độ chuyên môn cao
tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và sản xuất thủy sản.
- Kết hợp với các viện,
trường để đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp.
- Thông qua tổ chức khuyến ngư, định kỳ mở các lớp
bồi dưỡng ngắn hạn về kỹ thuật và chuyển giao kỹ thuật cho người sản xuất.
- Triển khai có hiệu quả đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo
Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009, chú trọng lao động thủy sản nhằm tăng
cường hiệu quả sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cao vào sản xuất, nâng cao
chất lượng, giá trị gia tăng cho thủy sản.
- Chú trọng chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động,
qua đó nâng cao năng suất, khuyến khích người lao động gắn bó với nghề.
V.1.8. Giải pháp vốn
đầu tư
- Vốn kêu gọi từ các thành phần kinh tế: kêu gọi mọi thành phần kinh tế
đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thủy sản theo Luật đầu tư,
Luật doanh nghiệp, Luật Công nghệ cao và các chính sách khuyến khích đầu tư hiện
hành.
- Vai trò của các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp, người sản xuất được vay vốn sản xuất kinh
doanh thủy sản theo các quy định hiện hành. Hỗ trợ tín dụng cho các ngư dân làm
nghề, ngư cụ, khu vực cấm khai thác thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh: Nghị định
61/2015/NĐ-CP ngày 09/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chính sách hỗ
trợ tạo việc làm và quỹ quốc gia về việc làm; Quyết định 306/QĐ-Ttg, ngày
26/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ về Điều chỉnh mức cho vay đối với hộ gia
đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn;…
Ngoài các nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương, sẽ tiến hành đa dạng hóa các
hình thức huy động vốn thông qua cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường
đầu tư; triển khai công tác xúc tiến đầu tư, xây dựng các cơ chế, chính sách
khuyến khích đầu tư; đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế; chú trọng thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp ngoài tỉnh, vốn FDI, ODA, trái
phiếu…; huy động tối đa nguồn vốn từ quỹ đất và các hình thức đầu tư khác để
phát triển đô thị và công thương nghiệp, phát triển kết cấu hạ tầng; phát triển
thị trường tài chính; đẩy nhanh xã hội hóa trong các lĩnh vực y tế, giáo dục,
văn hóa - thể thao, xây dựng và vận hành, chuyển giao các kết cấu hạ tầng.
Sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, các
nguồn vốn từ Trung ương thông qua các chương trình phát triển và các cơ chế,
chính sách ưu đãi. Chủ động xây dựng kế hoạch, phân kỳ đầu tư phù hợp bảo đảm vốn
cho các công trình, dự án trọng điểm, nhất là các dự án lớn về giao thông, thủy
lợi phát triển cơ sở hạ tầng.
Xây dựng các dự án hạ tầng hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, dịch
vụ trên cơ sở tính toán hiệu quả để thu hút các nguồn vốn vay tín dụng của Nhà
nước. Bố trí nguồn ngân sách nhà nước cho các hoạt động bảo vệ và phát triển
NLTS, hoạt động bảo tồn, đặc biệt là các hoạt động điều tra đánh giá tổng thể
NLTS; xây dựng cơ sở dữ liệu làm cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, tỉnh cần có giải pháp về cơ chế cho phép thành lập các quỹ
tài chính lấy nguồn từ các hoạt động dịch vụ thông qua các mô hình kết hợp bảo
tồn, bảo vệ NLTS với du lich sinh thái, phát triển kinh tế xanh với du lịch...tạo
thêm nguồn kinh phí nhằm duy trì và thúc đẩy các hoạt động bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thủy sản một cách hiệu quả và bền vững hơn.
V.2. Tổ chức thực
hiện quy hoạch
V.2.1. Phê duyệt và công
bố quy hoạch
Sau khi UBND Tỉnh phê duyệt “Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn
đến năm 2050”, thực hiện công khai Quy hoạch đến các ngành có liên quan, các địa
phương để phối hợp tổ chức thực hiện.
Báo cáo Bộ quản lý ngành nhằm tranh thủ sự chỉ đạo và hỗ trợ trong quá
trình thực hiện quy hoạch.
V.2.2. Trách
nhiệm của các ngành, các cấp
v Sở Nông nghiệp và Môi trường:
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành và Ủy
ban nhân dân các huyện, thành phố tổ chức triển khai thực hiện “Quy hoạch tỉnh
Đồng Tháp thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050” đạt mục tiêu đề ra; theo
dõi, tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện, đề xuất điều chỉnh,
bổ sung cơ chế chính sách thúc đẩy thực hiện Quy hoạch đạt hiệu quả cao.
- Phối hợp với các huyện, thị xã và thành phố quản
lý quỹ đất dành cho phát triển thuỷ sản; Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám
sát việc thực hiện Luật bảo vệ môi trường, đồng thời tạo điều kiện hỗ trợ tạo
điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn từ Quỹ bảo vệ môi trường để đầu
tư xây dựng hệ thống xử lý môi trường đạt chuẩn.
- Tổ chức chỉ đạo và hướng dẫn các địa phương thực
hiện quy hoạch phát triển thuỷ sản trên địa bàn tỉnh, chủ động rà soát, bổ sung
quy hoạch phát triển các lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu thuộc ngành phù hợp với quy
hoạch tổng thể và yêu cầu thực tế. Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện
trên thực tế.
- Chủ trì và phối hợp các ngành chức năng rà soát, bổ sung cơ chế,
chính sách nhằm tăng cường thu hút đầu tư phát triển các lĩnh vực có lợi thế
theo mục tiêu, định hướng quy hoạch.
- Rà soát chức năng nhiệm vụ, xây dựng đề án tổng
thể về tổ chức bộ máy của ngành thủy sản để nâng cao năng lực quản lý, định hướng
phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành trong giai đoạn sắp tới.
- Tập trung thực hiện các công trình kết cấu hạ
tầng nghề cá; xây dựng và triển khai các chương trình các đề án đã đề ra trong
quy hoạch.
- Tranh thủ sự hỗ trợ của Bộ NN&MT về vốn,
khoa học – công nghệ, đào tạo, xúc tiến thương mại; tài trợ của các tổ chức quốc
tế phục vụ sự nghiệp phát triển ngành.
- Định kỳ rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời
Quy hoạch cho phù hợp với điều kiện thực tế.
Các sở, ngành liên quan:
- Sở Tài chính: Trên cơ sở quy hoạch,
dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ưu tiên bố trí vốn đầu tư cho
các công trình hạ tầng phát triển thuỷ sản hằng năm. Phối hợp kêu gọi vốn đầu
tư, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển thuỷ sản trên cả 04 lĩnh vực:
khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ thuỷ sản; Đảm bảo các chính
sách tài chính cho việc thực hiện quy hoạch, phối hợp Sở NN&PTNT xây dựng
cơ chế chính sách phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện của địa phương nhằm
thúc đẩy phát triển thủy sản
- Sở Công Thương: Phối hợp và hỗ trợ ngành Thủy sản triển khai mạnh mẽ
hoạt động xúc tiến thương mại nhằm giới thiệu quảng bá thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm
thủy sản trong và ngoài nước; chủ trì và phối hợp với Sở NN&PTNT trong việc
thực hiện xây dựng chợ thủy sản đầu mối và chợ thủy sản nông thôn vùng tập
trung nguyên liệu.
-
Sở Khoa học và
công nghệ: Hỗ trợ doanh nghiệp
chế biến thủy sản xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP,
ISO,… Hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp, hội nghề nghiệp trong ngành thủy sản
xây dựng thương hiệu sản phẩm.
-
Các Sở Văn hoá Thể thao và
Du lịch, Xây dựng, Giao thông - Vận tải và các ngành có liên quan khác trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình có
trách nhiệm phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ Sở NN&PTNT trong việc tổ chức thực
hiện quy hoạch phát triển ngành thuỷ sản.
v Ủy ban nhân dân các huyện và thành phố:
Phối hợp với Sở NN&MT trong quản lý, tổ chức thực hiện và kiểm tra
thực hiện quy hoạch phát triển thuỷ sản trên địa bàn. Cụ thể hóa quy hoạch, định
hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, sản phẩm trong kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội hằng năm, 5 năm của địa phương.
Phối hợp địa phương kiểm tra công tác quản lý quy hoạch vùng
sản xuất nuôi trồng thủy sản, tránh tình trạng ô nhiễm môi trường.
Thực hiện chuyển giao và nhân rộng công nghệ nuôi thủy sản tiên tiến
vào sản xuất nhằm giảm giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng và hiệu
quả kinh tế.
Triển khai thực hiện đề án sản xuất giống cá tra 3 cấp trên
địa bàn tỉnh để đảm đảm cung cấp con giống chất lượng cho người
dân.
Thực hiện công tác quan trắc môi trường nước tại vùng nuôi
thủy sản tập trung nhằm kịp thời cảnh báo cho người nuôi về điều kiện
bất lợi để phòng ngừa.
Chương VI:
KẾT
LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
VI.1. Kết luận
“Quy
hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021-2025, là căn cứ pháp lý để địa phương tổ chức,
triển khai thực hiện quy hoạch, lập kế hoạch phát triển sản xuất cho hàng năm
trong đó có Ngành Thủy sản.
Quy
hoạch đã xây dựng được hệ thống các quan điểm, định hướng và các mục tiêu phát
triển dựa trên trên cơ sở khoa học, các luận chứng, luận cứ từ đó đề xuất được
các dự án và hệ thống các giải pháp mang tính khả thi nhằm mục tiêu là phát triển
bền vững khu nuôi, chế biến thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp.
Quy
hoạch được công bố, triển khai giám sát thực hiện tốt sẽ đạt được các chỉ tiêu
đề ra như sau:
-
Tổng diện tích tự nhiên nuôi thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đến năm 2025
sẽ tăng lên là 17.500 ha và tiếp tục tăng đến năm 2030 sẽ là 18.300 ha. Trong
đó, tăng diện tích nuôi đối tượng chủ lực của tỉnh là con cá tra lên 3.506 ha
(2025) và đạt 4.615 ha (2030); Bên cạnh đó, cá lồng bè cũng sẽ được tỉnh tập
trung phát triển, phấn đấu đến năm 2025 sẽ tăng lên là 5.200 chiếc và đến năm
2030 sẽ là 6.000 chiếc.
- Tổng sản lượng thuỷ sản sản xuất đến năm 2025 đạt 749.300 tấn. Trong
đó, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản 731.300 tấn, sản lượng khai thác thuỷ sản
18.000 tấn. Đến năm 2030 sẽ tăng lên là 974.200 tấn. Trong đó, sản lượng thuỷ sản
nuôi trồng 957.200 tấn, sản lượng thuỷ sản khai thác 17.000 tấn.
- Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đến năm 2030 đạt khoảng 1.2 tỷ USD
và định hướng đến năm 2050 sẽ phấn đấu ở
mức 1,5 tỷ USD.
VI.2. Kiến nghị
Sau khi quy hoạch được phê duyệt cần khẩn trương triển khai quy hoạch đến
từng địa phương đưa bản quy hoạch vào thực tiễn cuộc sống.
Tổ chức xây dựng các chương trình, dự án đầu tư kịp thời, làm căn cứ
cho việc đầu tư vào sản xuất.
Công tác phối hợp liên ngành phải triển khai thực hiện ngay sau khi quy
hoạch được phê duyệt, để định hướng đầu tư có hiệu quả và phân cấp quản lý phù
hợp.
Theo số liệu trong báo cáo, diện tích nuôi cá lồng bè tại địa phương hiện
đang phát sinh vượt mức cho phép và nằm ngoài vùng quy hoạch. Việc neo đậu lồng
bè không đúng quy hoạch, lấn chiếm luồng đường thủy nội địa và hành lang bảo vệ
luồng gây cản trở giao thông đường thủy nội địa trên địa bàn Tỉnh. Vì vậy,
trong giai đoạn tới việc sắp xếp, siết chặt quản lý nuôi cá lồng bè ngoài vùng
quy hoạch và không để phát sinh thêm các hộ nuôi cũng cần được Tỉnh đặc biệt
quan tâm chú ý.