CHƯƠNG TRÌNH
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN
2011-2015
(Kèm theo Quyết định số 2600 /QĐ-UBND ngày 10 tháng 8 năm 2011 của UBND tỉnh
Thanh Hóa)
Phần I
THỰC TRẠNG
LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
1. Đánh giá chung
Thanh Hóa là tỉnh có nguồn nhân lực dồi dào,
theo kết quả điều tra Dân số và nhà ở ngày 01/04/2009, thì dân số trung bình của
tỉnh 3.400.239 người (khu vực thành thị 354.880 người, khu vực nông thôn
3.045.359 người). Lao động trong độ tuổi là 2.068.555 người chiếm 60,83% dân số.
Sau 5 năm thực hiện Kế hoạch giải
quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2010, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, sự quan tâm chỉ đạo
của các ngành, các cấp, đoàn thể, các huyện, thị xã, thành
phố và các xã, phường, thị trấn cùng với sự tham gia tích cực của người dân và
sự thay đổi nhận thức về công tác giải quyết việc làm của người lao động, kết
quả đạt được như sau:
- Trong 5 năm 2006 - 2010 toàn tỉnh
đã giải quyết việc làm cho 254.027 lao động, đạt 101,6% so với mục tiêu, bình
quân mỗi năm tạo việc làm cho trên 50.800 lao động.
- Cơ cấu lao động chuyển dịch theo
hướng tích cực, tỷ lệ lao động trong khu vực Nông - lâm - ngư nghiệp giảm xuống
55%; Công nghiệp - xây dựng tăng lên 25% và Dịch vụ tăng lên 20% vào năm 2010,
đạt 100% kế hoạch.
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực
thành thị xuống 4,15% (mục tiêu là 4,5%) và giảm tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực
nông thôn xuống 7,3% ( mục tiêu là 7,5%) vào năm 2010, vượt mục tiêu kế hoạch.
- Chất lượng lao động từng bước được
nâng lên, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40% năm 2010. Trong đó lao động qua
đào tạo nghề chiếm 27,2%, vượt mục tiêu kế hoạch (27%).
(Có Phụ lục I, Phụ lục II, Phụ
lục III kèm theo)
2. Những hạn
chế, tồn tại
- Chất lượng việc làm chưa cao,
tính ổn định, bền vững trong việc làm và hiệu quả tạo việc làm còn thấp.
- Doanh nghiệp tăng nhanh nhưng chủ
yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp gia đình, tiền lương của người lao
động thấp nên chưa khuyến khích, thu hút được người lao động vào làm việc tại
các doanh nghiệp trong tỉnh.
- Xuất khẩu lao động chưa được một
số địa phương quan tâm, chỉ đạo đúng mức. Giai đoạn 2006 - 2010 công tác xuất
khẩu lao động của tỉnh thu được kết quả đáng khích lệ nhưng chưa tương xứng với
nguồn nhân lực và nhu cầu của nhân dân trong tỉnh.
- Chất lượng nguồn lao động thấp,
tay nghề của lao động chưa đáp ứng được theo nhu cầu của thị trường lao động
trong và ngoài nước.
3. Nguyên nhân hạn chế, tồn tại
a) Nguyên nhân khách quan
- Trong giai đoạn 2006 - 2010 do
cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu làm cho các nước tiếp nhận lao động Việt Nam
đều giảm số lượng hoặc không tiếp nhận lao động mới. Trong nước, đầu tư nước
ngoài giảm mạnh các doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động có xu hướng cắt giảm
nhân công dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, mất việc làm cho người lao động.
- Mức lương tối thiểu do Nhà nước
quy định quá thấp so với chi phí tiêu dùng hiện nay. Các doanh nghiệp áp dụng
trả lương cứng nhắc, chưa phản ánh đúng thực tế thị trường lao động; mức lương
thấp, đặc biệt trong ngành da giày, dệt may, chế biến thủy sản… nên không khuyến
khích được người lao động yên tâm làm việc lâu dài cho doanh nghiệp.
b) Nguyên nhân chủ quan
- Công tác lãnh đạo và tuyên truyền
chưa thường xuyên, chưa đồng bộ. Bộ máy quản lý lao động và giải quyết việc làm
chưa được tăng cường; chế độ thông tin báo cáo chưa đầy đủ, chính xác, kịp thời.
- Nội lực phát triển nền kinh tế -
xã hội trên địa bàn tỉnh hàng năm mới chỉ thu hút được 80% số lao động có nhu cầu
việc làm. Hệ thống thông tin thị trường lao động, chưa phát triển mạnh. Sàn
giao dịch việc làm hoạt động mới đáp ứng được 15 - 20% nhu cầu cần thông tin của
người lao động tìm việc làm và học nghề.
- Một số dự án đã thu hồi đất, chậm
triển khai làm cho một bộ phận lao động, đặc biệt là lao động nông thôn không
có việc làm. Nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm quá ít chưa đáp ứng được nhu
cầu của nhân dân.
- Các cơ sở dạy nghề chưa thực sự
được đầu tư đúng mức về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cũng như chương
trình và giáo trình dạy nghề chậm đổi mới. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy
nghề chưa đảm bảo cơ cấu, chủng loại, thiếu kinh nghiệm thực tế. Quy mô dạy nghề
tăng song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Cơ cấu trình độ, cơ cấu nghề đào tạo
chưa phù hợp; chưa bổ sung kịp thời các nghề mới theo yêu cầu của thị trường
lao động.
Phần II
MỤC TIÊU, NHIỆM
VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TỈNH THANH HOÁ GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
I. DỰ BÁO TÌNH
HÌNH LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
1. Dự báo dân số - lao động
giai đoạn 2011 - 2015
- Năm 2011, dân số trung bình của
tỉnh khoảng 3.423.000 người, số người trong độ tuổi lao động là 2.237.000 người
(chiếm 65,35% dân số).
- Năm 2015, dân số trung bình của
tỉnh khoảng 3.484.000 người, số người trong độ tuổi lao động là 2.333.000 người
(chiếm 66,96% dân số).
Nhìn chung theo dự báo, về cơ bản
quy mô lực lượng lao động tỉnh ta tiếp tục tăng, tốc độ tăng bình quân giai đoạn
2011 - 2015 khoảng 1,3%/năm, tương ứng khoảng 25.000 - 26.000 lao động/năm.
(Có Phụ lục IV kèm theo)
2. Nhu cầu giải quyết việc làm
giai đoạn 2011 - 2015
Bình quân mỗi năm khoảng 30.000 -
35.000 người bước vào tuổi lao động cùng với số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ
trở về địa phương; số học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề ra trường về tỉnh tìm việc làm; lao động thiếu việc làm trong
các doanh nghiệp, lao động bị mất đất sản xuất do chuyển mục đích sử dụng; số
lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài về nước; số lao động thất nghiệp ở
thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn và số người chưa được giải quyết việc làm
của giai đoạn 2006 - 2010 chuyển sang. Mỗi năm khoảng 60.000 lao động có nhu cầu
được giải quyết việc làm.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Tạo việc làm mới và bảo đảm việc
làm cho người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc.
Đảm bảo việc làm có thu nhập ổn định,
nâng cao đời sống cho người dân, đồng thời giảm tối đa số người đang thất nghiệp,
thiếu việc làm và góp phần tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động.
2. Mục tiêu cụ thể
Giải quyết việc làm cho 300.000
lao động, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 60.000 người. Trong đó:
+ Chương trình phát triển kinh tế,
xã hội tạo việc làm cho 200.000 người.
+ Xuất khẩu lao động giải quyết việc
làm cho 60.000 người.
+ Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm
cho 40.000 người.
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành
thị xuống 3,7% và thiếu việc làm ở nông thôn còn 6,3% vào năm 2015.
- Chuyển dịch cơ cấu lao động:
Nông - lâm - ngư nghiệp xuống 40%; Công nghiệp - xây dựng lên 32% và Dịch vụ
lên 28% vào năm 2015.
- Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo
lên 55%. Trong đó, lao động qua đào tạo nghề đạt 40% vào năm 2015.
III. PHẠM VI,
THỜI GIAN
Tất cả những người lao động trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động và nhu cầu tìm kiếm việc làm trong tỉnh.
- Thời gian thực hiện chương trình
là 5 năm từ 01/01/2011 đến 31/12/2015.
IV. NHIỆM VỤ
1. Tập trung
chuyển dịch cơ cấu lao động từ ngành nông - lâm - ngư nghiệp sang các ngành
công nghiệp - xây dựng và dịch vụ
Từng bước phát triển một số ngành
công nghiệp, công nghệ cao. Đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành
nghề nông thôn. Tập trung xây dựng và thực hiện các chương trình, các dự án
phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng các chương trình trọng tâm của
tỉnh: Chương trình phát triển Khu Kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp, khu
công nghệ cao; Chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới;
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Thanh Hóa; Chương trình phát
triển kinh tế - xã hội vùng biển; Chương trình phát triển nguồn nhân lực, thực
hiện giải quyết việc làm cho 200.000 lao động, bình quân mỗi năm giải quyết việc
làm cho 40.000 lao động.
a) Phát triển các ngành kinh tế để
tạo việc làm
- Phát triển ngành công nghiệp -
xây dựng giải quyết việc làm cho 100.000 lao động.
Phát triển nhanh, vững chắc các
ngành công nghiệp có vai trò nền tảng, tạo bước đột phá về tăng trưởng và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng công nghiệp - xây dựng bình
quân hàng năm đạt 22,3%.
Tập trung ưu tiên phát triển các
ngành công nghiệp cơ bản, công nghiệp công nghệ cao như: Lọc hóa dầu, luyện
kim, cơ khí chế tạo, điện tử; tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp có tiềm
năng, sử dụng nhiều lao động như: Xi măng, sản xuất VLXD, thủy điện, may mặc,
da giầy và phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản. Tạo điều kiện
thuận lợi để sớm hoàn thành các dự án công nghiệp lớn. Tiếp tục khôi phục và
phát triển các làng nghề thủ công truyền thống tạo việc làm ổn định cho lao động.
Khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất những ngành nghề có sử dụng
nhiều lao động về các cụm công nghiệp ở vùng nông thôn để sử dụng nguồn nhân lực
tại chỗ.
- Phát triển ngành dịch vụ giải
quyết việc làm cho 60.000 lao động.
Phát triển nhanh, đa dạng và nâng
cao chất lượng các loại hình dịch vụ nhằm tạo ra nhiều việc làm, đóng góp lớn
vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân hàng năm
đạt 16,8%.
Phấn đấu đến năm 2015 đưa Thanh
Hoá trở thành trọng điểm du lịch trong hệ thống du lịch quốc gia; hoạt động du
lịch thực sự trở thành ngành kinh tế có thế mạnh, góp phần giải quyết việc làm,
tăng thu nhập cho người lao động.
- Phát triển ngành nông - lâm
- thuỷ sản giải quyết việc làm cho 40.000 lao động.
Phát triển toàn diện ngành nông
nghiệp, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo
hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, gắn với công nghiệp chế biến; từng bước
hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp, chủ động ứng phó với thiên tai.
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm toàn ngành đạt 3,5%.
Ổn định diện tích cây lương thực,
tiếp tục thực hiện tốt Đề án xây dựng vùng thâm canh lúa năng suất, chất lượng,
hiệu quả cao; đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu mùa vụ. Phát triển chăn nuôi theo hướng
trang trại, công nghiệp, gắn với chế biến; nâng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị
sản xuất nông nghiệp góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động
nông thôn, miền núi.
Phát triển lâm nghiệp cả bảo vệ,
khoanh nuôi, trồng mới và khai thác hợp lý tài nguyên rừng; nhân rộng các mô
hình sản xuất nông, lâm kết hợp tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập từ rừng.
Phát triển thuỷ sản cả đánh bắt và nuôi trồng theo hướng nâng cao hiệu quả, tạo
nguồn nguyên liệu ổn định cho chế biến xuất khẩu.
Phát triển bền vững các làng nghề
truyền thống, ưu tiên cho các đối tượng lao động phải chuyển đổi nghề do chuyển
đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp.
b) Phát triển các vùng kinh tế để
giải quyết việc làm
- Vùng đồng bằng: Xây dựng các
vùng chuyên canh cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm và các vùng
chăn nuôi tập trung; phát triển các ngành công nghiệp lắp ráp ô tô, xi măng,
công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến, điện tử tin học, công nghiệp sử dụng nhiều
lao động, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn, từng bước phát triển các
ngành công nghiệp công nghệ cao; phát triển dịch vụ thương mại, tài chính, ngân
hàng, vận tải, bưu chính viễn thông để thu hút lao động vào việc làm, tăng thu
nhập, nâng cao đời sống nhân dân.
- Vùng ven biển: Phát triển mạnh
kinh tế biển, bao gồm đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, các ngành công nghiệp: lọc
hoá dầu và sau lọc hóa dầu, xi măng, nhiệt điện, luyện thép... gắn với cảng nước
sâu, công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, du lịch biển đảo, vận tải biển, dịch
vụ hàng hải, dịch vụ hậu cần nghề cá thu hút lao động vào làm việc.
- Vùng trung du miền núi: Tập
trung trồng mới, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng; nâng cao chất lượng các
vùng nguyên liệu cho chế biến; phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc; phát triển
công nghiệp chế biến nông lâm sản, khoáng sản, vật liệu xây dựng, thủy điện, du
lịch sinh thái, kinh tế cửa khẩu; xây dựng một số cụm công nghiệp gắn với bố
trí lại dân cư và các khu đô thị mới dọc tuyến đường Hồ Chí Minh.
2. Khuyến
khích phát triển doanh nghiệp để tạo ra nhiều chỗ việc làm mới thu hút lao động
vào làm việc
Đẩy mạnh thực hiện chính sách thu
hút đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu kinh tế để có nguồn lực phát
triển kinh tế, tạo việc làm có thu nhập cao cho lao động của tỉnh, tiếp thu
khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước và tác phong công nghiệp cho người lao
động, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn các doanh nghiệp thực
hiện các quy định của Bộ Luật lao động và Luật BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi người
lao động để người lao động yên tâm làm việc lâu dài cho doanh nghiệp.
3. Đẩy mạnh
Chương trình xuất khẩu lao động
- Các cấp, các ngành xác định xuất
khẩu lao động là nhiệm vụ quan trọng trong Chương trình giải quyết việc làm, giảm
nghèo bền vững; thống nhất quan điểm xuất khẩu lao động là thế mạnh của một tỉnh
có nguồn nhân lực dồi dào, nhu cầu việc làm của người lao động lớn; giải quyết
việc làm thông qua xuất khẩu lao động vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa
có tính chiến lược lâu dài nên phải kiên trì tổ chức thực hiện liên tục trong
nhiều năm. Các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, Đoàn thể cần tập trung chỉ đạo, phối hợp
chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu
lao động mạnh, có đơn hàng tốt về tuyển chọn lao động trên địa bàn đưa đi làm
việc ở nước ngoài.
- Định hướng cho người lao động
trong độ tuổi chủ động học nghề mà thị trường nước ngoài đang cần như: Cơ khí,
xây dựng, y tá, hộ lý, khai thác thủy sản… và tích cực học ngoại ngữ để có đủ
trình độ tham gia đi làm việc ở những nước có thu nhập cao, nâng dần tỷ trọng
lao động có tay nghề đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
- Tập trung cung ứng lao động chủ
yếu vào các thị trường ổn định, có thu nhập cao như: Malayxia, Đài Loan, Hàn Quốc,
Nhật Bản, khu vực Trung Đông và các nước Đông Âu. Phấn đấu trong 5 năm 2011 -
2015 toàn tỉnh đưa được 60.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài,
trong đó có 10.000 lao động thuộc các huyện nghèo.
4. Huy động tổng
hợp các nguồn vốn để giải quyết việc làm
- Lập Quỹ hỗ trợ giải quyết việc
làm được hình thành từ các nguồn: Nguồn vốn Trung ương hiện có và bổ sung hàng
năm; trích ngân sách của Tỉnh theo Nghị định số: 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của
Chính phủ; Thông tư số: 73/2008/TT-BTC ngày 01/08/2008 của Bộ Tài chính; huy động
nguồn vốn từ doanh nghiệp, chủ dự án để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc
làm mới cho người lao động. Phấn đấu đến năm 2015, Quỹ việc làm địa phương phân
bổ mới được 75 tỷ đồng (ngân sách Tỉnh 50 tỷ; ngân sách cấp huyện, xã 25 tỷ đồng)
- Mục tiêu cho vay tập trung chủ yếu
ở địa bàn nông thôn, các vùng ven đô, vùng bị thu hồi đất nông nghiệp, dự án
thuộc các ngành nghề phát triển tiểu thủ công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng,
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề truyền thống, du nhập và nhân cấy
nghề mới, chế biến nông - lâm - thuỷ, hải sản,… những ngành nghề sử dụng ít vốn,
thu hút nhiều lao động. Trong 5 năm 2011 - 2015, từ nguồn vốn Quỹ hỗ trợ việc
làm giải quyết việc làm cho 40.000 lao động.
5. Tiếp tục hỗ
trợ phát triển thị trường lao động
- Đầu tư nâng cao năng lực các
TTGTVL: TTGTVL thuộc Sở Lao động - TB và Xã hội; Trung tâm hướng nghiệp, dạy
nghề và giới thiệu việc làm của Đoàn Thanh niên; TTGTVL của Hội Nông dân;
TTGTVL của Liên đoàn lao động tỉnh… Đặc biệt trú trọng đầu tư xây dựng TTGTVL
thuộc Sở Lao động - TB và Xã hội trở thành TTGTVL kiểu mẫu khu vực Bắc Miền
Trung, là địa chỉ tin cậy để thực hiện tốt “người tìm việc, việc tìm người”.
- Hỗ trợ tổ chức sàn giao dịch việc
làm: Duy trì thường xuyên, nâng cao chất lượng, hiệu quả các phiên giao dịch việc
làm tại sàn giao dịch việc làm, phát triển Website: vieclamthanhhoa.vn. Tổ chức
sàn giao dịch định kỳ, nâng tần suất lên 02 phiên/tháng, tiến tới tổ chức các
phiên giao dịch việc làm hàng tuần để tăng cường cung cấp thông tin về thị trường
lao động để người sử dụng lao động và người lao động gặp nhau, đồng thời người
lao động tiếp cận với đào tạo nghề gắn với việc làm, làm tăng cơ hội và khả
năng cho việc làm, học nghề của người lao động.
- Hoàn thiện hệ thống thông tin thị
trường lao động: Tiếp tục điều tra, cập nhật biến động thông tin cung, cầu lao
động làm cơ sở hoạch định chính sách việc làm và phát
triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động.
6. Phát triển
chương trình đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm
- Tổ chức thực hiện tốt Quyết định
số: 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt đề án đào
tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và Quyết định số: 3906/QĐ-UBND
ngày 29/10/2010 của UBND tỉnh về Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động
nông thôn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020”
- Thực hiện tốt công tác xã hội
hóa đào tạo nghề, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia công tác đào tào tạo
nghề, gắn đào tạo nghề với việc làm từng bước đào tạo nghề có địa chỉ việc làm.
Nâng cao khả năng tự tạo việc làm tự tìm việc làm của người lao động; ưu tiên hỗ
trợ dạy nghề cho lao động dân tộc thiểu số, lao động nông thôn, lao động thuộc
hộ nghèo, lao động là người tàn tật.
- Phối hợp với Cục Quản lý lao động
ngoài nước, Bộ Lao động - TB và Xã hội đưa Dự án xây dựng Trung tâm đào tạo, bồi
dưỡng lao động đi làm việc ở Trung Đông với quy mô đào tạo hàng năm là 15.000 học
sinh sớm đi vào hoạt động; góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh
tham gia đi làm việc ở nước ngoài, tăng dần tỷ trọng lao động đi xuất khẩu có
tay nghề.
7. Nâng cao
năng lực quản lý lao động việc làm và dạy nghề
Nâng cao bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ cấp huyện, cán bộ cấp xã phụ trách về lao động
- việc làm và cán bộ TTGTVL. Tổ chức tốt các khóa tập huấn tập trung vào các
chính sách về việc làm và dạy nghề, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường
lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu thị trường lao động, các chính sách hướng dẫn
triển khai thực hiện các hoạt động trong khuôn khổ chương trình đổi mới và phát
triển dạy nghề, chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
V. CÁC GIẢI
PHÁP
Để đạt được các mục tiêu của
Chương trình, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau:
1. Đẩy mạnh
công tác thông tin truyên truyền
Phối hợp với các phương tiện thông
tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành và người dân về
công tác dạy nghề, giải quyết việc làm. Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh hàng
tuần, hàng tháng xây dựng chuyên mục về dạy nghề và việc làm. Thường xuyên
thông tin về thị trường lao động trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho người
lao động tiếp cận với những thông tin về việc làm, xuất khẩu lao động để lựa chọn
cho mình một việc làm thích hợp. Nêu gương tiên tiến, điển hình về công tác dạy
nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động, đồng thời nhân rộng điển hình
những gương làm tốt, cách làm hay để nhân dân trong tỉnh học tập kinh nghiệm.
Báo Thanh Hóa xây dựng chuyên trang về việc làm - dạy nghề, xuất khẩu lao động
để tuyên truyền nhân rộng những phong trào giải quyết việc làm có hiệu quả.
2. Tiếp tục
thực hiện cơ chế chính sách của Nhà nước, của tỉnh
Thực hiện tốt các chính sách việc
làm hiện có, nhất là những chính sách tạo việc làm tại chỗ, lao động ở đô thị gắn
với khu công nghiệp, dịch vụ, lao động nhàn rỗi ở nông thôn như kinh tế trang
trại, kinh tế hộ gia đình, HTX, doanh nghiệp nhỏ và vừa, làng nghề, các dự án
chế biến nông, lâm, hải sản, tiểu thủ công nghiệp; du lịch và dịch vụ. Đồng thời
xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách mới để giải quyết việc làm. Các hoạt
động cụ thể của Chương trình:
a) Chương trình hỗ trợ người lao động
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:
- Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao
động, trên cơ sở chỉ đạo các cấp thực hiện có hiệu quả Quyết định số:
2642/2009/QĐ-UBND ngày 10/8/2009 của Uỷ ban nhân tỉnh về chính sách khuyến
khích, hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các huyện
nghèo thực hiện tốt Kế hoạch số: 23/ UBND-KH ngày 10/6/2009 của Uỷ ban nhân dân
tỉnh về tổ chức triển khai thực hiện Quyết định số: 71/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh XKLĐ góp phần giảm nghèo nhanh và
bền vững.
- Khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động mạnh, có đơn
hàng tốt về tuyển chọn lao động trên địa bàn tỉnh đảm bảo số lượng và chất lượng
lao động, đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động. Đồng thời giải quyết dứt
điểm những tồn tại, vướng mắc giữa người lao động với các doanh nghiệp làm công
tác XKLĐ để người lao động yên tâm tham gia XKLĐ.
- Tuyên truyền, vận động người lao
động tích cực tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng, góp
phần nâng cao tay nghề, tác phong công nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động
đồng thời tăng nhanh nguồn ngoại tệ về tỉnh để tái đầu tư phát triển sản xuất,
tạo việc làm cho lao động xã hội.
b) Chương trình hỗ trợ vốn vay giải
quyết việc làm: Tập trung vào các hoạt động chủ yếu:
- Trích ngân sách của Tỉnh để lập
Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm theo Nghị định số: 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003
của Chính phủ và Thông tư số: 73/2008/TT-BTC ngày 01/08/2008 của Bộ Tài chính.
Lập quỹ việc làm địa phương từ tỉnh xuống cơ sở.
- Phân vốn vay theo kế hoạch tạo
việc làm từ Quỹ giải quyết việc làm; ưu tiên các huyện, thị xã, thành phố sử dụng
hiệu quả cao trong hoạt động vay vốn, những vùng có diện tích đất nông nghiệp
chuyển mục đích sử dụng để phục vụ an ninh, quốc phòng, xây dựng khu công nghiệp,
ưu tiên cho các cơ sở sản xuất kinh doanh vay tạo nhiều việc làm cho người lao
động.
- Cho vay ưu đãi đối với các nhóm
lao động yếu thế, dân tộc thiểu số, lao động là phụ nữ và cho vay khởi sự doanh
nghiệp đối với lao động là thanh niên.
- Xây dựng và thực hiện các mô
hình tạo việc làm có hiệu quả từ nguồn vốn vay như: Các hợp tác xã sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ, sản xuất vật liệu xây dựng; khôi phục và phát triển các
làng nghề truyền thống; lồng ghép các chương trình tổ, nhóm giúp nhau làm kinh
tế của thanh niên, phụ nữ, nông dân, người khuyết tật…
c) Chương trình hỗ trợ phát triển
thị trường lao động: Tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau:
- Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng,
biên chế cán bộ, kinh phí hoạt động thường xuyên nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho các TTGTVL hoạt động, đặc biệt là các cơ sở của TTGTVL thuộc Sở Lao động -
TB&XH tại các huyện: Hà Trung, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Ngọc Lặc, Thọ Xuân hoạt
động hiệu quả.
- Tăng cường công tác quản lý Nhà
nước các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ giới thiệu việc làm theo quy định của
Nghị định số: 71/2008/NĐ-CP ngày 05/6/2008 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 của Chính Phủ quy định điều kiện,
thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm, để tạo thêm nhiều
cơ hội cho người lao động, người sử dụng lao động và cơ sở dạy nghề gặp nhau, lựa
chọn.
- Hướng dẫn cho người thất nghiệp,
người thiếu việc làm đăng ký tìm việc làm và học nghề tại các TTGTVL của tỉnh;
đồng thời cung cấp các thông tin miễn phí cho những người đã đăng ký nội dung gồm:
Tư vấn lựa chọn việc làm, nơi làm việc; chọn nghề học, hình thức, nơi học nghề,
lập dự án tạo việc làm hoặc dự án tạo thêm việc làm, tư vấn pháp luật liên quan
đến việc làm…
- Tăng cường công tác chỉ đạo các
huyện, thị xã, thành phố thực hiện tốt việc thu thập, xử lý, cập nhật thông tin
cung - cầu lao động theo Thông tư số: 25/2009/TT-LĐTBXH ngày 14/7/2009 của Bộ
Lao động - TB và Xã hội. Đối với các thôn, bản, phố phải thực hiện việc thu thập,
cập nhật thông tin về thực trạng lao động việc làm, thất nghiệp và biến động
lao động qua từng thời kỳ để góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cung lao động; đối
với các doanh nghiệp đóng trên địa bàn phải thực hiện nghiêm túc việc cung cấp
thông tin, thực trạng sử dụng lao động, nhu cầu tuyển dụng lao động, tình hình
thực hiện chính sách đối với người lao động nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu cầu lao
động.
d) Chương trình đào tạo nghề gắn với
giải quyết việc làm
* Chương trình đổi mới và phát triển
dạy nghề: Tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau:
- Tăng cường cơ sở vật chất, trang
thiết bị dạy nghề;
- Xây dựng đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lý dạy nghề;
- Phát triển chương trình và giáo trình
dạy nghề;
- Kiểm định chất lượng dạy nghề;
- Đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ
năng nghề;
- Tổ chức đào tạo nghề phù hợp, gắn
dạy nghề với việc làm, đào tạo có địa chỉ, tạo điều kiện cho người lao động học
nghề có việc làm phù hợp.
* Chương trình đào tạo nghề cho
lao động nông thôn: Tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau:
- Tuyên truyền, tư vấn học nghề và
việc làm đối với lao động nông thôn;
- Điều tra khảo sát và dự báo nhu
cầu đào tạo nghề;
- Thí điểm các mô hình đào tạo nghề;
- Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị
dạy nghề đối với các cơ sở dạy nghề;
- Phát triển chương trình, giáo
trình, học liệu và xây dựng danh mục thiết bị dạy nghề;
- Phát triển giáo viên, cán bộ quản
lý dạy nghề;
- Hỗ trợ lao động nông thôn học
nghề: Chi phí dạy nghề, tiền ăn, chi phí đi lại.
* Tập trung vào một số dự án dạy
nghề khác như:
- Dự án dạy nghề giải quyết việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp do chuyển mục đích sử dụng;
- Dự án đào tạo và cung ứng lao động
cho Khu kinh tế Nghi Sơn;
- Dự án dạy nghề tạo việc làm cho
người khuyết tật, trẻ em lang thang.
3. Tăng cường
công tác quản lý Nhà nước và hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực
hiện mục tiêu giải quyết việc làm
- Tăng cường quản lý Nhà nước về
lao động việc làm ở các cấp, các ngành, nhất là cơ sở, thường xuyên nắm bắt thực
tiễn để bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ chế, chính sách, điều chỉnh các biện pháp
thực hiện Chương trình giải quyết việc làm phù hợp với từng năm.
- Hàng năm, tiến hành tổ chức các
hội nghị sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình thực hiện các chương trình, hoạt động
thuộc Chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2011 - 2015 và đề xuất phương
hướng thực hiện trong thời gian tới.
- Tăng cường hoạt động, nêu cao
vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở và công đoàn các cấp, vai trò quản lý nhà
nước cấp huyện (Phòng Lao động - TB và Xã hội, Ban quản lý khu kinh tế Nghi
Sơn). Các cơ quan chức năng cấp huyện tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực
hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp; phát hiện kịp thời, giải quyết
nhanh gọn những hiện tượng tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao
động, hạn chế đến mức thấp nhất cuộc tranh chấp lao động và đình công xảy ra nhằm
ổn định sản xuất kinh doanh, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa tích cực tại
doanh nghiệp đảm bảo việc làm và an sinh xã hội.
4. Huy động
nguồn lực phục vụ cho Chương trình
Tổng nguồn vốn cần huy động để thực
hiện Chương trình: 32.779.745 triệu đồng. Trong đó:
- Ngân sách TW: 144.365 triệu đồng.
- Ngân sách địa phương (tỉnh, huyện,
xã): 142.925 triệu đồng.
- Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm
chuyển từ giai đoạn 2006 - 2010 sang: 92.455 triệu đồng.
- Vốn huy động từ các nguồn khác
(các DN, nhân dân đóng góp): 32.400.000 triệu đồng.
Kinh phí thực hiện chương trình
đào tạo nghề được tính riêng theo Quyết định số: 3906/QĐ-UBND ngày 29/10/2010 của
UBND tỉnh về Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Thanh
Hóa đến năm 2020”
(Có Phụ lục V kèm theo)
Phần III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I. KIỆN TOÀN
BAN CHỈ ĐẠO GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CÁC CẤP VÀ CƠ QUAN GIÚP VIỆC
1. Ban chỉ đạo giải quyết việc
làm tỉnh: Gồm các Sở, ngành chức năng, với thành phần
như sau:
- Trưởng ban: Phó Chủ tịch UBND tỉnh;
- Phó ban: Giám đốc Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội;
- Các thành viên: Gồm lãnh đạo Sở
Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Cục Thống Kê, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách
Xã hội tỉnh và một số Sở, ban ngành liên quan.
- Cơ quan thường trực: Sở Lao động
- Thương binh và Xã hội.
2. Ban chỉ đạo giải quyết việc
làm cấp huyện: Ban chỉ đạo được thành lập theo quyết định
của Chủ tịch UBND huyện, thị, thành phố với thành phần sau:
- Trưởng ban: Chủ tịch hoặc Phó Chủ
tịch UBND huyện, thị, thành phố;
- Phó ban: Trưởng phòng Lao động -
TB và Xã hội;
- Các thành viên: Gồm lãnh đạo các
đoàn thể chính trị - xã hội, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Thống kê; Chi
nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện, thị xã, thành phố.
3. Ban giải quyết việc làm cấp
xã: Ban chỉ đạo được thành lập theo quyết định của Chủ
tịch UBND xã, phường, thị trấn với thành phần sau:
- Trưởng ban: Chủ tịch UBND xã,
phường, thị trấn;
- Các thành viên: Gồm lãnh đạo các
tổ chức hội, đoàn thể chính trị - xã hội, cán bộ làm công tác Thống kê - dân số,
Lao động - TB và Xã hội, Kế hoạch - tài chính.
II. TRÁCH NHIỆM
CỦA CÁC SỞ, NGÀNH; UBND CÁC HUYỆN, THỊ XÃ, THÀNH PHỐ
1. Sở Lao động - Thương binh và
Xã hội
Là cơ quan thường trực, chủ trì và
phối hợp với các ngành chức năng xây dựng cụ thể hoá các nội dung chương trình,
hoạt động giải quyết việc làm, lập kế hoạch hàng năm và 5 năm trình UBND tỉnh
phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện;
- Phối hợp với các sở, ngành có
liên quan (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách
xã hội tỉnh) quản lý, sử dụng và điều hành nguồn vốn vay Quỹ hỗ trợ giải quyết
việc làm có hiệu quả;
- Hướng dẫn UBND các huyện, thị
xã, thành phố xây dựng Chương trình giải quyết việc làm phù hợp với tình hình
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
- Tổ chức kiểm tra, giám sát, tổng
hợp, đánh giá kết quả thực hiện; định kỳ 6
tháng, hàng năm báo cáo Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội.
2. Sở Kế hoạch và Đầu tư
- Có trách nhiệm hướng dẫn xây dựng
các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với chỉ tiêu tạo việc
làm mới; cân đối và bố trí kế hoạch hàng năm để thực hiện Chương trình giải quyết
việc làm trên cơ sở thống nhất với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài
chính.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Tài
chính, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất kế hoạch bố trí nguồn vốn bổ
sung cho Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm tỉnh hàng năm.
- Phối hợp với ngành Lao động –
Thương binh và Xã hội và các ngành có liên quan hướng dẫn cơ chế đầu tư đối với
các dự án trong Chương trình giải quyết việc làm; đề xuất các chính sách, giải
pháp, cũng như việc tổ chức lồng ghép các chương trình, dự án, đề án có liên
quan đến lĩnh vực việc làm, dạy nghề.
3. Sở Tài chính
- Phối hợp với sở Kế hoạch - Đầu
tư bố trí và bảo đảm ngân sách cấp hàng năm cho Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm
trình HĐND tỉnh quyết định.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Lao động
– Thương binh và Xã hội hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với các dự án của
Chương trình; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về tài chính thực
hiện Chương trình.
4. Chi nhánh Ngân hàng Chính
sách Xã hội, Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Hoá
Chịu trách nhiệm tham gia theo thẩm
quyền thực hiện chính sách hướng dẫn và cho người lao động vay vốn để sản xuất
và đi xuất khẩu lao động theo quy định của nhà nước.
Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã
hội có trách nhiệm quản lý nguồn vốn; tổ chức, hướng dẫn người vay vốn tiến
hành xây dựng dự án, lập hồ sơ vay vốn đồng thời phối hợp với Ngành Lao động –
Thương binh và Xã hội thẩm định dự án vay vốn từ Quỹ hỗ trợ giải quyết việc
làm; tiến hành giải ngân vốn vay và thu hồi nợ kịp thời.
5. Cục Thống kê Thanh Hoá
Chịu trách nhiệm điều tra lao động
- việc làm hàng năm, xác định biến động dân số, lực lượng lao động.
6. Các Sở: Công thương, Nông
nghiệp và PTNT, Xây dựng, Giao thông, Văn hóa Thể thao và Du lịch, Giáo dục và
đào tạo, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội
Căn cứ vào chương trình phát triển
kinh tế - xã hội thuộc chuyên ngành để xây dựng các đề án, dự án thuộc lĩnh vực
được gắn với chỉ tiêu tạo việc làm mới, thu hút lao động.
7. Uỷ
ban Nhân dân các huyện, thị xã, thành phố
Chịu trách nhiệm xây dựng và thực
hiện Chương trình giải quyết việc làm của địa phương trên cơ sở chỉ tiêu, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội và Chương trình giải quyết việc làm tỉnh Thanh Hoá
đã được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt.
- Hàng năm tổ chức triển khai điều
tra, cập nhật cơ sở dữ liệu thị trường lao động, tình hình sử dụng và nhu cầu
tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, nhu cầu học nghề của lao động nông
thôn trên địa bàn và tổng hợp báo cáo về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
8. Các cơ quan thông tin đại
chúng (Đài phát thanh và truyền hình, báo, đài…)
Thường xuyên tập trung tuyên truyền,
hướng dẫn các hoạt động chương trình giải quyết việc làm của tỉnh, địa phương
và cơ sở. Đặc biệt là tổ chức tuyên truyền kịp thời các điển hình tốt, mô hình
mới, các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích đóng góp cho chương trình giải
quyết việc làm.
9. Đề nghị Thường trực UBMTTQVN
tỉnh và các đoàn thể cấp tỉnh
Phối hợp với các cấp, các ngành và
huyện tích cực tuyên truyền vận động hội viên và toàn dân hưởng ứng, tham gia
chương trình giải quyết việc làm của tỉnh; chủ trì, phối hợp với các tổ chức
thành viên chỉ đạo các cấp hội cơ sở tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động
hội viên và toàn dân hưởng ứng, tham gia đóng góp cho chương trình giải quyết
việc làm; động viên, khích lệ người dân tự giải quyết việc làm.
10. Chế độ thông tin báo cáo
Trên cơ sở nhiệm vụ, các ban ngành
đoàn thể và các địa phương có kế hoạch tổ chức triển khai Chương trình việc làm
giai đoạn 2011 - 2015 trong kế hoạch công tác hàng năm, 5 năm. Định kỳ 6 tháng,
hàng năm báo cáo tình hình thực hiện cho Ban chỉ đạo giải quyết việc làm cấp tỉnh
(qua Sở Lao động - TB&XH) để tổng hợp./.