Mẫu đơn xin rút lại đơn xin nghỉ việc năm 2026 dùng khi người lao động muốn tiếp tục làm việc, đề nghị doanh nghiệp chấp thuận hủy đơn nghỉ việc đã nộp trước đó.
>> Mẫu phiếu giới thiệu việc làm mới nhất 2026 theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP
>> Mẫu giấy ủy quyền cá nhân thông dụng năm 2026
Căn cứ Điều 38 Bộ luật Lao động 2019, mỗi bên đều có quyền hủy bỏ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước khi hết thời hạn báo trước nhưng phải thông báo bằng văn bản và phải được bên kia đồng ý.
Hiện nay, Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa ban hành mẫu đơn xin rút lại đơn xin nghỉ việc dành riêng cho người lao động. Tuy nhiên, người lao động hoàn toàn có quyền tự soạn thảo văn bản này để gửi đến người sử dụng lao động, miễn là đảm bảo nội dung rõ ràng, thể hiện đúng ý chí rút lại đơn đã nộp trước đó.
Dưới đây là mẫu đơn xin rút lại đơn xin nghỉ việc đã nộp mới nhất 2026, quý khách hàng có thể tham khảo để sử dụng:
![]() |
Mẫu đơn xin rút lại đơn xin nghỉ việc đã nộp năm 2026 |
Lưu ý, mẫu đơn xin rút lại đơn xin nghỉ việc nêu ở trên chỉ mang tính chất tham khảo.

Mẫu đơn xin rút lại đơn xin nghỉ việc đã nộp mới nhất 2026 (Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Căn cứ Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần lý do. Tuy nhiên, họ phải tuân thủ các quy định về thời gian báo trước, cụ thể như sau:
- Đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn: Phải báo trước ít nhất 45 ngày.
- Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng: Phải báo trước ít nhất 30 ngày.
- Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng: Phải báo trước ít nhất 3 ngày làm việc.
- Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù: Thời hạn báo trước có thể được quy định khác theo quy định của Chính phủ.
Ngoài ra, có một số trường hợp người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước, bao gồm:
+ Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động.
+ Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi cách nhưng không thể trả lương đúng hạn.
+ Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động.
+ Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
+ Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc do nếu tiếp tục làm sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi.
+ Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 Bộ luật Lao động 2019, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
+ Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng về về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Khi người lao động nộp đơn xin nghỉ việc và tuân thủ đúng thời hạn báo trước theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, họ có quyền tiếp tục làm việc đến ngày cuối cùng đã thông báo. Công ty không được đơn phương cho người lao động nghỉ việc sớm, trừ khi có thỏa thuận khác giữa hai bên theo khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động 2019. Nếu công ty vi phạm, hành vi này bị coi là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và có thể sẽ phải bồi thường cho NLĐ theo Điều 41 Bộ luật Lao động 2019.
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.






