Dưới đây là chi tiết danh sách hơn 4600 doanh nghiệp nợ thuế TPHCM tính đến tháng 3/2026 theo Thông báo 10917/TB-TPHCM.
>> Danh sách doanh nghiệp, HKD Hà Nội kiểm tra quý 2/2026
>> Chính sách miễn thuế cho thuê bất động sản 2026 dưới 1 tỷ đồng
Ngày 21/4/2026, Thuế TPHCM ban hành Thông báo 10917/TB-TPHCM về việc công khai danh sách người nộp thuế nợ tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước.
>>TẢI VỀ<< Thông báo 10917/TB-TPHCM năm 2026
Theo đó, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện công khai thông tin 4.605 người nộp thuế còn nợ tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước đến thời điểm tháng 3 năm 2026 với số tiền là 14.965.158.005.761 đồng (Mười bốn nghìn tỷ chín trăm sáu mươi lăm tỷ một trăm năm mươi tám triệu không trăm linh năm nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng).
Lý do công khai: vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 100 Luật Quản lý thuế 2019 và điểm g khoản 1 Điều 29 Nghị định 126/2020/NĐ-CP.
>>TẢI VỀ<< Danh sách hơn 4600 doanh nghiệp nợ thuế TPHCM tính đến tháng 3/2026
Trên đây là chi tiết danh sách hơn 4600 doanh nghiệp nợ thuế TPHCM tính đến tháng 3/2026.
>> Xem thêm: Danh sách doanh nghiệp, HKD Hà Nội kiểm tra quý 2/2026
Chi tiết danh sách hơn 4600 doanh nghiệp nợ thuế TPHCM tính đến tháng 3/2026
(Ảnh minh họa - Nguồn từ Internet)
Căn cứ Điều 3 Nghị định 49/2025/NĐ-CP, quy định các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế cụ thể như sau:
(i) Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế có số tiền thuế nợ từ 50 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ đã quá thời hạn nộp theo quy định trên 120 ngày.
(ii) Cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế có số tiền thuế nợ từ 500 triệu đồng trở lên và số tiền thuế nợ đã quá thời hạn nộp theo quy định trên 120 ngày.
(iii) Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ quá thời hạn nộp theo quy định và sau thời gian 30 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý thuế thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.
(iv) Người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam có số tiền thuế nợ quá thời hạn nộp theo quy định mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.
Căn cứ Điều 85 Luật Quản lý thuế 2019 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5 Điều 86 Luật Phục hồi, phá sản 2025), có 4 trường hợp được xóa tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt bao gồm:
(i) Doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.
(ii) Cá nhân đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản, bao gồm cả tài sản được thừa kế để nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ.
(iii) Các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của người nộp thuế không thuộc trường hợp quy định tại khoản (i) và khoản (ii) mà cơ quan quản lý thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề và các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế nhưng không có khả năng thu hồi.
Người nộp thuế là cá nhân, cá nhân kinh doanh, chủ hộ gia đình, chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã được xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt quy định tại khoản này trước khi quay lại sản xuất, kinh doanh hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thì phải hoàn trả cho Nhà nước khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã được xóa.
(iv) Tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với các trường hợp bị ảnh hưởng do thiên tai, thảm họa, dịch bệnh có phạm vi rộng đã được xem xét miễn tiền chậm nộp theo quy định và đã được gia hạn nộp thuế mà vẫn còn thiệt hại, không có khả năng phục hồi được sản xuất, kinh doanh và không có khả năng nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.





