Nhân viên chưa bàn giao xong công ty có được giữ lương không?

08:50 | 12/10/2026
Nhân viên chưa bàn giao xong công ty có được giữ lương không?
Nội dung chính
  1. Nhân viên chưa bàn giao xong công ty có được giữ lương không?
  2. Tiền lương thử việc tính thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần khi nào?
  3. Được thanh toán tiền lương bằng tiền mặt khi doanh nghiệp có nhiều người lao động lớn tuổi không có số tài khoản ngân hàng không?

Nhân viên chưa bàn giao xong công ty có được giữ lương không?

Căn cứ theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 quy định về trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động
1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:
a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;
b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;
c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.
2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:
a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;
b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.

Đồng thời, tại Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 quy định về nguyên tắc trả lương như sau:

Nguyên tắc trả lương
1. Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.
2. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Ngoài ra, tại Điều 102 Bộ luật Lao động 2019 cũng quy định về việc khấu trừ tiền lương như sau:

Khấu trừ tiền lương
1. Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật này.
2. Người lao động có quyền được biết lý do khấu trừ tiền lương của mình.
3. Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.

Cuối cùng, tại khoản 2 khoản 5 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định về việc xử lý vi phạm quy định về tiền lương như sau:

Vi phạm quy định về tiền lương
…
2. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: trả lương không đúng hạn theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm việc vào ban đêm; không trả hoặc trả không đủ tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền lương theo quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động hoặc trong thời gian đình công; không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm; không tạm ứng hoặc tạm ứng không đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo quy định của pháp luật; không trả đủ tiền lương cho người lao động cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc trong trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
…
5. Biện pháp khắc phục hậu quả
a) Buộc người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này;
…

Từ những căn cứ trên, có thể thấy dù nhân viên chưa bàn giao xong thì công ty vẫn không được quyền giữ lương. Thay vào đó, tiền lương đến kỳ vẫn phải được trả đầy đủ, đúng hạn. Việc người lao động chưa bàn giao công việc không phải căn cứ để doanh nghiệp giữ toàn bộ tiền lương.

Khi hợp đồng lao động chấm dứt, các khoản liên quan đến quyền lợi của người lao động phải được thanh toán trong 14 ngày làm việc. Trường hợp bất khả kháng có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 30 ngày.

Nếu người lao động làm mất, hư hỏng tài sản thì doanh nghiệp phái xử lý bồi thường đúng trình tự, mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không quá 30% tiền lương thực trả sau khi trừ BHXH, BHYT, BHTN và thuế TNCN

Nếu doanh nghiệp trả chậm lương hoặc khấu trừ lương trái quy định có thể bị phạt tiền đến 100 triệu đồng, đồng thời phải trả đủ số tiền còn thiếu và tiền lãi theo Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Nhân viên chưa bàn giao xong công ty có được giữ lương không?

Nhân viên chưa bàn giao xong công ty có được giữ lương không? (Hình từ Internet)

Tiền lương thử việc tính thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần khi nào?

Đầu tiên, tại Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

- Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

- Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

- Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

- Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

Đồng thời, tại Điều 6 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 Chính phủ quy định về kỳ tính thuế theo năm đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú, kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh đối với các khoản thu nhập khác của cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú;

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Cuối cùng, tại Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về việc khấu trừ thuế TNCN như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.
...

Từ những căn cứ trên, trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng thử việc thời hạn 01 tháng với người lao động, sau khi kết thúc hợp đồng thử việc, doanh nghiệp ký hợp đồng lao động chính thức với thời hạn 01 năm thì doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo biểu lũy tiến từng phần trước khi chi trả cho người lao động gồm cả thời gian thử việc.

Tuy nhiên, trường hợp sau khi kết thúc hợp đồng thử việc, doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động chính thức thì doanh nghiệp phải khấu trừ 10% thuế TNCN (trước khi trả thu nhập cho lao động thử việc) nếu khoản thu nhập từ 5 triệu đồng/lần trở lên.

Nếu trường hợp người lao động chỉ có một khoản thu nhập nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì có thể làm bản cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế TNCN.

Lưu ý: Người lao động làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.

Được thanh toán tiền lương bằng tiền mặt khi doanh nghiệp có nhiều người lao động lớn tuổi không có số tài khoản ngân hàng không?

Theo Điều 96 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 9 Nghị định 320/2026/NĐ-CP không có quy định bắt buộc doanh nghiệp thanh toán tiền lương cho người lao động bằng hình thức chuyển khoản. Tuy nhiên, nếu muốn được tính là khoản cho được trừ khi tính thuế TNDN thì tiền lương của người lao động từ 05 triệu trở lên phải bắt buộc chuyển khoản.

Dẫn chiếu đến Điều 96 Bộ luật Lao động 2019 quy định về hình thức trả lương như sau:

Hình thức trả lương
1. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.
2. Lương được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.
Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Theo đó, không có quy định bắt buộc doanh nghiệp phải thanh toán tiền lương cho người lao động qua tài khoản ngân hàng.

Mà thay vào đó, doanh nghiệp và người lao động được phép thỏa thuận về hình thức trả lương bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.

Tuy nhiên, tại Điều 9 Nghị định 320/2026/NĐ-CP quy định các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:

Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
...
c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
...

Mặc dù, Nghị định 320/2026/NĐ-CP không có quy định nhắc về tiền lương nhưng đã có nhiều Công văn của Cơ quan thuế hướng dẫn các khoản thanh toán khác là đã bao gồm cả tiền lương khi thanh toán từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên phải được thanh toán không dùng tiền mặt.

Vậy, "được thanh toán tiền lương bằng tiền mặt khi doanh nghiệp có nhiều người lao động lớn tuổi không có số tài khoản ngân hàng không?"

Đối với vấn đề này, Thuế tỉnh Tây Ninh đã ban hành Công văn 654/TNI-QLDN1 năm 2026 đã tháo gỡ vướng mắc việc doanh nghiệp có nhiều NLĐ lớn tuổi thanh tóa tiền lương như thế nào để đảm bảo được tính là chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, cụ thể:

Trường hợp người lao động của Công ty không có tài khoản ngân hàng và thực hiện ủy quyền hợp pháp cho cá nhân khác nhận thay tiền lương, Công ty được phép chi trả vào tài khoản ngân hàng của người được ủy quyền. Khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

- Về hồ sơ lao động: Có đầy đủ Hợp đồng lao động, Bảng chấm công, Bảng tính lương thể hiện khoản chi thực tế phát sinh phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

- Về tính pháp lý của sự ủy quyền: Có Hợp đồng ủy quyền/Giấy ủy quyền được lập theo đúng quy định của pháp luật dân sự (phải được công chứng, chứng thực tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền), trong đó nêu rõ nội dung ủy quyền nhận lương, thông tin nhân thân của người ủy quyền và người được ủy quyền, thông tin tài khoản ngân hàng nhận thay.

- Về chứng từ thanh toán: Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (đối với khoản chi từ 05 triệu đồng trở lên) chuyển vào tài khoản của người được ủy quyền, nội dung chứng từ (Ủy nhiệm chi) ghi rõ nội dung thanh toán lương cho người lao động theo văn bản ủy quyền tương ứng.

Đồng thời, khi người được ủy quyền này nhận tiền thay thì họ sẽ được phép thanh toán bằng tiền mặt cho người lao động lớn tuổi mà không có số tài khoản ngân hàng chứ không bắt buộc người được ủy quyền phải chuyển khoản cho người lao động.

Từ những căn cứ trên, nếu doanh nghiệp có nhiều người lao động lớn tuổi không có số tài khoản ngân hàng mà khi thanh toán tiền lương từng lần từ 05 triệu đồng trở lên có thể hướng dẫn người lao động làm giấy ủy quyền cho người khác nhận lương thay và sau đó lấy tiền mặt từ người được ủy quyền để doanh nghiệp vẫn đảm bảo điều kiện là khoản chi phí được trừ khi tính thuế TNDN.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Kế toán - Kiểm toán Xem thêm

Bài viết mới nhất