Đảng viên nghỉ hưu có được mở công ty, đầu tư kinh doanh không?
Đảng viên trong khu vực công sau khi nghỉ hưu được khuyến khích phát huy chuyên môn, kinh nghiệm, tri thức và nguồn lực hợp pháp để khởi nghiệp, đầu tư kinh doanh.
Đảng viên không còn công tác trong khu vực công được thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh như đảng viên ngoài khu vực công và không phải xin chấp thuận, trừ các hoạt động bị hạn chế có liên quan đến lĩnh vực, công việc đã phụ trách trong phạm vi và thời hạn theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, khoản 1, khoản 2 Điều 11 Quy định 224-QĐ/TW năm 2026 quy định:
"1. Khuyến khích đảng viên trong khu vực công sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác, nghỉ hưu phát huy chuyên môn, kinh nghiệm, tri thức và các nguồn lực hợp pháp để khởi nghiệp, đầu tư kinh doanh, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
2. Được làm và không phải xin chấp thuận: Đảng viên không còn công tác trong khu vực công được thực hiện các hoạt động như đảng viên ngoài khu vực công quy định tại Điều 5, trừ các hoạt động bị hạn chế quy định tại Khoản 3 Điều này.”

Đảng viên nghỉ hưu có được mở công ty, đầu tư kinh doanh không? (Hình từ Internet)
Kiểm điểm Đảng viên từ 01/01/2027 gồm những nội dung gì?
Tại Điều 6 Quy định 227-QĐ/TW năm 2026 quy định nội dung kiểm điểm Đảng viên từ ngày 01/01/2027 như sau:
Tập trung làm rõ những kết quả đạt được, khuyết điểm, hạn chế, yếu kém, nguyên nhân, giải pháp khắc phục:
- Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện quy chế làm việc; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; tinh giản biên chế gắn với cải cách hành chính và chuyển đổi số; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực và ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; trách nhiệm nêu gương, công tác tư tưởng, chấp hành kỷ luật phát ngôn; gắn với việc đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới; công tác kiểm soát quyền lực, phòng, chống chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm; xây dựng và thực hiện cơ chế công khai, minh bạch gắn với trách nhiệm giải trình trong công tác cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và công tác tiếp công dân, giải quyết đơn, thư, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của tổ chức, cá nhân.
- Việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn; các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ được đề ra trong nghị quyết, kế hoạch, chương trình công tác năm và các nhiệm vụ phát sinh, đột xuất được cấp có thẩm quyền giao.
+ Đối với từng nội dung quy định tại Khoản này, tập thể, cá nhân phải thể hiện nội dung kiểm điểm đầy đủ theo 4 yêu cầu:
(1) Những nội dung công việc, nhiệm vụ được giao.
(2) Đánh giá kết quả, sản phẩm và mức độ hoàn thành.
(3) Chỉ rõ những nội dung, nhiệm vụ, công việc chưa hoàn thành.
(4) Xác định giải pháp, lộ trình, thời gian khắc phục và cam kết thực hiện.
+ Đối với cán bộ, lãnh đạo quản lý các cấp, yêu cầu bổ sung việc kiểm điểm về trách nhiệm của tập thể, cá nhân lãnh đạo, quản lý trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết, văn bản chỉ đạo của Đảng, của cấp trên; thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị.
- Việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm được cấp có thẩm quyền kết luận và được chỉ ra ở kỳ kiểm điểm trước làm căn cứ đánh giá kết quả khắc phục trong kỳ tiếp theo; trong đó, nêu rõ nội dung khắc phục, chủ thể chịu trách nhiệm chủ trì và phối hợp; mục tiêu, sản phẩm, thời gian hoàn thành, phương hướng, kế hoạch, biện pháp khắc phục hạn chế, khuyết điểm; những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có).
+ Ngoài những nội dung Khoản 1, 2, 3 Điều 6 Quy định 227-QĐ/TW năm 2026, tập thể, cá nhân phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm khi có dấu hiệu vi phạm; để xảy ra những vấn đề bức xúc, phức tạp, dư luận quan tâm; có đơn, thư khiếu nại, tố cáo; biểu hiện mất đoàn kết nội bộ; vi phạm nguyên tắc, quy định của Đảng; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; để tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý bị kỷ luật, khởi tố; trì trệ, yếu kém, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Tuổi đảng của đảng viên được tính thế nào?
Đảng viên đã được công nhận chính thức thì tuổi đảng của đảng viên tính từ ngày ghi trong quyết định kết nạp.
Cụ thể căn cứ Điều 5 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 quy định như sau:
- Người được kết nạp vào Đảng phải trải qua thời kỳ dự bị mười hai tháng, tính từ ngày chi bộ tổ chức lễ kết nạp. Trong thời kỳ dự bị, chi bộ tiếp tục giáo dục, rèn luyện và phân công đảng viên chính thức giúp đảng viên đó tiến bộ.
- Khi hết thời kỳ dự bị, chi bộ xét công nhận đảng viên chính thức từng người một và biểu quyết như khi xét kết nạp; nếu không đủ tư cách đảng viên thì đề nghị lên cấp uỷ có thẩm quyền quyết định xoá tên trong danh sách đảng viên dự bị.
- Nghị quyết của chi bộ về đề nghị công nhận đảng viên chính thức phải được cấp uỷ có thẩm quyền quyết định.
- Đảng viên đã được công nhận chính thức thì tuổi đảng của đảng viên tính từ ngày ghi trong quyết định kết nạp.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];