Công ty có được thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động? Có được chấm dứt hợp đồng lao động vì lợi ích của người thứ ba không?

Đoàn Thanh Hiền 3,999 lượt xem
08:46 | 28/10/2023
Cho tôi hỏi công ty có được thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động? Có được chấm dứt hợp đồng lao động vì lợi ích của người thứ ba không? Câu hỏi của anh Nam (Hà Nội).
Nội dung chính
  1. Công ty có được thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động?
  2. Có được chấm dứt hợp đồng lao động vì lợi ích của người thứ ba không?
  3. Doanh nghiệp cho nhân viên nghỉ việc không đúng luật, phải giải quyết thế nào?

Công ty có được thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động?

Tại Điều 34 Bộ luật Lao động 2019 có quy định:

Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động
1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.
2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
...

Theo quy định trên pháp luật cho phép công ty và người lao động tự thỏa thuận với nhau về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, nếu công ty muốn cho người lao động nghỉ việc và thỏa thuận với người lao động đồng ý thì sẽ chấm dứt hợp đồng lao động theo thỏa thuận của các bên. Nếu công ty đưa ra đề nghị hỗ trợ để chấm dứt hợp đồng lao động mà người lao động đồng ý với thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động đó thì hoàn toàn hợp pháp.

Nếu người lao động không đồng ý với thỏa thuận đó, có nguyện vọng tiếp tục đi làm thì công ty không thể chấm dứt hợp đồng lao động theo diện thỏa thuận nữa. Lúc này, công ty muốn cho người lao động nghỉ việc thì phải thực hiện đúng quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019.

Công ty có được thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động? Có được chấm dứt hợp đồng lao động vì lợi ích của người thứ ba không?

Công ty có được thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động? Có được chấm dứt hợp đồng lao động vì lợi ích của người thứ ba không? (Hình từ Internet)

Có được chấm dứt hợp đồng lao động vì lợi ích của người thứ ba không?

Tại Điều 417 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:

Không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba
Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý.

Có thể thấy, việc sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng lao động là do ý chí của các bên chủ thể trong hợp đồng quyết định, tuy nhiên, đối với loại hợp đồng vì lợi của người thứ ba, quyền sửa đối, hủy bỏ hợp đồng bị giới hạn bởi ý chí của người thứ ba.

Theo đó, chỉ khi người thứ ba đồng ý thì hợp đồng mới được hủy bỏ, sửa đổi. Quy định này nhằm hướng đến đảm bảo lợi ích cho người thứ ba, tránh trường hợp các bên trong hợp đồng hủy bỏ, thay đổi hợp đồng gây bất lợi cho bên thứ ba.

Lưu ý: Chỉ khi bên thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích từ hợp đồng thì các bên mới cần có sự đồng ý của họ trong việc sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng. Điều đó có nghĩa khi người thứ ba chưa chấp nhận hưởng lợi ích từ hợp đồng, các bên trong hợp đồng vẫn được tự do thỏa thuận thực hiện quyền này theo quy định của pháp luật.

Vì bên thứ ba chỉ là bên hưởng lợi từ hợp đồng, họ không tham gia vào việc giao kết, thực hiện hợp đồng, hợp đồng vẫn được thực hiện dựa trên ý chí của bên có quyền và bên có nghĩa vụ. Nên quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba, tránh việc lợi ích của họ bị ảnh hưởng do sự chi phối của bên có quyền và bên có nghĩa vụ.

Khi bên thứ ba chưa chấp nhận hưởng lợi ích từ hợp đồng, thì lợi ích của họ chưa phát sinh, nên việc các bên sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng không làm ảnh hưởng đến người thứ ba. Chính vì vậy, lúc này việc sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng không cần thiết phải dựa vào ý chí của bên thứ ba.

Doanh nghiệp cho nhân viên nghỉ việc không đúng luật, phải giải quyết thế nào?

Tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 có quy định

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo như quy định trên, khi đơn phương chấm dút hợp đồng lao động với người lao động trái pháp luật, người sử dụng lao động phải nhận lại người lao động trở về làm việc theo hợp đồng đã giao kết.

Đồng thời, trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Đoàn Thanh Hiền
Đoàn Thanh Hiền Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hợp đồng lao động Xem thêm

Lao Động Tiền Lương
Ký hợp đồng ngày 16 thì báo tăng vào tháng nào?

Ký hợp đồng lao động ngày 16 thì có phải báo tăng BHXH ngay trong tháng đó không? Trường hợp người lao động không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì việc đóng và báo tăng BHXH được xác định như thế nào?

Lao Động Tiền Lương
Công ty cho nghỉ việc vì lý do nghỉ ốm quá lâu, có đúng luật?

Người lao động nghỉ ốm trong thời gian dài có bị công ty cho nghỉ việc hay không? Pháp luật quy định thế nào về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động khi người lao động điều trị bệnh, nghỉ hưởng chế độ ốm đau?

Lao Động Tiền Lương
Trợ cấp thôi việc lấy mức lương tháng nào để tính?

Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có thể được hưởng trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng đủ điều kiện. Vậy mức lương nào được dùng làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc và được xác định dựa trên tiền lương của những tháng nào?

Lao Động Tiền Lương
Trợ cấp thôi việc khác trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp ở điểm nào?

Trợ cấp thôi việc khác trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp ở điểm nào? Đây đều là những khoản hỗ trợ người lao động có thể được nhận khi chấm dứt việc làm nhưng điều kiện hưởng, đối tượng chi trả và cách tính có sự khác nhau. Vậy trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp khác nhau như thế nào?

Bài viết mới nhất

Lao Động Tiền Lương
Báo tăng BHXH trước ngày nào trong tháng?

Doanh nghiệp có phải báo tăng BHXH trước một ngày cố định trong tháng không? Thời hạn báo tăng BHXH được thực hiện như thế nào để bảo đảm việc tham gia BHXH cho người lao động?