- Tổ bầu cử phải hoàn thành việc kiểm phiếu trong thời gian nào kể từ khi kết thúc việc bỏ phiếu tại khu vực bầu cử?
- Việc phân công nhiệm vụ kiểm phiếu cho các thành viên Tổ bầu cử được thực hiện như thế nào?
- Tổ bầu cử tiến hành niêm phong phiếu bầu sau khi kiểm phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu theo từng loại nào?
Tổ bầu cử phải hoàn thành việc kiểm phiếu trong thời gian nào kể từ khi kết thúc việc bỏ phiếu tại khu vực bầu cử?
Xem thêm:
>>> Hướng dẫn cách ghi phiếu bầu cử hợp lệ chi tiết cụ thể ra sao?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 24 Thông tư 21/2025/TT-BNV quy định như sau:
Điều 24. Kết thúc việc bỏ phiếu và tổ chức kiểm phiếu
1. Sau khi đã hết giờ bỏ phiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 71 của Luật Bầu cử thì Tổ trưởng Tổ bầu cử tuyên bố kết thúc việc bỏ phiếu. Sau khi kết thúc việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử mới được mở hòm phiếu để kiểm phiếu.
2. Việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bầu cử kết thúc, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 23 của Thông tư này. Chỉ những thành viên Tổ bầu cử mới được tiến hành việc kiểm phiếu bầu cử. Tổ bầu cử phải hoàn thành việc kiểm phiếu trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi kết thúc việc bỏ phiếu tại khu vực bỏ phiếu.
3. Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, niêm phong phiếu bầu chưa sử dụng và phiếu bầu do cử tri viết hỏng (nếu có), lập biên bản thống kê việc sử dụng phiếu bầu cử theo biểu mẫu của Hội đồng bầu cử quốc gia ban hành; toàn bộ phiếu bầu chưa sử dụng, phiếu bầu do cử tri viết hỏng sau khi niêm phong được gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.
[...]
Theo đó, Tổ bầu cử phải hoàn thành việc kiểm phiếu trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi kết thúc việc bỏ phiếu tại khu vực bỏ phiếu.
*Trên đây là thông tin Tổ bầu cử phải hoàn thành việc kiểm phiếu trong thời gian nào kể từ khi kết thúc việc bỏ phiếu tại khu vực bầu cử?
Xem thêm:

Tổ bầu cử phải hoàn thành việc kiểm phiếu trong thời gian nào kể từ khi kết thúc việc bỏ phiếu tại khu vực bầu cử? (Hình từ Internet)
Việc phân công nhiệm vụ kiểm phiếu cho các thành viên Tổ bầu cử được thực hiện như thế nào?
Căn cứ theo Điều 25 Thông tư 21/2025/TT-BNV quy định về việc phân công nhiệm vụ kiểm phiếu cho các thành viên Tổ bầu cử như sau:
(1) Tổ trưởng Tổ bầu cử phân công các thành viên Tổ bầu cử thành các nhóm để thực hiện việc kiểm phiếu. Đối với Tổ bầu cử đủ số lượng thành viên để phân thành từ ba nhóm trở lên thì phân công thực hiện như sau:
- Các nhóm kiểm phiếu bầu đại biểu Quốc hội;
- Các nhóm kiểm phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
- Các nhóm kiểm phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Để việc kiểm phiếu được chính xác, mỗi nhóm nên bố trí 03 người, gồm: 01 người đọc kết quả phiếu bầu, 01 người ghi (tích) vào danh sách kiểm phiếu và 01 người kiểm tra việc đọc và ghi.
Đối với Tổ bầu cử không đủ số lượng thành viên để phân thành ba nhóm thì Tổ trưởng Tổ bầu cử phân công các nhóm kiểm phiếu bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã cho phù hợp.
(2) Thư ký Tổ bầu cử tiến hành lập các biên bản kết quả kiểm phiếu bầu cử.
Tổ bầu cử tiến hành niêm phong phiếu bầu sau khi kiểm phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu theo từng loại nào?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 29 Thông tư 21/2025/TT-BNV quy định như sau:
Điều 29. Niêm phong và quản lý phiếu bầu sau khi kiểm phiếu
1. Sau khi kiểm phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu, Tổ bầu cử tiến hành niêm phong phiếu bầu theo từng loại phiếu bầu đại biểu Quốc hội, phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp như sau:
a) Số phiếu bầu hợp lệ;
b) Số phiếu bầu không hợp lệ;
c) Số phiếu bầu không sử dụng đến, phiếu viết hỏng của cử tri.
2. Toàn bộ số phiếu đã được niêm phong quy định tại khoản 1 Điều này phải được Tổ bầu cử cho vào hòm phiếu và làm thủ tục niêm phong hòm phiếu có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký Tổ bầu cử và bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để quản lý, lưu trữ theo quy định, việc bàn giao hòm phiếu phải có biên bản giao nhận.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, lưu trữ các loại phiếu bầu, hòm phiếu của các Tổ bầu cử ở địa phương mình. Trong thời gian quản lý hòm phiếu (bao gồm các loại phiếu bầu) theo quy định pháp luật về lưu trữ (ít nhất là 05 năm) nếu không có ý kiến bằng văn bản của cấp có thẩm quyền thì tuyệt đối không được mở và kiểm tra phiếu bầu đã được niêm phong trong hòm phiếu.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện việc số hóa hồ sơ, tài liệu bầu cử sau khi tiếp nhận để phục vụ công tác tra cứu, khai thác, sử dụng về sau, bảo đảm nguyên tắc an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu theo quy định.
Theo đó, sau khi kiểm phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu, Tổ bầu cử tiến hành niêm phong phiếu bầu theo 3 loại: Số phiếu bầu hợp lệ; Số phiếu bầu không hợp lệ; Số phiếu bầu không sử dụng đến, phiếu viết hỏng của cử tri.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];