Thông báo 325 chấm điểm KPI về công tác xây dựng pháp luật như thế nào?

Ngô Diễm Quỳnh
15:10 | 01/07/2026
Toàn văn Thông báo 325/TB-VPCP chấm điểm KPI về công tác xây dựng pháp luật như thế nào?
Nội dung chính
  1. Thông báo 325 chấm điểm KPI về công tác xây dựng pháp luật như thế nào?
  2. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định như thế nào?
  3. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là gì?

Thông báo 325 chấm điểm KPI về công tác xây dựng pháp luật như thế nào?

Ngày 24/6/2026 Văn phòng Chính phủ đã có Thông báo 325/TB-VPCP Tải về về Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê về việc tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Để án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật.

Theo đó cơ bản nhất trí với Báo cáo của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Quyết định. Giao Bộ Tư pháp tiếp thu các ý kiến hợp lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và ý kiến của các đại biểu dự họp, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự thảo Quyết định, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 28 tháng 6 năm 2026, trong đó tập trung vào một số nội dung sau đây:

- Thống nhất thực hiện thí điểm đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật trong thời hạn 01 năm; các Bộ, cơ quan ngang Bộ quán triệt tinh thần trong quá trình thí điểm, các tiêu chí, điểm số, nội dung, phương pháp chấm điểm sẽ tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá để hoàn thiện trong giai đoạn tiếp theo.

- Thống nhất việc quy định tiêu chí đánh giá, chấm điểm chất lượng thẩm định của Bộ Tư pháp theo hướng không đặt ra yêu cầu Bộ Tư pháp phải khẳng định ngay trong báo cáo thẩm định (lần đầu) về việc hồ sơ dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đủ hay chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định và gửi lại hồ sơ theo quy định, Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, có ý kiến bằng văn bản nêu rõ quan điểm đồng ý hoặc không đồng ý với nội dung tiếp thu, giải trình của cơ quan chủ tri soạn thảo. Trường hợp Bộ Tư pháp không có ý kiến rõ rảng thì có cơ chể trừ điểm phù hợp.

Giao Văn phòng Chính phủ chấm điểm chất lượng thẩm định của Bộ Tư pháp; tuy nhiên Bộ Tư pháp cần nghiên cứu cơ chế chấm điểm phủ hợp, thuận tiện, kết hợp ngay trong giai đoạn thẩm định, trình hồ sơ dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

- Về tiêu chí chấm điểm các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp tham gia thẩm định: Thống nhất trong giai đoạn thí điểm chỉ đánh giá, chấm điểm đối với các Bộ đã được nêu tên và quy định rõ trách nhiệm trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp thẩm định theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật. Bộ Tư pháp rà soát toàn bộ nhóm tiêu chí này, bảo đảm công bằng, không tạo ra tâm lý né tránh tham gia thẩm định nhưng cũng không để tình trạng các Bộ, cơ quan được mời nhưng không tham gia và không có ý kiến, làm ảnh hưởng đến tiến độ trinh hoặc làm giảm chất lượng của hồ sơ dự án, dự thảo văn bản.

Trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp rà soát, nghiên cứu việc bổ sung các Bộ, cơ quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp tham gia thẩm định (nếu cần thiết); đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác có liên quan, cần quy định rõ chủ thể mời tham gia Hội đồng thẩm định, cuộc họp thẩm định là đại diện Bộ, cơ quan hay với tư cách cá nhân, chuyên gia.

- Về hệ số điều chỉnh theo số lượng văn bản (hệ số K), điểm thưởng và phương pháp tính điểm: Giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về hệ số K, điểm thưởng đối với nhiệm vụ phát sinh và cách tính điểm KPI cuối cùng, bảo đảm công khai, công bằng giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

- Về các tiêu chí đánh giá, chấm điểm khác: Rà soát các tiêu chí chấm điểm, bảo đảm đơn giản, dễ thực hiện, bao quát được các vấn đề để kiểm soát tiến độ, chất lượng và trách nhiệm của các cơ quan; không nhất thiết phải quy định quá nhiều tiêu chí thành phần.

[...]

Xem toàn bộ nội dung tiêu chí tại: Thông báo 325/TB-VPCP Tải về

Thông báo 325 chấm điểm KPI về công tác xây dựng pháp luật như thế nào?

Thông báo 325 chấm điểm KPI về công tác xây dựng pháp luật như thế nào? (Hình từ Internet)

Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 53 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định như sau:

- Thời điểm có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương.

Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn và trong trường hợp đặc biệt có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành; đồng thời phải được đăng tải ngay trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng.

- Văn bản quy định chi tiết phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản giao quy định chi tiết hoặc thời điểm có hiệu lực của nội dung được giao quy định chi tiết.

Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là gì?

Căn cứ theo Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 quy định nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:

- Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân thủ đúng thẩm quyền, nội dung, hình thức và trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

- Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phòng, chống lợi ích nhóm, cục bộ.

- Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch, khoa học, kịp thời, ổn định, khả thi, hiệu quả.

- Bảo đảm việc thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp; giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

- Văn bản quy phạm pháp luật quy định thực hiện thí điểm phải xác định thời gian thực hiện thí điểm và phải được sơ kết, tổng kết để xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng chính thức.

- Bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với nội dung văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi bí mật nhà nước.

Logo Thư viện Pháp luật
Ngô Diễm Quỳnh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Bộ máy hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất