Nghị quyết số 57-NQ/TW đề ra Theo tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia như thế nào?

Mạc Duy Văn 331 lượt xem
15:50 | 22/06/2026
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đề ra Theo tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia như thế nào?
Nội dung chính
  1. Nghị quyết số 57 NQ TW đề ra Theo tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia như thế nào?
  2. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra mục tiêu đến năm 2030 về tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo trong tổng số doanh nghiệp là bao nhiêu?
  3. Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 57-NQ/TW thế nào?

Nghị quyết số 57 NQ TW đề ra Theo tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia như thế nào?

Theo tầm nhìn đến năm 2045 tại Nghị quyết số 57 NQ TW phấn đấu Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP. Cụ thể như sau:

Căn cứ tiểu mục 2 Mục 2 Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 quy định như sau:

II- MỤC TIÊU
[...]
2. Tầm nhìn đến năm 2045
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

Như vậy, theo Nghị quyết số 57 NQ TW tầm nhìn đến năm 2045 Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP.

Nghị quyết số 57 NQ TW đề ra Theo tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia như thế nào?

Nghị quyết số 57 NQ TW đề ra Theo tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia như thế nào? (Hình từ Internet)

Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra mục tiêu đến năm 2030 về tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo trong tổng số doanh nghiệp là bao nhiêu?

Căn cứ Tiểu mục 1 Mục 2 Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 quy định mục tiêu:

II- MỤC TIÊU
1. Đến năm 2030
- Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.
[...]

Như vậy, mục tiêu đến năm 2030 về tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo trong tổng số doanh nghiệp là 40%

Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 57-NQ/TW thế nào?

Căn cứ Mục 1 Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 quy định quan điểm chỉ đạo như sau:

- Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

- Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và Nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

- Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Chú trọng bảo đảm nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài. Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc "hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí"; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.

- Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam gắn với nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chú trọng nghiên cứu cơ bản, tiến tới tự chủ và cạnh tranh về công nghệ ở một số lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng, lợi thế.

- Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Mạc Duy Văn
Mạc Duy Văn Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Công nghệ thông tin Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Theo Nghị quyết 35-NQ/TU, việc thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội cho một số hạ tầng, dịch vụ, tiện ích hỗ trợ cải cách hành chính và chuyển đổi số không để phát sinh vấn đề nào?

Theo Nghị quyết 35-NQ/TU, việc thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội cho một số hạ tầng, dịch vụ, tiện ích hỗ trợ cải cách hành chính và chuyển đổi số không để phát sinh vấn đề nào?

Hỏi đáp Pháp luật
Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số được phê duyệt tại Quyết định 1266/QĐ-TTg ngày 14/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ, xác định tầm nhìn đến năm 2045 của Việt Nam là gì?

Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số được phê duyệt tại Quyết định 1266 QĐ TTg ngày 14 7 2026 của Thủ tướng Chính phủ, xác định tầm nhìn đến năm 2045 của Việt Nam là Trở thành quốc gia số phát triển, thịnh vượng, an toàn, nhân văn.

Hỏi đáp Pháp luật
Theo Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản, ban hành kèm theo Quyết định 757/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, phương án nào nêu đầy đủ yêu cầu cần đạt đối với kỹ năng kiểm chứng, xác thực dữ liệu, thông tin và nội dung số của người dân?

Theo Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản, ban hành kèm theo Quyết định 757/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, phương án nào nêu đầy đủ yêu cầu cần đạt đối với kỹ năng kiểm chứng, xác thực dữ liệu, thông tin và nội dung số của người dân?

Hỏi đáp Pháp luật
Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định 1018/QĐ-TTg ngày 21/9/2024, xác định mục tiêu giai đoạn 2024 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành một trong các trung tâm thế nào về bán dẫn toàn cầu?

Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định 1018 QĐ TTg ngày 21 9 2024 của Thủ tướng Chính phủ, xác định mục tiêu giai đoạn 2024 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành một trong các trung tâm về nhân lực bán dẫn toàn cầu.

Hỏi đáp Pháp luật
Theo Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản, ban hành kèm theo Quyết định 757/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, yêu cầu nào cần đạt đối với nhận thức về chuyển đổi số của người dân?

Theo Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản, ban hành kèm theo Quyết định 757 QĐ BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, yêu cầu cần đạt đối với nhận thức về chuyển đổi số của người dân là Biết được các vấn đề cơ bản về chuyển đổi số và lợi ích mang lại trong cuộc sống hàng ngày, cũng như nhận biết được một số thay đổi cơ bản do chuyển đổi số mang lại cho xã hội.

Hỏi đáp Pháp luật
Theo Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026 2030 phê duyệt tại Quyết định 840/QĐ-TTg 2026, tầm nhìn 2045, phát triển công nghiệp công nghệ số với tinh thần “Make in Viet Nam” được xác định theo hướng nào?

Theo Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026 2030 phê duyệt tại Quyết định 840/QĐ-TTg 2026, tầm nhìn 2045, phát triển công nghiệp công nghệ số với tinh thần “Make in Viet Nam” được xác định theo hướng nào?

Bài viết mới nhất