Nghị quyết số 1343/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xây dựng và phát triển Quốc hội số giai đoạn 2024 - 2026, định hướng đến năm 2030 xác định trụ cột của phát triển Quốc hội số là gì?
Căn cứ Tiểu mục 1 Mục 3 Nghị quyết 1343/NQ-UBTVQH15 năm 2024 quy định nhiệm vụ, giải pháp:
III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Nhiệm vụ
1.1. Xác định trụ cột của phát triển Quốc hội số là cơ sở pháp lý, nhân sự, dữ liệu và công nghệ. Hoàn thiện cơ sở pháp lý để vận hành, quản lý, khai thác các hệ thống công nghệ thông tin phục vụ Quốc hội số, nhất là tái cấu trúc hoặc đổi mới mô hình, quy trình hoạt động nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
1.2. Xây dựng Kiến trúc Quốc hội số dựa trên nền tảng số, dữ liệu lớn và dữ liệu mở với mục tiêu lấy đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức và Nhân dân, cử tri làm trung tâm; triển khai đồng bộ, thống nhất về tiêu chuẩn, quy chuẩn, sự tương thích về công nghệ thông tin trong các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội.
1.3. Tổ chức hạ tầng kỹ thuật, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu theo mô hình tập trung để cập nhật, khai thác dữ liệu. Xây dựng các hệ thống phần mềm, ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội. Hệ thống phần mềm công nghệ thông tin được thiết kế linh hoạt, đáp ứng nhu cầu hiện tại và nâng cấp, cập nhật trong dài hạn. Tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo và học máy.
1.4. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị tạo điều kiện và thử nghiệm, thí điểm các ứng dụng công nghệ thông tin vào chuyển đổi số; nghiên cứu, nêu yêu cầu để thúc đẩy chuyển đổi số trong mỗi cơ quan, đơn vị; trực tiếp chỉ đạo và triển khai mô hình, công nghệ mới; nâng cao trách nhiệm về bảo mật, an ninh, an toàn thông tin mạng.
1.5. Xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin bảo đảm về số lượng và nâng cao về chất lượng. Đại biểu Quốc hội, cán bộ, công chức tích cực, chủ động nâng cao kỹ năng, thay đổi phương thức thực hiện công việc trên môi trường số.
1.6. Nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm chuyển đổi số của quốc tế; xây dựng Quốc hội số từng bước hội nhập, tham gia vào các hoạt động của các tổ chức có liên quan đến nghị viện điện tử, nghị viện số.
[...]
Theo đó, xác định trụ cột của phát triển Quốc hội số là cơ sở pháp lý, nhân sự, dữ liệu và công nghệ. Hoàn thiện cơ sở pháp lý để vận hành, quản lý, khai thác các hệ thống công nghệ thông tin phục vụ Quốc hội số, nhất là tái cấu trúc hoặc đổi mới mô hình, quy trình hoạt động nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
* Trên đây là thông tin về Nghị quyết số 1343/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xây dựng và phát triển Quốc hội số giai đoạn 2024 - 2026, định hướng đến năm 2030 xác định trụ cột của phát triển Quốc hội số là gì?

Nghị quyết số 1343/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xây dựng và phát triển Quốc hội số giai đoạn 2024 - 2026, định hướng đến năm 2030 xác định trụ cột của phát triển Quốc hội số là gì? (Hình từ Internet)
Quốc hội quyết định rút ngắn nhiệm kỳ khi nào?
Căn cứ Điều 71 Hiến pháp 2013 quy định như sau:
Điều 71.
1. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là năm năm.
2. Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khóa mới phải được bầu xong.
3. Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường hợp có chiến tranh.
Theo quy định trên, Quốc hội quyết định rút ngắn nhiệm kỳ của mình trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành
Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội là gì?
Căn cứ Điều 70 Hiến pháp 2013 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội như sau:
- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
- Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
- Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;
- Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia.
- Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp;
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
- Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;
- Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
- Quyết định đại xá;
- Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
- Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;
- Quyết định trưng cầu ý dân.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];