Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam thế nào?

Nguyễn Thùy An 673 lượt xem
15:32 | 27/03/2026
Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam thế nào? Mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 theo Nghị quyết 80 là gì?
Nội dung chính
  1. Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam thế nào?
  2. Mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 theo Nghị quyết 80 là gì?
  3. Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam làm việc theo nguyên tắc nào?

Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam thế nào?

Ngày 26/3/2026, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp công bố tài liệu thẩm định Dự thảo Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam.

Xem chi tiết Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam

TẠI ĐÂY

Trong đó, tại Điều 3 Dự thảo Nghị quyết dự kiến:

- Ngày 24 tháng 11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.

- Trong ngày “Ngày Văn hóa Việt Nam” các thiết chế văn hóa, thể thao công lập miễn phí vé vào cửa phục vụ Nhân dân.

Trên đây là thông tin về Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam thế nào?

Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam thế nào?

Dự thảo Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam thế nào? (Hình từ Internet)

Mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 theo Nghị quyết 80 là gì?

Căn cứ theo Mục 2 Nghị quyết 80-NQ/TW năm 2026, mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 như sau:

(1.1) Mục tiêu chung

Đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số.

Phát triển văn học, nghệ thuật xứng tầm với lịch sử văn hoá dân tộc và tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới.

Cơ bản hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo các di tích quốc gia đặc biệt; phục hồi, bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp.

Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo.

Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hoá tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo.

Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá; xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới.

(1.2) Một số chỉ tiêu

- Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hoá đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hoá của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.

- Phấn đấu hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026.

- 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hoá.

- Bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hoá; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn.

- Ban hành cơ chế tài chính để ưu tiên thực hiện trong 3 lĩnh vực đột phá: Đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá và đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Thực hiện chủ trương xã hội hoá văn hoá đúng hướng, hiệu quả; đấu tranh khắc phục khuynh hướng "thương mại hoá", chỉ coi trọng, đề cao một chiều lợi ích kinh tế trong hoạt động văn hoá, coi nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn.

- Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá trong các lĩnh vực có tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,...

- Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 1 - 3 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam làm việc theo nguyên tắc nào?

Căn cứ theo Điều 1 Quy định 08-QĐ/TW năm 2026 quy định Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam làm việc theo nguyên tắc sau:

- Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

- Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể thảo luận, Trưởng Ban kết luận và chỉ đạo thực hiện.

- Ban Chỉ đạo hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; không làm thay chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thùy An Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Văn hóa - Xã hội Xem thêm

Bài viết mới nhất