Cướp tài sản và đánh người

Thư Viện Pháp Luật 385 lượt xem
08:04 | 21/03/2023
Cháu  có 1 vấn đề muốn hỏi Luật sư đó là 1 người bạn của anh trai cháu đã rủ anh cháu cùng 2 người bạn đi cướp tài sản,anh cháu chở 1 người ngồi sau ép vào xe 1 người đi đường người ngồi sau đã dùng bình xịt rỉ PR7 xịt vào mặt còn anh cháu dùng nón bảo hiểm đánh vào người bị hại,và người ngồi sau đã đe dọa vào nói với người bị hại là đưa bóp đây nếu không sẽ lấy xe. Còn người rủ và 1 người đi cùng chỉ đứng nhìn.đi đến 1 đoạn đường sáng cả 4 người dừng lại móc bóp kiểm tra để chia tiền thì bị công an tuần tra thấy khả nghi và đã kiểm tra giấy tờ nhưng cả 4 đều không mang theo, khi bắt lên phường thì cả 4 đều khai nhận tội.....nhưng trong bóp không có tiền mà chỉ có 1 thẻ đoàn viên 4 thẻ atm mệnh giá 5400.000 đồng.....Vậy thì anh cháu sẽ bị xử phạt như thế nào?Từ trước đến nay anh cháu chưa có tiền án tiền sự nào hết. Mong Luật sư giải đáp giúp cháu và gia đình cháu nên làm gì để giúp anh cháu. Xin cảm ơn!

Hành vi của anh bạn đã cấu thành vào tội cướp tài sản được qui định tại điều 133 BLHS. việc xác định mức hình phạt như thế nào sẽ do HĐXX xem xét và quyết định căn cứ trên tính chất, mức độ và động cơ phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, nhân thân của người phạm tội... Bạn có thể tham khảo qui định của pháp luật về tội danh cướp tài sản như sau:

Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Logo Thư viện Pháp luật
Thư Viện Pháp Luật Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự thế nào?

Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Bài viết mới nhất