Công văn 3506/TĐC-HCHQ về nhập khẩu nhãn in sẵn thông tin xuất xứ, nhãn hiệu như thế nào?
Ngày 7/9/2026 Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia đã có Công văn 3506/TĐC-HCHQ cho ý kiến về việc nhập khẩu mặt hàng nhãn in sẵn thông tin xuất xứ, nhãn hiệu
Công văn 3506 TĐC HCHQ - Tải về
Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia nhận được Công văn 21198/CHQ-GSQL năm 2026 của Cục Hải quan do Bộ Khoa học và Công nghệ giao xử lý liên quan đến vướng mắc trong nhập khẩu nhãn in sẵn thông tin xuất xứ, nhãn hiệu. Trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước về ghi nhãn hàng hóa, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia có ý kiến như sau:
[1] Về phạm vi áp dụng của quy định về ghi nhãn hàng hóa đối với nhãn nhập khẩu
Khoản 2 Điều 3 Nghị định 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định: “Nhãn hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh, vật mang dữ liệu được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc, gắn, hiển thị trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các phương thức khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa”. Khoản 1 Điều 35 Nghị định này quy định nội dung, cách ghi và quản lý nhà nước về nhãn đối với hàng hóa lưu thông tại Việt Nam, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Theo các quy định nêu trên, nhãn in sẵn được nhập khẩu dưới dạng hàng hóa độc lập, chưa gắn trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm của hàng hóa, chưa phải là nhãn hàng hóa của sản phẩm hoàn chỉnh theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP. Vì vậy, nội dung in sẵn trên nhãn rời tại thời điểm nhập khẩu chưa thuộc đối tượng áp dụng các quy định về nội dung và cách ghi nhãn đối với sản phẩm hoàn chỉnh sẽ được gắn nhãn.
Nghị định 37/2026/NĐ-CP không quy định riêng về điều kiện, hồ sơ, thủ tục nhập khẩu nhãn in sẵn dưới dạng hàng hóa độc lập. Việc nhập khẩu, kiểm tra, giám sát và xử lý đối với mặt hàng này được thực hiện theo pháp luật về quản lý ngoại thương, hải quan, sở hữu trí tuệ và pháp luật khác có liên quan.
[2] Về trách nhiệm đối với nội dung xuất xứ, nhãn hiệu in sẵn trên nhãn
Khoản 1 Điều 41 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa, kể cả nhãn phụ, phải bảo đảm ghi nhãn trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất của hàng hóa. Theo khoản 2 Điều này, trường hợp đặt gia công sản xuất sản phẩm, hàng hóa theo yêu cầu và tiêu chuẩn chất lượng của mình thì tổ chức, cá nhân đặt hàng có trách nhiệm ghi nhãn, chịu trách nhiệm về hàng hóa và nội dung ghi nhãn; tổ chức, cá nhân thực hiện gia công được ghi nhãn theo yêu cầu của bên đặt hàng nhưng không phải là tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về nhãn hàng hóa.
Khoản 1 Điều 47 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định “Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự xác định và ghi xuất xứ hàng hóa của mình, bảo đảm trung thực, chính xác, tuân thủ pháp luật về xuất xứ hàng hóa và các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia”. Đối với hàng hóa xuất khẩu, khoản 3 Điều 42 Nghị định này quy định nhãn hàng hóa được thực hiện theo pháp luật của nước nhập khẩu, hợp đồng, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời tuân thủ khoản 2 Điều 50 Nghị định này.
Như vậy, khi nhãn được gắn trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm của hàng hóa, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn phải bảo đảm nội dung về xuất xứ và các nội dung khác trên nhãn phù hợp với hàng hóa thực tế và quy định pháp luật có liên quan. Việc sử dụng dâu hiệu là nhãn hiệu, tên thương mại trên nhãn còn phải tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ. Trách nhiệm cụ thể được xác định căn cứ vai trò, hành vi và hồ sơ của từng chủ thể; không chỉ căn cứ vào việc chủ thể đó trực tiếp nhập khẩu hoặc gắn nhãn.
Đối với các loại hình nhập khẩu nêu tại điểm 2 Công văn 21198/CHQ-GSQL năm 2026, đề nghị lưu ý:
Đối với loại hình (i) gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất và loại hình (ii) kinh doanh sản xuất: doanh nghiệp nhập khẩu, sử dụng nhãn phải quản lý, sửdụng nhãn đúng mục đích; hàng hóa sau khi gắn nhãn phải đáp ứng quy định về ghi nhãn, xuất xứ, sở hữu trí tuệ và quy định của thị trường nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu;
- Đối với loại hình (iii) nhập khẩu kinh doanh tiêu dùng (A11) và nhập khẩu của doanh nghiệp thực hiện quyền nhập khẩu (A41): doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối nhãn và tổ chức, cá nhân mua, sử dụng nhãn chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình theo pháp luật về thương mại, hải quan, sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa và pháp luật khác có liên quan. Tổ chức, cá nhân sử dụng nhãn để gắn lên hàng hóa phải chịu trách nhiệm về nội dung ghi nhãn theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP.
[3] Về giải pháp kiểm soát và kiến nghị xây dựng quy định
[...]
>> Xem chi tiết toàn bộ nội dung tại Công văn 3506 - Tải về

Công văn 3506 TĐC HCHQ về nhập khẩu nhãn in sẵn thông tin xuất xứ, nhãn hiệu như thế nào? (Hình từ Internet)
Nội dung và cách ghi xuất xứ hàng hóa trên nhãn hàng hóa được quy định thế nào?
Căn cứ Điều 47 Nghị định 37/2026/NĐ-CP hướng dẫn nội dung và cách ghi xuất xứ hàng hóa như sau:
[1] Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự xác định và ghi xuất xứ hàng hóa của mình bảo đảm trung thực, chính xác, tuân thủ các quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam hoặc các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
[2] Xuất xứ hàng hóa ghi trên nhãn thể hiện bằng một trong các cụm từ sau: “sản xuất tại”; “chế tạo tại”; “nước sản xuất”; “xuất xứ”; “sản xuất bởi”; “sản phẩm của” hoặc “Origin”; “Made in”; “Produced in”; “Product of” kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa hoặc ghi theo quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa.
[3] Trường hợp hàng hóa không xác định được xuất xứ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa. Thể hiện bằng một trong các cụm hoặc kết hợp các cụm từ thể hiện công đoạn hoàn thiện hàng hóa như sau: “lắp ráp tại”; “đóng chai tại”; “phối trộn tại”; “hoàn tất tại”; “đóng gói tại”; “dán nhãn tại” hoặc “Assembled in”, “Finished in”, hoặc “Assembled by”, kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa.
Nhãn hàng hóa lưu thông tại Việt Nam bắt buộc phải thể hiện các nội dung nào bằng tiếng Việt?
Căn cứ khoản 1 Điều 42 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định nhãn hàng hóa của các loại hàng hóa đang lưu thông tại Việt Nam bắt buộc phải thể hiện các nội dung sau bằng tiếng Việt:
- Tên hàng hóa;
- Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa;
- Xuất xứ hàng hóa;
- Các nội dung bắt buộc khác phải thể hiện trên nhãn theo tính chất của mỗi loại hàng hóa quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này và quy định pháp luật liên quan.
Trường hợp hàng hóa có tính chất thuộc nhiều nhóm quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP và chưa quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa căn cứ vào công dụng chính của hàng hóa tự xác định nhóm của hàng hóa để ghi các nội dung theo quy định tại điểm này.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];