Theo Luật Dữ liệu, trường hợp nào tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý?

Châu Nhật Tân
13:30 | 22/10/2026
Theo Luật Dữ liệu, trường hợp nào tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý?
Nội dung chính
  1. Theo Luật Dữ liệu, trường hợp nào tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý?
  2. Quy định về việc mã hóa, giải mã dữ liệu như thế nào?
  3. Quy định chuyển, xử lý dữ liệu xuyên biên giới như thế nào?

Theo Luật Dữ liệu, trường hợp nào tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý?

Căn cứ khoản 2 Điều 18 Luật Dữ liệu 2024 quy định về cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước.

Điều 18. Cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước
1. Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cung cấp dữ liệu thuộc quyền sở hữu cho cơ quan nhà nước.
2. Tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý trong các trường hợp sau đây:
a) Ứng phó với tình trạng khẩn cấp;
b) Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp;
c) Thảm họa;
d) Phòng, chống bạo loạn, khủng bố.
[...]

Như vậy, tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý trong các trường hợp sau đây:

- Ứng phó với tình trạng khẩn cấp

- Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp

- Thảm họa

- Phòng, chống bạo loạn, khủng bố.

Theo Luật Dữ liệu, trường hợp nào tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý?

Theo Luật Dữ liệu, trường hợp nào tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý? (Hình từ Internet)

Quy định về việc mã hóa, giải mã dữ liệu như thế nào?

Căn cứ Điều 22 Luật Dữ liệu 2024 quy định về mã hóa, giải mã dữ liệu như sau:

- Dữ liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước phải được mã hóa bằng mật mã của cơ yếu khi lưu trữ, truyền, nhận, chia sẻ trên mạng máy tính.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân được sử dụng một hoặc nhiều giải pháp mã hóa và quy trình mã hóa, giải mã phù hợp với hoạt động quản trị, quản lý dữ liệu của mình.

- Chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu quyết định việc mã hóa, giải mã dữ liệu.

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quyền áp dụng các biện pháp để giải mã dữ liệu mà không cần chủ sở hữu dữ liệu, chủ quản dữ liệu đồng ý trong các trường hợp sau đây:

+ Tình trạng khẩn cấp

+ Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp

+ Thảm họa

+ Phòng, chống bạo loạn, khủng bố.

- Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 4 Điều 22 Luật Dữ liệu 2024

Quy định chuyển, xử lý dữ liệu xuyên biên giới như thế nào?

Căn cứ Điều 23 Luật Dữ liệu 2024 quy định về việc chuyển, xử lý dữ liệu xuyên biên giới như sau:

(1) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được tự do chuyển dữ liệu từ nước ngoài về Việt Nam, xử lý dữ liệu của nước ngoài tại Việt Nam, được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật.

(2) Chuyển, xử lý dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng xuyên biên giới bao gồm:

- Chuyển dữ liệu đang lưu trữ tại Việt Nam tới hệ thống lưu trữ dữ liệu đặt ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam chuyển dữ liệu cho tổ chức, cá nhân nước ngoài

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam sử dụng nền tảng ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xử lý dữ liệu.

(3) Việc chuyển, xử lý dữ liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Luật Dữ liệu 2024 phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu, chủ sở hữu dữ liệu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

(4) Chính phủ quy định chi tiết Điều 23 Luật Dữ liệu 2024

Logo Thư viện Pháp luật
Châu Nhật Tân Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Công nghệ thông tin Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Theo Nghị quyết 71/NQ-CP nền tảng đào tạo trực tuyến mở đại trà được xây dựng, nâng cấp để cung cấp kiến thức về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, công nghệ số cơ bản cho người dân, doanh nghiệp theo hình thức nào?

Theo Nghị quyết 71/NQ-CP nền tảng đào tạo trực tuyến mở đại trà được xây dựng, nâng cấp để cung cấp kiến thức về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, công nghệ số cơ bản cho người dân, doanh nghiệp theo hình thức nào?

Hỏi đáp Pháp luật
Theo Nghị quyết 76/NQ-CP, đến năm 2030 hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý đạt tỷ lệ bao nhiêu?

Theo Nghị quyết 76/NQ-CP, đến năm 2030 hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý đạt tỷ lệ bao nhiêu?

Bài viết mới nhất