Công văn 1706/CT-CS 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn cho thuê lại lao động ra sao?

Lê Nguyễn Minh Thy 606 lượt xem
15:32 | 25/03/2026
Công văn 1706/CT-CS 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn cho thuê lại lao động ra sao? Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động theo kỳ hạn nào?
Nội dung chính
  1. Công văn 1706/CT-CS 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn cho thuê lại lao động ra sao?
  2. Ủy quyền cho người lao động thanh toán hàng hóa mua vào có được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào không?
  3. Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động theo kỳ hạn nào?

Công văn 1706/CT-CS 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn cho thuê lại lao động ra sao?

Ngày 24/03/2026, Cục Thuế ban hành Công văn 1706/CT-CS năm 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn.

Xem toàn bộ Công văn 1706 CT CS 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn dưới đây:

Tại đây

Về thuế GTGT và hóa đơn, Cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ Điều 52 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 53 Bộ luật Lao động 2019 về cho thuê lại lao động và nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động;

Căn cứ Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động về quy định về doanh nghiệp cho thuê lại lao động, về bên thuê lại lao động, về thu hồi giấy phép;

Căn cứ Điều 5, Điều 11, điểm b khoản 5 Điều 12 và Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư 119/2014/TT-BTC, Thông tư 151/2014/TT-BTC, Thông tư 26/2015/TT-BTC) hướng dẫn về các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT, thuế suất, phương pháp khấu trừ thuế và điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào;

Căn cứ quy định nêu trên, trước thời điểm 1/7/2025, trường hợp doanh nghiệp được Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ) cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động, ký hợp đồng trực tiếp với người lao động nhưng không trực tiếp sử dụng người lao động mà cho các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, cá nhân khác thuê lại lao động và hưởng phí dịch vụ cho thuê lại lao động; người lao động làm việc tại đơn vị thuê lại, chịu sự quản lý và điều hành của bên thuê lại lao động, được hưởng lương và các chế độ khác theo quy chế của bên thuê lại lao động; hàng tháng bên thuê lại lao động chuyển tiền cho doanh nghiệp cho thuê lại lao động để thanh toán tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, phụ cấp và trích, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn cho người lao động, thì khoản tiền mà bên thuê lại lao động chuyển cho doanh nghiệp cho thuê lại lao dộng để thanh toán tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, phụ cấp và trích, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn cho người lao động có tính chất thu hộ, chi hộ không phải là doanh thu của doanh nghiệp cho thuê lại lao động được hưởng, thuộc diện không phải kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định điểm d khoản 7 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC.

Trường hợp nếu không đáp ứng quy định về hoạt động cho thuê lại lao động theo pháp luật về lao động hoặc doanh nghiệp cho thuê lại lao động không tự xác định riêng từng loại dịch vụ trong đó có khoản thu hộ, chỉ hộ để áp dụng mức thuế suất GTGT quy định tương ứng thì phải tính và nộp thuế GTGT theo mức thuế suất GTGT cao nhất của các dịch vụ này theo quy định tại Điều 11 Thông tư 219/2013/TT-BTC.

Trường hợp doanh nghiệp cho thuê lao động đã xuất hóa đơn và kê khai nộp thuế GTGT với mức thuế suất cao nhất thì thực hiện theo hướng dẫn tại điểm b khoản 5 Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC nêu trên.

Trên đây là thông tin: Công văn 1706 CT CS 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn cho thuê lại lao động ra sao?

Công văn 1706/CT-CS 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn cho thuê lại lao động ra sao?

Công văn 1706/CT-CS 2026 về thuế giá trị gia tăng và hóa đơn cho thuê lại lao động ra sao? (Hình từ Internet)

Ủy quyền cho người lao động thanh toán hàng hóa mua vào có được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào không?

Căn cứ tại khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 26. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:
[...]
2. Một số trường hợp đặc thù theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng bao gồm:
[...]
c) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba thanh toán không dùng tiền mặt (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán không dùng tiền mặt cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo ủy quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một tổ chức hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.
[...]
i) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được ủy quyền cho cá nhân là người lao động của cơ sở kinh doanh thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của cơ sở kinh doanh, sau đó cơ sở kinh doanh thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
[...]

Theo đó, trường hợp doanh nghiệp ủy quyền cho người lao động của doanh nghiệp thanh toán không dùng tiền mặt theo quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của doanh nghiệp đối với việc hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, sau đó doanh nghiệp thực hiện thanh toán lại cho người lao động bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động theo kỳ hạn nào?

Căn cứ theo Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động trả lương cho người lao động theo kỳ hạn sau:

- Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.

- Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.

- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

- Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Lê Nguyễn Minh Thy
Lê Nguyễn Minh Thy Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Thuế - Phí - Lệ Phí Xem thêm

Bài viết mới nhất