Có phải viết đơn xin giao đất hay không?

Thư Viện Pháp Luật 100 lượt xem
11:08 | 01/02/2023
Bố em có lô đất ở từ trước năm 1975, sau đó bố em cho hàng xóm mượn mảnh đất này để trồng trọt. Nhưng trước giờ đất đó chưa có sổ đỏ. Khi em lên địa chính xã hỏi lô đất đó để làm sổ đỏ thì cán bộ tra bản đồ địa chính bảo bố em không có tên trong bản đồ và cán bộ xã nói thêm theo Nghị định 64 thì bố em không làm được sổ đỏ mặc dù đất không tranh chấp. Cán bộ đó bảo rằng phải về viết đơn xin giao đất để gửi HĐND xã xem xét về lô đất đó. Em không hiểu gì nhiều về luật đất đai nên em xin nhờ tư vấn giờ em phải làm gì, có làm đơn xin giao đất hay không? Trong khi đất đó gia đình em sử dụng từ trước đến giờ bởi cũng có nhiều hộ cứ chờ HĐND xã xét vài năm rồi mà chưa có kết quả. Em xin chân thành cảm ơn!

Trường hợp của bạn không nhất thiết phải viết đơn xin giao đất. Vì căn cứ vào khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.”

Do vậy, nếu gia đình bạn có một trong những giấy tờ đó thì gia đình nhà bạn thực hiện các thủ tục, trình tự để được làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp gia đình nhà bạn không có một trong những giấy tờ nêu trên (khoản 1, Điều 50, Luật Đất đai năm 2003) nhưng đất đã sử dụng từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì theo khoản 4, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 quy định như sau: “4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.”

Như vậy, đất nhà bạn sử dụng từ năm 1975 nếu không có tranh chấp và phù hợp quy hoạch sử dụng đất thì nhà bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại điều luật này.

Trường hợp của bạn không nhất thiết phải viết đơn xin giao đất. Vì căn cứ vào khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.”

Do vậy, nếu gia đình bạn có một trong những giấy tờ đó thì gia đình nhà bạn thực hiện các thủ tục, trình tự để được làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp gia đình nhà bạn không có một trong những giấy tờ nêu trên (khoản 1, Điều 50, Luật Đất đai năm 2003) nhưng đất đã sử dụng từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì theo khoản 4, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 quy định như sau: “4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.”

Như vậy, đất nhà bạn sử dụng từ năm 1975 nếu không có tranh chấp và phù hợp quy hoạch sử dụng đất thì nhà bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại điều luật này.

Logo Thư viện Pháp luật
Thư Viện Pháp Luật Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Bất động sản Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Theo Nghị quyết 35-NQ/TU, đến năm 2029, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư phải đạt tối thiểu bao nhiêu?

Theo Nghị quyết 35-NQ/TU, đến năm 2029, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư phải đạt tối thiểu bao nhiêu?

Bài viết mới nhất

Hỏi đáp Pháp luật
Nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất đổi mới, hoàn thiện quy trình lập pháp, lập quy được thực hiện theo hướng nào theo Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 2030?

Nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất đổi mới, hoàn thiện quy trình lập pháp, lập quy được thực hiện theo hướng nào theo Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 2030?