Cấu trúc bài văn nghị luận xã hội như thế nào?
(1). Văn nghị luận xã hội là gì?
Nghị luận xã hội là một thể loại văn bản trong đó người viết trình bày suy nghĩ, quan điểm cá nhân về các hiện tượng đời sống hoặc tư tưởng đạo lý. Đây là dạng văn thường gặp trong chương trình giáo dục, đặc biệt là ở bậc trung học phổ thông.
(2). Cấu trúc của bài văn nghị luận xã hội
Một bài văn nghị luận xã hội có 3 phần chính: Mở bài, Thân bài và Kết bài
I. Mở bài (Giới thiệu vấn đề cần nghị luận)
- Dẫn dắt vấn đề (có thể qua một câu chuyện, một câu nói, hiện tượng đời sống,...).
- Khái quát vấn đề nghị luận (một cách ngắn gọn, rõ ràng).
II. Thân bài (Triển khai vấn đề)
Trọng tâm bài viết. Có thể triển khai như sau:
- Giải thích vấn đề nghị luận: khái niệm, thuật ngữ trong đề bài.
- Phân tích – bàn luận vấn đề: Trình bày các luận điểm chính, mỗi luận điểm nên có (luận cứ, dẫn chứng, bình luận). Đối đề tài nghị luận liên quan đến các hiện tượng đời sống nên nêu lên thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của vấn đề và cuối cùng là nêu ra giải phát.
- Phản đề (nếu có): Phê phán những quan điểm hoặc hành vi trái ngược, tiêu cực (Đây là phần không bắt buộc nhưng nếu có sẽ kiến bài văn thêm hay và tăng sức thuyết phục)
- Bài học nhận thức và hành động: Liên hệ với bản thân, rút ra bài học ứng xử phù hợp.
III. Kết bài (Khái quát và nêu cảm nghĩ)
Khái quát lại nội dung và khẳng định lại vấn đề đã bàn luận. Nêu suy nghĩ, cảm nhận hoặc lời kêu gọi, định hướng tương lai.
Lưu ý: Cấu trúc bài văn nghị luận xã hội như thế nào chỉ mang tính tham khảo!

Cấu trúc bài văn nghị luận xã hội như thế nào? (Hình từ Internet)
Yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ trong môn Ngữ văn là gì?
Căn cứ theo tiểu mục 2 Mục 4 Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐ quy định yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ trong môn Ngữ văn như sau:
- Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt cùng với những trải nghiệm và khả năng suy luận của bản thân để hiểu văn bản; biết đọc văn bản theo kiểu, loại; hiểu được nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản.
- Nhận biết và bước đầu biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản; biết so sánh văn bản này với văn bản khác, liên hệ với những trải nghiệm cuộc sống của cá nhân; từ đó có cách nhìn, cách nghĩ và những cảm nhận riêng về cuộc sống, làm giàu đời sống tinh thần.
- Viết được bài văn tự sự, miêu tả và biểu cảm; bước đầu biết viết bài văn nghị luận, thuyết minh, nhật dụng.
- Viết văn bản tự sự tập trung vào yêu cầu kể lại một cách sáng tạo những câu chuyện đã đọc; những điều đã chứng kiến, tham gia; những câu chuyện tưởng tượng có kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm; văn bản miêu tả với trọng tâm là tả cảnh sinh hoạt (tả hoạt động); văn bản biểu cảm đối với cảnh vật, con người và thể hiện cảm nhận về tác phẩm văn học; biết làm các câu thơ, bài thơ, chủ yếu để nhận biết đặc điểm một số thể thơ quen thuộc; viết được văn bản nghị luận về những vấn đề cần thể hiện suy nghĩ và chủ kiến cá nhân, đòi hỏi những thao tác lập luận tương đối đơn giản, bằng chứng dễ tìm kiếm; viết được văn bản thuyết minh về những vấn đề gần gũi với đời sống và hiểu biết của học sinh với cấu trúc thông dụng; điền được một số mẫu giấy tờ, soạn được một số văn bản nhật dụng như biên bản ghi nhớ công việc, thư điện tử, văn bản tường trình, quảng cáo và bài phỏng vấn. Viết đúng quy trình, biết cách tìm tài liệu để đáp ứng yêu cầu viết văn bản; có hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ và biết cách trích dẫn văn bản.
- Trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; có thái độ tự tin khi nói trước nhiều người; sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách mạch lạc câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ những cảm xúc, thái độ, trải nghiệm, ý tưởng của mình đối với những vấn đề được nói đến; thảo luận ý kiến về vấn đề đã đọc, đã nghe; thuyết minh về một đối tượng hay quy trình; biết cách nói thích hợp với mục đích, đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp; biết sử dụng hình ảnh, kí hiệu, biểu đồ,... để trình bày vấn đề một cách hiệu quả.
- Nghe hiểu với thái độ phù hợp và tóm tắt được nội dung; nhận biết và bước đầu đánh giá được lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe một cách hiệu quả.
Ngôn ngữ, chữ viết được dùng trong cơ sở giáo dục là gì?
Căn cứ Điều 11 Luật Giáo dục 2019 quy định ngôn ngữ, chữ viết được dùng trong cơ sở giáo dục như sau:
- Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong cơ sở giáo dục.
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục.
- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ; người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu, người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo quy định của Luật Người khuyết tật 2010.
- Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong cơ sở giáo dục phải bảo đảm để người học được học liên tục, hiệu quả.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];