Cầm cố xe không chuộc ra có phải lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

Thư Viện Pháp Luật 566 lượt xem
08:05 | 21/03/2023
Bạn của em tôi có cầm xe vì sợ gia đình mắng nên bạn của em tôi có năn nỉ em tôi thế xe vào, khi về nhà lấy đồ xong sẽ xuống thế xe vào lấy xe của em tôi ra. Lúc cầm đồ có em tôi đi chung và xe của em tôi là xe chính chủ. Vì là chỗ quen của bạn em tôi nên chủ tiệm không đưa biên nhận cho em tôi vì nghe bạn của em tôi nói là thế xe chút rồi lấy ra. Tuy nhiên khi về nhà xong thì bạn của em tôi nói gia đình không cho lấy xe nên giờ xe em tôi vẫn còn nằm ở tiệm cầm đồ. Chủ tiệm nói nếu không chuộc hoặc đóng lãi thì sẽ bán xe của em tôi. Vậy cho tôi hỏi, đó có phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Nếu có thì làm thế nào để lấy xe của em tôi ra? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

Trong trường hợp của em bạn, chưa đủ căn cứ để kết luận hành vi của người bạn kia có phải hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Việc em bạn làm là hoàn toàn tự nguyện và không có yếu tố nào ép buộc, đồng thời tài sản cũng không bị hư hỏng, mất mát nhưng hiện nằm trong sự quản lý,chiếm hữu của bên cầm đồ. Tuy không phải là người trực tiếp chiếm hữu tài sản nhưng hành vi của người bạn của em bạn đã ảnh hưởng đến tài sản của em bạn nên hành vi của người bạn của em bạn trong trường hợp này có thể bị xem xét theo quy định tại Điều 139 và Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009.

Khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.”

Như vậy, không xét đến những yếu tố về chủ thể, hậu quả thì đặc trưng của hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chính là thủ đoạn gian dối. Hành vi gian dối xuất hiện ngay tại thời diểm đầu tiên, người phạm tội thực hiện hành vi gian dối nhằm mục đích có được tài sản để thực hiện mục đích chiếm đoạt. Trong trường hợp này, nếu người bạn đã nói dối em của bạn ngay từ đầu về việc thế xe, tức là không có ý định đem xe của mình để chuộc xe của em bạn ra thì đó chính là hành vi gian dối của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, nếu ý định chiếm đoạt tài sản phát sinh sau thời điểm thế xe, chẳng hạn vì lý do gia đình không đồng ý và bản thân không có khả năng nên người bạn mới nảy sinh ý định rời khỏi địa phương, không chịu giải quyết vấn đề thì hành vi này có thể bị xác định là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009 như sau:

Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, tùy từng trường hợp và trên cơ sở đánh giá những yếu tố khách quan, chủ quan khác trong tình huống mới có thể kết luận chính xác hành vi của người bạn của em bạn trong tình huống này.

Trên đây là tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật về việc cầm cố xe không chuộc ra. Bạn nên tham khảo chi tiết Bộ luật hình sự sửa đổi 2009 để nắm rõ quy định này.

Trân trọng!

Logo Thư viện Pháp luật
Thư Viện Pháp Luật Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Hỏi đáp Pháp luật
Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự thế nào?

Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Quy định phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thống kê giám định tư pháp trong tố tụng hình sự

Bài viết mới nhất