NGHỊ QUYẾT
QUY
ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VÀ HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN VỀ GIÁM SÁT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức
Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Hoạt động
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 87/2025/QH15;
QUYẾT NGHỊ:
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị quyết này quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành về trình tự, thủ tục và trách nhiệm của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
trong việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong tổ chức thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật
quy định tại Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 14, điểm b khoản 1 Điều
17, điểm b khoản 1 Điều 20, điểm b khoản 1 Điều 25, điểm b
khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 28, điểm b khoản 2 và điểm b
khoản 3 Điều 31, điểm b khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 34, điểm b khoản 1 và điểm
b khoản 2 Điều 36, các điều 39, 40, 41 và 42 của Luật Hoạt động
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
2. Việc giám sát đối với văn bản quy phạm pháp luật
là nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tại điểm 1
khoản 1 Điều 17 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
được thực hiện theo quy định của Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15
ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội
và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Quốc hội.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng
Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực
Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.
2. Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt
động giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 3. Nguyên tắc giám sát văn
bản quy phạm pháp luật
1. Tuân thủ các nguyên tắc hoạt động giám sát quy định
tại Điều 3 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng
nhân dân.
2. Được tiến hành thường xuyên.
3. Chủ động giám sát ngay từ khi văn bản quy phạm
pháp luật được ban hành, bảo đảm tính kịp thời, khả thi.
4. Bảo đảm kết hợp giữa giám sát văn bản quy phạm
pháp luật với giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật.
5. Đề cao sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong hoạt động giám sát; chú trọng công tác theo dõi, đôn đốc thực hiện
nghị quyết, kết luận, kiến nghị sau giám sát.
Điều 4. Mục đích giám sát văn bản
quy phạm pháp luật
1. Giám sát văn bản quy phạm pháp luật gắn với việc
nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính
hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với
thực tiễn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường hiệu quả công tác tổ
chức thi hành pháp luật.
2. Phát hiện nội dung trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên hoặc không còn phù hợp, văn bản quy phạm pháp luật ban
hành không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức để tự mình hoặc kiến
nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế,
tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ
văn bản; kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người
có thẩm quyền xử lý người vi phạm.
3. Phát hiện việc chậm ban hành văn bản quy định chi
tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên để kịp thời đôn đốc, yêu cầu cơ quan
nhà nước, người có thẩm quyền được giao ban hành văn bản.
Điều 5. Nội dung giám sát văn bản
quy phạm pháp luật
Theo thẩm quyền, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân,
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng
nhân dân giám sát văn bản quy phạm pháp luật theo các nội dung sau đây:
1. Tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản
quy phạm pháp luật;
2. Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của
văn bản trong hệ thống pháp luật và việc tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình
tự, thủ tục ban hành văn bản, bao gồm:
a) Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Sự phù hợp của nội dung văn bản với hình thức
văn bản và với thẩm quyền của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành
văn bản đó;
c) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục, căn cứ pháp lý
ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
d) Sự thống nhất giữa các nội dung trong cùng một
văn bản và giữa các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền ban hành;
3. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền về khuyết điểm và sai phạm trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Điều 6. Nguồn tiếp cận văn bản
quy phạm pháp luật
1. Các nguồn tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật để
thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
a) Văn bản quy phạm pháp luật được đăng tải trên
công báo điện tử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc công báo điện tử
cấp tỉnh;
b) Văn bản quy phạm pháp luật được tra cứu từ cơ sở
dữ liệu quốc gia về pháp luật;
c) Các nguồn tiếp cận văn bản quy phạm pháp luật
khác.
2. Trường hợp tiếp nhận thông tin phản ánh văn bản
quy phạm pháp luật thuộc phạm vi giám sát có dấu hiệu trái pháp luật thông qua
các hoạt động giám sát, khảo sát khác, thông tin từ các phương tiện thông tin đại
chúng hoặc thông qua việc tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực
Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội
đồng nhân dân tìm kiếm văn bản từ các nguồn quy định tại khoản 1 Điều này hoặc
yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp
luật cung cấp văn bản chính thức để phục vụ việc giám sát. Cơ quan nhà nước,
người được yêu cầu có trách nhiệm gửi văn bản đến Thường trực Hội đồng Dân tộc,
Thường trực Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Ban của Hội đồng nhân dân,
đại biểu Hội đồng nhân dân trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
yêu cầu.
3. Đối với văn bản quy phạm pháp luật có nội dung
thuộc phạm vi bí mật nhà nước thì cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban
hành văn bản có trách nhiệm gửi văn bản đến chủ thể có thẩm quyền giám sát
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành văn bản, trừ trường hợp văn
bản quy phạm pháp luật đó thuộc diện chủ thể giám sát không được tiếp cận.
Chủ thể giám sát có trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo
vệ thông tin, văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về bảo vệ
bí mật nhà nước.
Chương II
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI
Mục 1. QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG
VỤ QUỐC HỘI XEM XÉT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CÓ DẤU HIỆU TRÁI VỚI HIẾN PHÁP,
LUẬT, NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ HỘI
Điều 7. Trình tự, thủ tục Ủy
ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, trình Quốc hội
xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 4, 5,
6, 7, 8 và 9 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội thuộc các trường hợp sau đây:
a) Khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình phát hiện
văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
b) Theo kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội, đại biểu Quốc hội;
c) Theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
2. Khi nhận được đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm
b và điểm c khoản 1 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét
theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 10 của Nghị quyết này.
Đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c
khoản 1 Điều này được Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra theo quy định
tại Điều 11 của Nghị quyết này.
3. Hồ sơ trình Quốc hội bao gồm:
a) Tờ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Đề nghị, kiến nghị thuộc trường hợp quy định tại
điểm b và điểm c khoản 1 Điều này;
c) Báo cáo giải trình của cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
d) Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều
này;
đ) Dự thảo nghị quyết về việc xem xét văn bản quy
phạm pháp luật.
Cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc cơ quan khác được Ủy
ban Thường vụ Quốc hội phân công có trách nhiệm giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội
xây dựng dự thảo nghị quyết.
Điều 8. Trình tự, thủ tục Chủ tịch
nước trình Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
1. Chủ tịch nước xem xét, trình Quốc hội xem xét
văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thuộc
các trường hợp sau đây:
a) Khi Chủ tịch nước tự mình phát hiện văn bản quy
phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội;
b) Theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
2. Hồ sơ trình Quốc hội xem xét văn bản quy phạm
pháp luật quy định tại khoản 1 Điều này được Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc
hội thẩm tra theo quy định tại Điều 11 của Nghị quyết này.
3. Hồ sơ trình Quốc hội bao gồm:
a) Tờ trình của Chủ tịch nước và dự thảo nghị quyết
về việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật;
b) Đề nghị thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản
1 Điều này;
c) Báo cáo giải trình của cơ quan đã ban hành văn bản
quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
d) Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội.
Điều 9. Trình tự, thủ tục Quốc
hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội
Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội theo trình tự, thủ tục sau đây:
1. Đại diện Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch
nước trình bày tờ trình;
2. Chủ tịch Hội đồng Dân tộc hoặc Chủ nhiệm Ủy ban
của Quốc hội trình bày báo cáo thẩm tra đối với đề nghị, kiến nghị thuộc trường
hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 7 và khoản 1 Điều 8
của Nghị quyết này;
3. Quốc hội thảo luận;
4. Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị,
kiến nghị trình bày ý kiến bổ sung (nếu có);
5. Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến (nếu có);
6. Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình về vấn đề có liên quan;
7. Quốc hội ban hành nghị quyết về việc xem xét văn
bản quy phạm pháp luật.
Nội dung nghị quyết phải xác định văn bản quy phạm
pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì
quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó; xử lý theo thẩm quyền hoặc
kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét trách nhiệm, xử lý người
vi phạm.
Điều 10. Trình tự, thủ tục Ủy
ban Thường vụ Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét văn bản quy phạm
pháp luật quy định tại các khoản 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 4 của Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc các trường hợp sau đây:
a) Khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình phát hiện
văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội;
b) Theo kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội, đại biểu Quốc hội;
c) Theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
2. Hồ sơ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét đề
nghị, kiến nghị theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này được Hội đồng
Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra theo quy định tại Điều 11
của Nghị quyết này.
3. Hồ sơ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội bao gồm:
a) Đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Báo cáo giải trình của cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
c) Báo cáo thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều
này;
d) Dự thảo nghị quyết về việc xem xét văn bản quy
phạm pháp luật.
Cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc cơ quan khác được Ủy
ban Thường vụ Quốc hội phân công có trách nhiệm xây dựng dự thảo nghị quyết.
4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét văn bản quy phạm
pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội theo trình tự sau đây:
a) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị,
kiến nghị trình bày;
b) Đại diện cơ quan thẩm tra trình bày báo cáo thẩm
tra đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này;
c) Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận;
d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến (nếu có);
đ) Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình về vấn đề có liên quan;
e) Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết về
việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
Nội dung nghị quyết phải xác định văn bản quy phạm
pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội; trường hợp văn bản trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội thì quyết định đình chỉ việc thi hành một phần hoặc
toàn bộ văn bản và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ
văn bản tại kỳ họp gần nhất; trường hợp văn bản trái với pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản
đó; kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét trách nhiệm, xử lý
người vi phạm.
Điều 11. Trách nhiệm thẩm tra
đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội
1. Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội có
trách nhiệm chủ trì thẩm tra đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái với Hiến pháp; Hội đồng
Dân tộc, Ủy ban khác của Quốc hội tham gia thẩm tra theo phân công của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
2. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách
nhiệm chủ trì hoặc phối hợp thẩm tra đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm
pháp luật có dấu hiệu trái với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo phân công của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Hồ sơ gửi Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội
để thẩm tra bao gồm:
a) Đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
c) Tài liệu khác có liên quan (nếu có).
4. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra đề
nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo trình tự sau đây:
a) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị,
kiến nghị trình bày;
b) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thảo luận;
c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến (nếu có);
d) Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình về vấn đề có liên quan;
đ) Chủ tọa kết luận về nội dung thảo luận tại phiên
họp.
5. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoàn thiện
Báo cáo thẩm tra trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét. Báo cáo thẩm
tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phải phản ánh ý kiến của các
thành viên Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và ý kiến của cơ quan, đại biểu
tham gia thẩm tra.
Mục 2. HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, ỦY
BAN CỦA QUỐC HỘI GIÁM SÁT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 12. Phạm vi giám sát văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội
Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội xem xét, giám
sát văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 5, 6, 7,
8 và 9 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc các trường
hợp sau đây:
1. Văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ
trách của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội;
2. Văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết điều,
khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật
hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội do Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm
tra;
3. Văn bản quy phạm pháp luật được Ủy ban Thường vụ
Quốc hội giao thực hiện việc giám sát.
Điều 13. Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội nghiên cứu, xem xét, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật
1. Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban
của Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, xem xét, đánh giá văn bản quy phạm pháp
luật thuộc phạm vi giám sát theo các nội dung sau đây:
a) Về căn cứ pháp lý ban hành văn bản, bao gồm: việc
ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải căn cứ vào quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; căn
cứ vào văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực
thi hành hoặc đã được thông qua, ký ban hành nhưng có hiệu lực trước hoặc cùng
thời điểm với văn bản được giám sát;
b) Về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất
của văn bản quy phạm pháp luật với hệ thống pháp luật, tính kịp thời, đầy đủ
trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung
khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, bao gồm: văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải
phù hợp với quy định của Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; bảo đảm không trái với
điều ước quốc tế liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên; nội dung quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải bảo đảm chỉ quy định các nội dung phù
hợp với phạm vi được giao trong văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
và được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều,
khoản, điểm, nội dung khác giao quy định chi tiết; nội dung quy định tại văn bản
quy phạm pháp luật phải bảo đảm tính thống nhất trong văn bản đó và trong hệ thống
pháp luật;
c) Về thẩm quyền ban hành văn bản, bao gồm: văn bản
quy phạm pháp luật phải được cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn
bản theo đúng hình thức văn bản đã được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và
phù hợp với thẩm quyền đã được pháp luật quy định hoặc được phân công, phân cấp.
Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật được
xác định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên quy định
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước của từng cơ quan hoặc giao
quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác của luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và văn bản quy phạm
pháp luật khác của cơ quan nhà nước cấp trên;
d) Về hình thức văn bản và trình tự, thủ tục ban
hành văn bản, bao gồm: văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng hình
thức (tên gọi loại văn bản, hình thức trình bày); bảo đảm thực hiện đầy đủ các
bước trong trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo
quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật.
2. Trong quá trình nghiên cứu, xem xét, đánh giá
văn bản quy phạm pháp luật, trường hợp phát hiện chưa ban hành văn bản quy định
chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì xử lý
theo quy định tại Điều 14 của Nghị quyết này; trường hợp
phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật thì xử lý theo
quy định tại Điều 15 của Nghị quyết này.
Điều 14. Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội xử lý việc chưa ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản,
điểm và các nội dung khác được giao
1. Đến thời điểm điều, khoản, điểm và các nội dung
khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực thi hành mà cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Thường trực Hội đồng Dân tộc,
Thường trực Ủy ban của Quốc hội kịp thời thực hiện các công việc sau đây:
a) Gửi văn bản đề nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền ban hành văn bản, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền được giao chủ trì
soạn thảo văn bản báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình về việc chưa ban hành
văn bản; đồng thời đôn đốc khẩn trương ban hành văn bản;
b) Khi xét thấy cần thiết, tổ chức làm việc với cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan; đề nghị báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình và đề xuất hướng
giải quyết đối với các nội dung giao quy định mà chưa ban hành văn bản.
2. Trường hợp cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
được giao ban hành văn bản không thống nhất với đề xuất hướng giải quyết của
Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội thì trên cơ sở ý
kiến của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội và ý kiến
của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về thời gian và hậu quả pháp lý phát
sinh của việc chưa ban hành văn bản, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội xem
xét, kết luận, kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kịp thời ban
hành văn bản; xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
3. Kết quả giám sát phải được báo cáo Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Hồ sơ báo cáo kết quả giám sát bao gồm: Báo cáo kết
quả nghiên cứu, đánh giá đối với nội dung giao quy định chi tiết điều, khoản,
điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,
nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà chưa ban hành văn bản quy phạm pháp
luật và kết luận, kiến nghị; văn bản ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan về nội dung được giao quy định chi tiết mà chưa ban hành văn bản quy
phạm pháp luật (nếu có).
4. Kết luận, kiến nghị giám sát được gửi đến cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực
hiện.
Điều 15. Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật
1. Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì Thường trực Hội đồng Dân tộc,
Thường trực Ủy ban của Quốc hội kịp thời thực hiện các công việc sau đây:
a) Gửi văn bản đến cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền ban hành văn bản đề nghị báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình về nội
dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật
của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Tổ chức làm việc với cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền ban hành văn bản, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để trao đổi,
cung cấp thông tin, giải trình, làm rõ các nhận định, đánh giá và đề xuất hướng
giải quyết đối với nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trường hợp cần thiết, gửi
văn bản xin ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về nội dung đánh giá
và hướng giải quyết đối với nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của
Quốc hội xem xét, đánh giá về các thông tin báo cáo, ý kiến giải trình và đề xuất
hướng giải quyết đối với nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
2. Trường hợp xác định văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật không thống nhất với đề xuất hướng
giải quyết của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội
thì Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tổ chức lấy ý kiến thành viên Hội đồng
Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội bằng văn bản hoặc tổ chức phiên họp để xem xét.
Trường hợp tổ chức phiên họp thì thực hiện theo
trình tự sau đây:
a) Đại diện Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực
Ủy ban của Quốc hội trình bày báo cáo;
b) Đại diện cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình;
c) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thảo luận;
d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến (nếu có);
đ) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội kết luận về
việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
3. Nội dung kết luận phải xác định văn bản quy phạm
pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; trường hợp văn bản
quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì đề xuất, kiến nghị
xử lý như sau:
a) Trường hợp văn bản chưa đúng về căn cứ ban hành,
lỗi chính tả hoặc sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản thì kiến nghị
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đính chính theo quy định
của pháp luật;
b) Trường hợp văn bản ban hành không đúng thẩm quyền,
vi phạm trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản hoặc văn bản có nội dung
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì kiến nghị cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi
hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Văn bản quy phạm pháp luật vi phạm trình tự, thủ tục
xây dựng, ban hành văn bản quy định tại điểm này thuộc một trong các trường hợp
sau đây: không tổ chức lấy ý kiến hồ sơ dự thảo văn bản; không thực hiện thẩm định,
thẩm tra dự thảo văn bản; văn bản ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn hoặc
trong trường hợp đặc biệt nhưng không có sự đồng ý hoặc chỉ đạo của cơ quan,
người có thẩm quyền; dự thảo văn bản được thông qua không đúng quy định của
pháp luật.
4. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến
nghị, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản phải xem xét,
thực hiện và thông báo đến Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Quá thời hạn
này mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản không thực hiện
kiến nghị hoặc thực hiện không đáp ứng yêu cầu thì Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội có quyền sau đây:
a) Kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét
trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
5. Kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật phải
được báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hồ sơ báo cáo kết quả giám sát bao gồm:
Báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá đối với văn bản quy phạm pháp luật có nội
dung trái pháp luật và kết luận, kiến nghị; ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan về văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật (nếu
có).
6. Kết luận, kiến nghị giám sát được gửi đến cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực
hiện.
Mục 3. ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI GIÁM
SÁT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 16. Đại biểu Quốc hội
nghiên cứu, xem xét, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật
1. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm về việc nghiên cứu, xem xét, đánh giá
văn bản quy phạm pháp luật theo các nội dung quy định tại khoản
1 Điều 13 của Nghị quyết này.
2. Trong quá trình nghiên cứu, xem xét, đánh giá
văn bản quy phạm pháp luật, đại biểu Quốc hội thực hiện các công việc sau đây:
a) Gửi văn bản đến cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền ban hành văn bản đề nghị báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình về việc
chưa ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác
được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nội
dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên;
b) Xem xét, đánh giá về các thông tin báo cáo, ý kiến
giải trình và đề xuất hướng giải quyết đối với nội dung chưa được ban hành văn
bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc nội dung của văn
bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.
Điều 17. Đại biểu Quốc hội xử
lý việc chưa ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội
dung khác được giao; xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật
1. Trường hợp xác định nội dung chưa được ban hành
văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao
trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì đại biểu
Quốc hội kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kịp thời ban hành văn
bản; xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm và chịu trách nhiệm về kiến nghị
của mình.
2. Trường hợp xác định văn bản quy phạm pháp luật
trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên thì đại biểu Quốc hội đề xuất, kiến nghị xử
lý theo quy định tại khoản 3 Điều 15 của Nghị quyết này và
chịu trách nhiệm về kiến nghị của mình.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến
nghị, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản phải xem xét,
thực hiện và thông báo đến đại biểu Quốc hội. Quá thời hạn này mà cơ quan nhà
nước, người có thẩm quyền không thực hiện kiến nghị hoặc thực hiện không đáp ứng
yêu cầu thì đại biểu Quốc hội có quyền sau đây:
a) Kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật
trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
b) Kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền
xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
Chương III
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Mục 1. HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, THƯỜNG
TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XEM XÉT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CÓ DẤU HIỆU TRÁI VỚI
HIẾN PHÁP, VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CẤP TRÊN, NGHỊ QUYẾT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÙNG CẤP
Điều 18. Trình tự, thủ tục Hội
đồng nhân dân xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cùng cấp
1. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét văn bản quy
phạm pháp luật quy định tại các khoản 11, 12 và 14 Điều 4 của
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật của Ủy
ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình
theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét văn bản quy phạm
pháp luật quy định tại khoản 15 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết
của Hội đồng nhân dân cấp mình theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp
xã.
2. Hồ sơ trình Hội đồng nhân dân bao gồm:
a) Tờ trình của Thường trực Hội đồng nhân dân;
b) Đề nghị, kiến nghị thuộc trường hợp quy định tại
các điểm b, c, d khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Nghị quyết này;
c) Báo cáo giải trình của cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình;
d) Báo cáo thẩm tra của Ban của Hội đồng nhân dân đối
với đề nghị, kiến nghị quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 và
khoản 3 Điều 19 của Nghị quyết này;
đ) Dự thảo nghị quyết về việc xem xét văn bản quy
phạm pháp luật.
Cơ quan thẩm tra hoặc cơ quan khác được Thường trực
Hội đồng nhân dân phân công có trách nhiệm xây dựng dự thảo Nghị quyết.
3. Hội đồng nhân dân xem xét văn bản quy phạm pháp
luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp theo trình tự sau đây:
a) Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân trình bày
tờ trình;
b) Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân trình bày báo
cáo thẩm tra đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại các điểm
b, c, d khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Nghị quyết này;
c) Hội đồng nhân dân thảo luận;
d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị,
kiến nghị trình bày ý kiến bổ sung (nếu có);
đ) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến (nếu có);
e) Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình về vấn đề có liên quan;
g) Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết về việc
xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
4. Nội dung nghị quyết phải xác định văn bản quy phạm
pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp thì quyết định
đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó theo thẩm quyền
hoặc đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một
phần hoặc toàn bộ văn bản của Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp
chính quyền địa phương; xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan, người có thẩm
quyền xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
Điều 19. Trình tự, thủ tục Thường
trực Hội đồng nhân dân xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với
Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết
của Hội đồng nhân dân cùng cấp
1. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét
văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 11, 12 và 14
Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quy phạm
pháp luật của Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa
phương có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp.
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét văn bản
quy phạm pháp luật quy định tại khoản 15 Điều 4 của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét văn bản
quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 Điều này trong các trường hợp sau đây:
a) Khi Thường trực Hội đồng nhân dân tự mình phát
hiện văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
b) Theo đề nghị của đại biểu Quốc hội;
c) Theo kiến nghị của Ban của Hội đồng nhân dân, đại
biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp;
d) Theo đề nghị của Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
3. Ngoài trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này,
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
theo đề nghị của Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa
phương.
4. Hồ sơ trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem
xét đề nghị, kiến nghị quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 và khoản 3 Điều
này được Ban của Hội đồng nhân dân thẩm tra theo quy định tại Điều
20 của Nghị quyết này.
5. Hồ sơ trình Thường trực Hội đồng nhân dân bao gồm:
a) Đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cấp mình;
b) Báo cáo giải trình của cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình;
c) Báo cáo thẩm tra của Ban của Hội đồng nhân dân đối
với đề nghị, kiến nghị quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 và khoản 3 Điều
này;
d) Dự thảo kết luận về xem xét văn bản quy phạm
pháp luật.
Cơ quan chủ trì thẩm tra hoặc cơ quan khác được Thường
trực Hội đồng nhân dân phân công có trách nhiệm xây dựng dự thảo kết luận.
6. Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét văn bản
quy phạm pháp luật quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này theo trình tự sau
đây:
a) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị,
kiến nghị trình bày;
b) Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân trình bày báo
cáo thẩm tra đối với đề nghị, kiến nghị quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 và
khoản 3 Điều này;
c) Thường trực Hội đồng nhân dân thảo luận;
d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến (nếu có);
đ) Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình về những vấn đề có liên quan;
e) Thường trực Hội đồng nhân dân kết luận về việc
xem xét văn bản quy phạm pháp luật.
7. Nội dung kết luận phải xác định văn bản quy phạm
pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp thì đề xuất,
kiến nghị xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 15 của Nghị quyết
này.
8. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến
nghị, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản phải xem xét,
thực hiện và thông báo đến Thường trực Hội đồng nhân dân. Quá thời hạn này mà
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản không thực hiện kiến
nghị hoặc thực hiện không đáp ứng yêu cầu thì Thường trực Hội đồng nhân dân có
quyền đề nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, bãi
bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp hoặc trình Hội
đồng nhân dân xem xét, quyết định theo quy định tại Điều 18 của
Nghị quyết này; kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét
trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
Điều 20. Trách nhiệm thẩm tra
đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cùng cấp
1. Ban của Hội đồng nhân dân có trách nhiệm chủ trì
hoặc phối hợp thẩm tra đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu
hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm
pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng
cấp theo phân công của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp.
2. Hồ sơ gửi Ban của Hội đồng nhân dân để thẩm tra
bao gồm:
a) Đề nghị, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp;
b) Văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
c) Tài liệu khác có liên quan (nếu có).
3. Ban của Hội đồng nhân dân thẩm tra đề nghị, kiến
nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp theo trình tự
sau đây:
a) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị,
kiến nghị trình bày;
b) Ban của Hội đồng nhân dân thảo luận;
c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến (nếu có);
d) Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền đã ban hành văn bản báo cáo, giải trình về vấn đề có liên quan;
đ) Chủ tọa kết luận về nội dung thảo luận tại phiên
họp.
4. Ban của Hội đồng nhân dân hoàn thiện báo cáo thẩm
tra trình Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét. Báo cáo thẩm
tra của Ban của Hội đồng nhân dân phải phản ánh ý kiến của các thành viên Ban của
Hội đồng nhân dân và ý kiến của cơ quan, đại biểu tham gia thẩm tra.
Mục 2. BAN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN GIÁM SÁT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 21. Phạm vi giám sát văn
bản quy phạm pháp luật của Ban của Hội đồng nhân dân
1. Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, giám
sát văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 11, 12 và
14 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm
pháp luật của Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa
phương.
Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã giám sát văn bản
quy phạm pháp luật quy định tại khoản 15 Điều 4 của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật.
2. Ban của Hội đồng nhân dân tổ chức giám sát các
văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 Điều này thuộc các trường hợp
sau đây:
a) Văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ
trách của Ban của Hội đồng nhân dân;
b) Văn bản quy phạm pháp luật được Thường trực Hội
đồng nhân dân giao thực hiện việc giám sát.
Điều 22. Ban của Hội đồng nhân
dân nghiên cứu, xem xét, đánh giá và xử lý việc chưa ban hành văn bản quy định
chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao
1. Ban của Hội đồng nhân dân có trách nhiệm nghiên
cứu, xem xét, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật theo các nội dung quy định tại
khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết này.
2. Trong quá trình nghiên cứu, xem xét, đánh giá
văn bản quy phạm pháp luật, trường hợp phát hiện đến thời điểm điều, khoản, điểm
và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có hiệu lực thi hành mà cơ quan
nhà nước, người có thẩm quyền chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì Trưởng
Ban của Hội đồng nhân dân chỉ đạo thực hiện các công việc sau đây:
a) Gửi văn bản đề nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền ban hành văn bản, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền được giao chủ trì
soạn thảo văn bản báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình về việc chưa ban hành
văn bản; đồng thời đôn đốc khẩn trương ban hành văn bản;
b) Khi xét thấy cần thiết, tổ chức làm việc với cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan; đề nghị báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình và đề xuất, kiến
nghị hướng giải quyết đối với các nội dung giao quy định mà chưa ban hành văn bản.
3. Trường hợp cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
được giao ban hành văn bản không thống nhất với đề xuất hướng giải quyết của
Ban của Hội đồng nhân dân thì Ban của Hội đồng nhân dân xem xét, kết luận, kiến
nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kịp thời ban hành văn bản; xem xét
trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
4. Kết quả giám sát phải được báo cáo Thường trực Hội
đồng nhân dân.
Hồ sơ báo cáo kết quả giám sát bao gồm: Báo cáo kết
quả nghiên cứu, đánh giá đối với nội dung giao quy định chi tiết điều, khoản,
điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà chưa ban hành văn bản và kết
luận, kiến nghị; văn bản ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan về nội dung
được giao mà chưa ban hành văn bản (nếu có).
5. Kết luận, kiến nghị giám sát được gửi đến cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực
hiện.
Điều 23. Ban của Hội đồng nhân
dân nghiên cứu, xem xét, đánh giá và xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên,
nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
1. Trong quá trình nghiên cứu, xem xét, đánh giá
văn bản quy phạm pháp luật, trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có
dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cùng cấp thì Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân chỉ đạo thực hiện một số công việc
sau đây:
a) Gửi văn bản đến cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền ban hành văn bản đề nghị báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình về nội
dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
b) Tổ chức làm việc với cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền ban hành văn bản, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để trao đổi,
cung cấp thông tin, giải trình, làm rõ các nhận định, đánh giá và đề xuất hướng
giải quyết đối với nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với
Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Trường hợp
cần thiết, gửi văn bản xin ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về
nội dung đánh giá và hướng giải quyết đối với nội dung của văn bản quy phạm
pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp.
Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân chỉ đạo xem xét,
đánh giá về các thông tin báo cáo, ý kiến giải trình và đề xuất hướng giải quyết
đối với nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
2. Trường hợp xác định văn bản quy phạm pháp luật
có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân
dân cùng cấp mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm
pháp luật không thống nhất với đề xuất hướng giải quyết của Ban của Hội đồng
nhân dân thì Ban của Hội đồng nhân dân tổ chức phiên họp để xem xét, quyết định
theo trình tự sau đây:
a) Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân trình bày báo
cáo về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
b) Người đứng đầu cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật báo cáo, giải trình về những vấn đề
có liên quan;
c) Ban của Hội đồng nhân dân thảo luận;
d) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên
họp phát biểu ý kiến (nếu có);
đ) Ban của Hội đồng nhân dân kết luận về việc xem
xét văn bản quy phạm pháp luật.
3. Nội dung kết luận phải xác định văn bản quy phạm
pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng
nhân dân cùng cấp; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp thì đề xuất,
kiến nghị xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 15 của Nghị quyết
này.
4. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến
nghị, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản phải xem xét,
thực hiện và thông báo đến Ban của Hội đồng nhân dân. Quá thời hạn này mà cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản không thực hiện kiến nghị
hoặc thực hiện không đáp ứng yêu cầu thì Ban của Hội đồng nhân dân có quyền sau
đây:
a) Kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật
trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
b) Kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét
trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
5. Kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật phải
được báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân. Hồ sơ báo cáo kết quả giám sát bao
gồm: Báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá đối với văn bản quy phạm pháp luật có
nội dung trái pháp luật và kết luận, kiến nghị; ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan về văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái pháp luật (nếu
có).
6. Kết luận, kiến nghị giám sát được gửi đến cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực
hiện.
Mục 3. ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN GIÁM SÁT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 24. Đại biểu Hội đồng
nhân dân nghiên cứu, xem xét, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật
1. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, đại biểu Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm về việc nghiên cứu, xem xét,
đánh giá văn bản quy phạm pháp luật theo các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết này.
2. Trong quá trình nghiên cứu, xem xét, đánh giá
văn bản quy phạm pháp luật, đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện các công việc
sau đây:
a) Gửi văn bản đến cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền ban hành văn bản đề nghị báo cáo, cung cấp thông tin, giải trình về việc
chưa ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác
được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của
cơ quan nhà nước cấp trên, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân cùng cấp;
b) Xem xét, đánh giá về các thông tin báo cáo, ý kiến
giải trình và đề xuất hướng giải quyết đối với nội dung chưa được ban hành văn
bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật,
nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
trên hoặc nội dung của văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân cùng cấp.
Điều 25. Đại biểu Hội đồng
nhân dân xử lý việc chưa ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm
và các nội dung khác được giao; xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu
trái pháp luật
1. Trường hợp xác định nội dung chưa được ban hành
văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao
trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên thì đại biểu Hội đồng nhân dân kiến nghị cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền kịp thời ban hành văn bản; xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm
và chịu trách nhiệm về kiến nghị của mình.
2. Trường hợp xác định văn bản quy phạm pháp luật
trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân cùng cấp thì đại
biểu Hội đồng nhân dân đề xuất, kiến nghị xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 15 của Nghị quyết này và chịu trách nhiệm về đề
xuất, kiến nghị của mình.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến
nghị, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản phải xem xét,
thực hiện và thông báo đến đại biểu Hội đồng nhân dân. Quá thời hạn này mà cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền không thực hiện kiến nghị hoặc thực hiện
không đáp ứng yêu cầu thì đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền sau đây:
a) Kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật
trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân cùng cấp;
b) Kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền
xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm.
Chương IV
BÁO CÁO KẾT QUẢ GIÁM SÁT
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Điều 26. Trách nhiệm báo cáo kết
quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội,
đại biểu Quốc hội, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Trách nhiệm báo cáo định kỳ được thực hiện như
sau:
a) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội báo cáo Ủy
ban Thường vụ Quốc hội định kỳ hằng năm và theo quý; Ủy ban Thường vụ Quốc hội
báo cáo Quốc hội kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật của năm trước vào
kỳ họp giữa năm của năm sau.
Ban của Hội đồng nhân dân báo cáo Thường trực Hội đồng
nhân dân định kỳ hằng năm và theo quý; Thường trực Hội đồng nhân dân báo cáo Hội
đồng nhân dân kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật của năm trước vào kỳ
họp thường lệ đầu tiên của năm sau;
b) Đại biểu Quốc hội báo cáo Đoàn đại biểu Quốc hội;
đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân khi báo cáo kết
quả thực hiện chương trình giám sát hằng năm của mình.
2. Ngoài việc báo cáo định kỳ theo quy định tại khoản
1 Điều này, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ban của Hội đồng nhân dân có
trách nhiệm báo cáo theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền hoặc khi phát
hiện cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
chưa ban hành văn bản được giao quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội
dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước
cấp trên hoặc văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật.
Điều 27. Chế độ báo cáo định kỳ
kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc
hội, Ban của Hội đồng nhân dân
1. Chế độ báo cáo theo quý được thực hiện như sau:
Hằng quý, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội,
Ban của Hội đồng nhân dân báo cáo kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật
được ban hành trong quý.
Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội gửi báo cáo kết
quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật hằng quý đến Thường trực Ủy ban Dân nguyện
và Giám sát của Quốc hội chậm nhất là ngày 15 của tháng đầu tiên của quý tiếp
theo để tổng hợp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Ban của Hội đồng nhân dân gửi báo cáo kết quả giám
sát văn bản quy phạm pháp luật hằng quý đến Ban của Hội đồng nhân dân được Thường
trực Hội đồng nhân dân phân công chậm nhất là ngày 15 của tháng đầu tiên của
quý tiếp theo để tổng hợp, báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân.
Kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật trong
quý IV được tổng hợp chung trong báo cáo kết quả giám sát hằng năm.
2. Chế độ báo cáo hằng năm được thực hiện như sau:
Hằng năm, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội,
Ban của Hội đồng nhân dân báo cáo kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật
được ban hành từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/12.
Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội gửi báo cáo kết
quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật hàng năm đến Thường trực Ủy ban Dân
nguyện và Giám sát của Quốc hội chậm nhất là ngày 01 tháng 3 của năm tiếp theo,
trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết này,
để tổng hợp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem
xét và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp giữa năm.
Ban của Hội đồng nhân dân gửi báo cáo kết quả giám
sát văn bản quy phạm pháp luật hằng năm đến Ban của Hội đồng nhân dân được Thường
trực Hội đồng nhân dân phân công chậm nhất là ngày 01 tháng 3 của năm tiếp theo
để tổng hợp, báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân. Thường trực Hội đồng nhân
dân xem xét và báo cáo Hội đồng nhân dân tại kỳ họp thường lệ đầu tiên của năm.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 28. Hiệu lực thi hành
1. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 3 năm 2026.
2. Nghị quyết số 560/NQ-UBTVQH15
ngày 22 tháng 7 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn việc tổ chức
thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành.
Điều 29. Tổ chức thi hành
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Văn
phòng Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân,
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng
nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thi hành Nghị
quyết này.
2. Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chủ
trì, phối hợp với Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Thường trực Hội đồng
nhân dân các tỉnh, thành phố xây dựng, ban hành các mẫu văn bản phục vụ hoạt động
giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
3. Đối với báo cáo kết quả giám sát văn bản quy phạm
pháp luật năm 2025 thì Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội gửi báo cáo đến
Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chậm nhất là ngày 20
tháng 3 năm 2026.
Nghị quyết này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Phiên họp thứ 52 thông qua ngày 24
tháng 12 năm 2025.
|
|
TM. ỦY BAN THƯỜNG
VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH
Trần Thanh Mẫn
|