|
ỦY BAN THƯỜNG VỤ
QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Nghị quyết số:
116/2025/UBTVQH15
|
Hà Nội, ngày 24
tháng 12 năm 2025
|
NGHỊ QUYẾT
QUY
ĐỊNH VỀ VIỆC TIẾP CÔNG DÂN, TIẾP NHẬN, PHÂN LOẠI, XỬ LÝ ĐƠN VÀ GIÁM SÁT CỦA QUỐC
HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ,
PHẢN ÁNH CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức
Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Hoạt động
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tiếp
công dân số 42/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
136/2025/QH15;
Căn cứ Luật Khiếu
nại số 02/2011/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 42/2013/QH13, Luật số 81/2025/QH15, Luật số 84/2025/QH15 và Luật số 136/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tố cáo
số 25/2018/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14, Luật số 81/2025/QH15, Luật số 84/2025/QH15 và Luật số 136/2025/QH15;
QUYẾT NGHỊ:
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị quyết này quy định về trình tự, thủ tục, trách
nhiệm của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong việc tiếp công dân, tiếp nhận,
phân loại, xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân; chế độ thông tin, báo cáo và điều kiện
bảo đảm.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc
tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác có liên quan.
Chương II
TIẾP CÔNG DÂN VÀ TRÁCH
NHIỆM TỔ CHỨC TIẾP CÔNG DÂN CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI, ĐOÀN ĐẠI
BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN
Mục 1. TIẾP CÔNG DÂN VÀ TRÁCH
NHIỆM TỔ CHỨC TIẾP CÔNG DÂN CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI, ĐOÀN ĐẠI
BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Điều 3. Nơi tiếp công dân của Hội
đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội
1. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tiếp công
dân tại các nơi tiếp công dân sau đây:
a) Trụ sở tiếp công dân ở trung ương;
b) Địa điểm tiếp công dân của Quốc hội do Ủy ban
Thường vụ Quốc hội bố trí hoặc địa điểm khác do Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc
hội lựa chọn khi cần thiết.
Việc lựa chọn địa điểm tiếp công dân phải bảo đảm
thuận lợi cho việc tiếp công dân, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường
của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội.
2. Đại biểu Quốc hội thực hiện việc tiếp công dân tại
các nơi tiếp công dân sau đây:
a) Trụ sở tiếp công dân của tỉnh, thành phố nơi đại
biểu Quốc hội ứng cử;
b) Địa điểm khác do Đoàn đại biểu Quốc hội bố trí.
Trường hợp đại biểu Quốc hội chuyển sinh hoạt đến
Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố khác thì thực hiện việc tiếp công dân ở
nơi chuyển đến;
c) Trường hợp cần thiết, đại biểu Quốc hội có thể
tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương hoặc địa điểm tiếp công dân
của Quốc hội.
3. Trường hợp cần thiết, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội, đại biểu Quốc hội có thể thực hiện việc tiếp công dân trực tuyến.
Việc tiếp công dân trực tuyến được thực hiện theo
quy định của Chính phủ.
Điều 4. Việc tiếp công dân của
Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội
1. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách
nhiệm tiếp công dân về các vấn đề thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách.
2. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội cử đại diện
để tiếp công dân trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Theo đề nghị của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát
khi xét thấy cần thiết;
c) Theo đề nghị của công dân; trường hợp bất khả
kháng hoặc có lý do chính đáng thì phối hợp với Thường trực Ủy ban Dân nguyện
và Giám sát cử người nhận đơn hoặc hẹn tiếp công dân vào thời gian thích hợp.
3. Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban
của Quốc hội có trách nhiệm thông báo dự kiến lịch tiếp công dân theo quy định tại
điểm a và điểm c khoản 2 Điều này cho công dân đã đề nghị được tiếp biết, đồng
thời thông báo đến Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát để phối hợp, bố
trí nơi tiếp công dân và các điều kiện bảo đảm để tiếp công dân.
Trường hợp không thể tổ chức tiếp công dân theo lịch
đã thông báo, Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có
trách nhiệm dự kiến thời gian thay đổi cụ thể, thông báo đến cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày có lịch đã thông
báo, đồng thời thông báo đến Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát để phối
hợp.
4. Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát có
trách nhiệm phối hợp với Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của
Quốc hội dự kiến lịch tiếp công dân theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này
và thông báo đến công dân đã đề nghị được tiếp biết; bố trí nơi tiếp công dân
và các điều kiện bảo đảm để tiếp công dân.
Trường hợp không thể tổ chức tiếp công dân theo lịch
đã thông báo, Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có
trách nhiệm dự kiến thời gian thay đổi cụ thể, thông báo đến Thường trực Ủy ban
Dân nguyện và Giám sát để thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày có lịch đã thông báo.
5. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phối hợp với
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tiếp công dân; đề nghị cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, cử đại diện tham gia tiếp
công dân.
Điều 5. Việc tiếp công dân của
đại biểu Quốc hội
1. Đại biểu Quốc hội tiếp công dân trong các trường
hợp sau đây:
a) Tiếp công dân định kỳ theo sự phân công của Trưởng
Đoàn đại biểu Quốc hội;
b) Khi đại biểu Quốc hội xét thấy cần thiết;
c) Theo đề nghị của công dân; trường hợp bất khả
kháng hoặc có lý do chính đáng thì báo cáo với Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội hoặc
thông báo đến Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát cử người nhận đơn hoặc
hẹn tiếp công dân vào thời gian thích hợp.
2. Lịch tiếp công dân của đại biểu Quốc hội theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được thông báo đến đại biểu Quốc hội chậm
nhất là 10 ngày trước ngày có lịch tiếp.
Trường hợp tiếp công dân theo quy định tại điểm b
khoản 1 Điều này tại địa phương thì đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo với
Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội; tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương, địa điểm
tiếp công dân của Quốc hội thì thông báo đến Thường trực Ủy ban Dân nguyện và
Giám sát để tổ chức việc tiếp công dân.
Trường hợp tiếp công dân theo quy định tại điểm c
khoản 1 Điều này thì đại biểu Quốc hội có trách nhiệm sắp xếp thời gian, báo
cáo với Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội trong trường hợp tiếp công dân ở địa
phương hoặc đề nghị Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát trong trường hợp
tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương, địa điểm tiếp công dân của
Quốc hội để tổ chức việc tiếp công dân.
3. Trường hợp không thể tiếp công dân theo lịch đã
thông báo, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm dự kiến thời gian thay đổi cụ thể,
báo cáo với Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội hoặc thông báo đến Thường trực Ủy ban
Dân nguyện và Giám sát chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày có lịch đã
thông báo để thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
4. Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm về việc thực
hiện hoạt động tiếp công dân của mình.
Điều 6. Trách nhiệm của Thường
trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát trong việc tiếp công dân và tổ chức việc tiếp
công dân
1. Giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo, điều
hòa, phối hợp công tác tiếp công dân của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội;
giữ mối quan hệ phối hợp với Chính phủ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan về việc thực hiện tiếp công dân của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội.
2. Đại diện cho Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội
thực hiện tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương và địa
điểm tiếp công dân của Quốc hội.
Phối hợp với Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường
trực Ủy ban của Quốc hội tổ chức tiếp công dân trong các trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 4 của Nghị quyết này. Khi công dân đề nghị được
gặp trực tiếp đại diện Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thì Thường trực Ủy
ban Dân nguyện và Giám sát có trách nhiệm chuyển đề nghị của công dân đến Hội đồng
Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo lĩnh vực phụ trách. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban
của Quốc hội có trách nhiệm xem xét đề nghị đó để trả lời công dân.
3. Tổ chức việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội
khi có đề nghị.
4. Xây dựng kế hoạch, chủ trì, phối hợp với các cơ
quan có liên quan tổ chức việc tiếp công dân của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong thời gian diễn ra kỳ họp Quốc hội.
Khi cần thiết và được sự đồng ý của Chủ tịch Quốc hội,
Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát mời đại diện Hội đồng Dân tộc, Ủy ban
của Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội tiếp công dân.
5. Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan bảo đảm điều kiện để Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc
hội tiếp công dân.
6. Phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát,
đôn đốc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, có dấu hiệu phức tạp
về an ninh trật tự, an toàn xã hội.
7. Yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có liên
quan cử người có trách nhiệm tham gia tiếp công dân.
8. Ban hành nội quy tiếp công dân tại địa điểm tiếp
công dân của Quốc hội.
Điều 7. Trách nhiệm của Đoàn đại
biểu Quốc hội trong tổ chức việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội trong Đoàn
1. Sắp xếp lịch tiếp công dân của đại biểu Quốc hội
trong Đoàn tại địa phương; niêm yết lịch tiếp công dân tại địa điểm tiếp công
dân, công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, thông báo đến
đại biểu Quốc hội và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
2. Bố trí nơi tiếp công dân để đại biểu Quốc hội
trong Đoàn thực hiện việc tiếp công dân.
3. Cử đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia tiếp
công dân trong thời gian diễn ra kỳ họp Quốc hội theo quy định tại khoản 4 Điều 6 của Nghị quyết này.
4. Cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia tiếp
công dân theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
5. Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan ở trung ương và địa phương bảo đảm các điều kiện để đại biểu Quốc hội tiếp
công dân.
6. Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
cung cấp thông tin, tài liệu, cử đại diện tham gia tiếp công dân cùng đại biểu
Quốc hội.
Mục 2. TIẾP CÔNG DÂN VÀ TRÁCH
NHIỆM TỔ CHỨC TIẾP CÔNG DÂN CỦA THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN
Điều 8. Nơi tiếp công dân của
Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tiếp công
dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã tiếp
công dân tại địa điểm tiếp công dân cấp xã.
2. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc
tiếp công dân tại các nơi tiếp công dân sau đây:
a) Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh;
b) Nơi tiếp công dân ở địa phương mà đại biểu ứng cử
theo sự bố trí của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chuyển
sinh hoạt đến địa phương khác trong cùng đơn vị hành chính cấp tỉnh thì thực hiện
việc tiếp công dân ở nơi chuyển đến.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện việc
tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân cấp xã.
4. Trường hợp cần thiết, Thường trực Hội đồng nhân
dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có thể thực hiện việc tiếp công dân trực tuyến.
Việc tiếp công dân trực tuyến được thực hiện theo
quy định của Chính phủ.
Điều 9. Việc tiếp công dân của
Thường trực Hội đồng nhân dân
1. Thường trực Hội đồng nhân dân cử đại diện tiếp
công dân trong các trường hợp sau đây:
a) Tiếp công dân định kỳ;
b) Khi Thường trực Hội đồng nhân dân xét thấy cần
thiết;
c) Theo đề nghị của công dân; trường hợp bất khả
kháng hoặc có lý do chính đáng thì cử người nhận đơn hoặc hẹn tiếp công dân vào
thời gian thích hợp.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm xây
dựng lịch tiếp công dân của mình, bố trí nơi tiếp công dân; niêm yết công khai
lịch tiếp công dân tại Trụ sở Hội đồng nhân dân và nơi tiếp công dân; thông báo
công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và thông báo đến
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; trường hợp tiếp công dân theo quy định
tại điểm c khoản 1 Điều này thì thông báo đến công dân đã đề nghị được tiếp biết.
3. Trường hợp không thể tổ chức tiếp công dân theo
lịch đã thông báo, Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm dự kiến thời
gian thay đổi cụ thể, thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chậm
nhất là 05 ngày làm việc trước ngày có lịch đã thông báo.
4. Thường trực Hội đồng nhân dân phối hợp với cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tiếp công dân; đề nghị cơ quan,
tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, cử đại diện tham gia tiếp công
dân.
Điều 10. Việc tiếp công dân của
đại biểu Hội đồng nhân dân
1. Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân trong
các trường hợp sau đây:
a) Tiếp công dân định kỳ theo sự phân công của Thường
trực Hội đồng nhân dân;
b) Khi đại biểu Hội đồng nhân dân xét thấy cần thiết;
c) Theo đề nghị của công dân; trường hợp bất khả
kháng hoặc có lý do chính đáng thì báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cử người
nhận đơn hoặc hẹn tiếp công dân vào thời gian thích hợp.
2. Lịch tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân
dân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được thông báo đến đại biểu Hội đồng
nhân dân chậm nhất là 10 ngày trước ngày có lịch tiếp.
Trường hợp tiếp công dân theo quy định tại điểm b
khoản 1 Điều này thì đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm thông báo đến
Thường trực Hội đồng nhân dân để tổ chức việc tiếp công dân.
Trường hợp tiếp công dân theo quy định tại điểm c
khoản 1 Điều này thì đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm sắp xếp thời
gian, thông báo đến Thường trực Hội đồng nhân dân để tổ chức việc tiếp công
dân.
3. Trường hợp không thể tiếp công dân theo lịch đã
thông báo, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm dự kiến thời gian thay đổi
cụ thể, báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân chậm nhất là 05 ngày làm việc trước
ngày có lịch đã thông báo để thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan.
4. Đại biểu Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm về
việc thực hiện hoạt động tiếp công dân của mình.
Điều 11. Trách nhiệm của Thường
trực Hội đồng nhân dân trong tổ chức việc tiếp công dân của đại biểu Hội đồng
nhân dân
1. Sắp xếp lịch tiếp công dân của đại biểu Hội đồng
nhân dân cùng cấp; niêm yết lịch tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân, công
bố trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương, thông báo đến đại biểu
Hội đồng nhân dân và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
2. Bố trí nơi tiếp công dân để đại biểu Hội đồng
nhân dân thực hiện việc tiếp công dân.
3. Cử đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia tiếp công
dân theo đề nghị của Đoàn đại biểu Quốc hội.
4. Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan ở địa phương bảo đảm các điều kiện để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công
dân.
5. Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
cung cấp thông tin, tài liệu, cử đại diện tham gia tiếp công dân cùng đại biểu
Hội đồng nhân dân.
Chương III
ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI,
HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI, ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI,
THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, BAN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN TIẾP NHẬN, PHÂN LOẠI, XỬ LÝ ĐƠN
Mục 1. TIẾP NHẬN, PHÂN LOẠI
ĐƠN
Điều 12. Nguồn tiếp nhận đơn
Đơn được tiếp nhận qua các nguồn sau đây:
1. Dịch vụ bưu chính;
2. Hoạt động tiếp công dân của Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội
đồng nhân dân;
3. Hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội,
đại biểu Hội đồng nhân dân;
4. Do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển
đến;
5. Nguồn khác theo quy định của pháp luật.
Điều 13. Phân loại đơn
Việc phân loại đơn căn cứ vào nội dung trình bày
trong đơn, đơn đủ điều kiện xử lý, đơn không đủ điều kiện xử lý, trách nhiệm xử
lý, thẩm quyền giám sát, cụ thể như sau:
1. Căn cứ vào nội dung trình bày trong đơn, bao gồm:
a) Đơn khiếu nại;
b) Đơn tố cáo;
c) Đơn kiến nghị, phản ánh;
d) Đơn có nhiều nội dung khác nhau;
2. Đơn đủ điều kiện xử lý là đơn dùng chữ viết là
tiếng Việt, trường hợp đơn không dùng chữ viết là tiếng Việt thì phải kèm bản dịch
bằng tiếng Việt; đơn được ghi rõ ngày, tháng, năm viết đơn; họ tên, số căn cước
hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu, địa
chỉ của người viết đơn; có chữ ký hoặc điểm chỉ của người viết đơn; đối với đơn
khiếu nại, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức thì phải ghi rõ tên, địa chỉ
của cơ quan, tổ chức và có chữ ký của người đại diện theo pháp luật. Đồng thời,
đơn còn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đơn khiếu nại ghi rõ tên, địa chỉ của người bị
khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu có liên quan đến nội dung khiếu
nại và yêu cầu của người khiếu nại;
b) Đơn tố cáo ghi rõ tên, địa chỉ của người bị tố
cáo; hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo; cách thức liên hệ với người tố cáo và
thông tin khác có liên quan.
Trường hợp đơn không rõ họ tên, địa chỉ của người
viết đơn hoặc sử dụng họ tên của người khác để tố cáo nhưng có nội dung tố cáo
về hành vi vi phạm pháp luật và nêu rõ người có hành vi vi phạm pháp luật, có
tài liệu, chứng cứ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và có cơ sở để thẩm tra,
xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 25 của Luật Tố cáo
thì cũng được coi là đủ điều kiện xử lý;
c) Đơn kiến nghị, phản ánh ghi rõ nội dung kiến nghị,
phản ánh;
3. Đơn không đủ điều kiện xử lý bao gồm:
a) Đơn không đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2
Điều này;
b) Đơn được gửi cho nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong đó có cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giải quyết;
c) Đơn có nội dung chống đối đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn
giáo; có lời lẽ thô tục, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, uy tín của cơ quan, tổ chức,
cá nhân;
d) Đơn rách nát, chữ viết bị tẩy xóa, không rõ,
không đọc được;
4. Phân loại đơn theo trách nhiệm xử lý, thẩm quyền
giám sát của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc,
Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường
trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Điều 14. Trách nhiệm tiếp nhận,
phân loại đơn
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm
tiếp nhận, phân loại đơn của cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến từ các nguồn quy
định tại Điều 12 của Nghị quyết này.
2. Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát có
trách nhiệm giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức tiếp nhận, phân loại đơn gửi
đến Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm giúp Hội
đồng nhân dân tổ chức tiếp nhận, phân loại đơn gửi đến Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Mục 2. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI,
THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, THƯỜNG TRỰC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI, ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC
HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH
Điều 15. Ủy ban Thường vụ Quốc
hội xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xử lý
đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đơn có nội dung liên quan đến lĩnh vực
phụ trách của nhiều cơ quan của Quốc hội.
2. Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát giúp Ủy
ban Thường vụ Quốc hội xử lý đơn quy định tại khoản 1 Điều này và đơn do Chủ tịch
Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội chuyển đến.
Khi cần thiết, Thường trực Ủy ban Dân nguyện và
Giám sát chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét, giải
quyết theo quy định của pháp luật và thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi
đơn biết. Trường hợp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết ở địa phương thì thông báo đến Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh ở địa phương đó để phối hợp theo dõi, đôn đốc và giám sát việc
giải quyết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan,
tổ chức, cá nhân đến Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo; đối với kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức,
cá nhân thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thông báo việc giải
quyết đến Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày có kết quả giải quyết để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Trên cơ sở kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể xem xét, quyết định việc
giám sát theo quy định tại Điều 24 của Nghị quyết này.
Điều 16. Thường trực Hội đồng
Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh
1. Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban
của Quốc hội có trách nhiệm xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các trường hợp sau đây:
a) Đơn của cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến thuộc
lĩnh vực phụ trách của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội;
b) Đơn do Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội
yêu cầu xử lý;
c) Đơn do Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy
ban của Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc
hội, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội đề nghị xử lý.
2. Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban
của Quốc hội tổ chức nghiên cứu, xử lý đơn; khi cần thiết, chuyển đến cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét, giải quyết và thông báo đến cơ quan,
tổ chức, cá nhân gửi đơn biết. Trường hợp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết ở địa phương thì thông báo đến Đoàn đại biểu Quốc hội,
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở địa phương đó để phối hợp theo dõi,
đôn đốc và giám sát việc giải quyết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan,
tổ chức, cá nhân đến Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc
hội theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; đối với kiến nghị, phản
ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
phải thông báo việc giải quyết đến Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy
ban của Quốc hội trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả giải quyết.
3. Trên cơ sở kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có thể xem xét,
quyết định việc giám sát theo quy định tại Điều 25 của Nghị quyết
này.
4. Trường hợp đơn không thuộc trách nhiệm xử lý thì
Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội chuyển đến Thường
trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban khác của Quốc hội để xử lý theo thẩm
quyền khi cần thiết.
Trường hợp đơn có nội dung liên quan đến lĩnh vực
phụ trách của nhiều cơ quan của Quốc hội thì chuyển đến Ủy ban Dân nguyện và
Giám sát để xử lý theo thẩm quyền.
5. Thực hiện việc lưu đơn theo quy định tại Điều 19 của Nghị quyết này.
Điều 17. Đoàn đại biểu Quốc hội
xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm xử lý đơn
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các
trường hợp sau đây:
a) Đơn của cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến Đoàn đại
biểu Quốc hội;
b) Đơn mà đại biểu Quốc hội trong Đoàn nhận được
qua hoạt động tiếp công dân, tiếp xúc cử tri ở địa phương đề nghị xử lý;
2. Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức nghiên cứu, xử lý
đơn; khi cần thiết, chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem
xét giải quyết và thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn biết. Trường
hợp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết ở trung ương
thì thông báo đến Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo lĩnh vực phụ trách
để phối hợp theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết. Trường hợp chuyển đến
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết ở địa phương mình thì đồng
thời thông báo đến Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để phối hợp theo dõi,
đôn đốc và giám sát việc giải quyết. Trường hợp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền giải quyết ở địa phương khác thì đồng thời thông báo đến
Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở địa phương đó
để phối hợp theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan,
tổ chức, cá nhân đến Đoàn đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật về khiếu
nại, tố cáo; đối với kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thông báo việc giải quyết đến Đoàn đại
biểu Quốc hội trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả giải quyết.
3. Trên cơ sở kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền, Đoàn đại biểu Quốc hội có thể xem xét, quyết định như
sau:
a) Thực hiện việc giám sát đối với các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh ở
địa phương theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết này;
b) Kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng
Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo lĩnh vực phụ trách tổ chức giám sát trong trường
hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở trung ương không giải quyết,
không trả lời hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội không đồng ý với kết quả giải quyết,
trả lời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền ở trung ương;
c) Kiến nghị Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh ở địa phương khác tổ chức giám sát trong trường hợp cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương đó không giải quyết, không trả
lời hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội không đồng ý với kết quả giải quyết, trả lời
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền ở địa phương đó.
4. Thực hiện việc lưu đơn theo quy định tại Điều 19 của Nghị quyết này.
Điều 18. Đại biểu Quốc hội xử
lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm xử lý đơn khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh gửi đến đại biểu Quốc hội, trừ trường hợp quy
định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 16 và điểm b khoản 1 Điều
17 của Nghị quyết này.
2. Đại biểu Quốc hội nghiên cứu, xử lý đơn; khi cần
thiết, chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và thông
báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn biết, đồng thời thông báo đến Đoàn đại
biểu Quốc hội mà mình là thành viên để phối hợp theo dõi, đôn đốc và giám sát
việc giải quyết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan,
tổ chức, cá nhân đến đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật về khiếu nại,
tố cáo; đối với kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thông báo việc giải quyết đến đại biểu Quốc
hội trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả giải quyết.
3. Trên cơ sở kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền, đại biểu Quốc hội có thể xem xét, quyết định việc giám
sát theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết này.
4. Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm về thực hiện
việc xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh gửi đến mình.
Điều 19. Việc lưu đơn
1. Việc lưu đơn được thực hiện trong các trường hợp
sau đây:
a) Đơn không đủ điều kiện xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 13 của Nghị quyết này;
b) Đơn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem
xét, giải quyết, trả lời mà không có căn cứ để xem xét lại việc giải quyết, trả
lời;
c) Đơn đã được nghiên cứu, xử lý và chuyển đến cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết và đang trong quá trình theo
dõi, đôn đốc việc giải quyết;
d) Đơn tố cáo xuất phát từ việc khiếu nại, kiến nghị,
phản ánh đã được giải quyết theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định
của pháp luật nhưng người khiếu nại, kiến nghị, phản ánh không đồng ý, chuyển
sang tố cáo nhưng không cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ chứng minh
cho nội dung tố cáo;
đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Thời hạn lưu đơn quy định tại khoản 1 Điều này là
01 năm. Việc tiêu hủy đơn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn nhiều
lần thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này, khi
xét thấy cần thiết thì Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc
hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân,
Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân hướng dẫn, trả lời cơ
quan, tổ chức, cá nhân đã gửi đơn biết.
Mục 3. THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN, BAN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH
Điều 20. Thường trực Hội đồng
nhân dân xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm xử
lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong các trường hợp sau đây:
a) Đơn do cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương gửi
đến Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân; đơn do cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác chuyển đến Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương;
b) Đơn do Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch
Hội đồng nhân dân đề nghị xử lý;
c) Đơn mà đại biểu Hội đồng nhân dân nhận được qua
hoạt động tiếp công dân, tiếp xúc cử tri đề nghị xử lý;
d) Đơn có nội dung liên quan đến lĩnh vực phụ trách
của nhiều Ban của Hội đồng nhân dân.
2. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
này, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xử lý đơn của cơ
quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân ở trung ương do Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp và Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã chuyển đến Thường
trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
3. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổ chức
nghiên cứu, xử lý đơn hoặc giao cho Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp xử lý;
khi cần thiết, chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét,
giải quyết và thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn biết. Trường hợp
chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết ở trung ương thì
thông báo đến Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo lĩnh vực phụ trách để
phối hợp theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết. Trường hợp chuyển đến
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết ở cấp xã thì thông báo đến
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã để phối hợp theo dõi, đôn đốc và giám sát
việc giải quyết.
4. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã tổ chức
nghiên cứu, xử lý đơn hoặc giao cho Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp xử lý;
khi cần thiết, chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để xem xét,
giải quyết và thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn biết, trừ trường
hợp đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của
cơ quan có thẩm quyền ở trung ương. Trường hợp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền giải quyết ở cấp tỉnh thì thông báo đến Thường trực Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh để theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết.
Đối với đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan có thẩm quyền ở trung ương thì chuyển đến
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan,
tổ chức, cá nhân đến Thường trực Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật
về khiếu nại, tố cáo; đối với kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân
thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thông báo việc giải quyết đến
Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả giải
quyết.
6. Trên cơ sở kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền, Thường trực Hội đồng nhân dân có thể xem xét, quyết định
như sau:
a) Thực hiện việc giám sát đối với các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh ở
địa phương theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết này;
b) Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh kiến nghị
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo lĩnh vực
phụ trách tổ chức giám sát trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền ở trung ương không giải quyết, không trả lời hoặc Thường trực Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh không đồng ý với kết quả giải quyết, trả lời khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở trung
ương;
c) Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã kiến nghị
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổ chức giám sát trong trường hợp cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở cấp tỉnh không giải quyết, không trả lời
hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã không đồng ý với kết quả giải quyết,
trả lời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền ở cấp tỉnh.
7. Thực hiện việc lưu đơn theo quy định tại Điều 19 của Nghị quyết này.
Điều 21. Ban của Hội đồng nhân
dân xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Ban của Hội đồng nhân dân có trách nhiệm xử lý
đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
các trường hợp sau đây:
a) Đơn của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương gửi
đến thuộc lĩnh vực phụ trách của Ban của Hội đồng nhân dân; đơn của cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở
địa phương thuộc lĩnh vực Ban của Hội đồng nhân dân phụ trách;
b) Đơn do Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch
Hội đồng nhân dân, Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp đề
nghị xử lý.
2. Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổ chức
nghiên cứu, xử lý đơn; khi cần thiết, chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền giải quyết và thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn biết,
trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp chuyển đến cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết ở cấp xã thì đồng thời gửi đến Thường trực
Hội đồng nhân dân cấp xã để phối hợp theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải
quyết.
3. Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã tổ chức nghiên
cứu, xử lý đơn; khi cần thiết, chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết và thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn biết, trừ trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền giải quyết ở cấp tỉnh thì thông báo đến Thường trực Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh để theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết.
4. Đối với đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan có thẩm quyền ở trung ương thì Ban
của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã chuyển đến Thường
trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để xem xét, xử lý.
5. Trường hợp đơn không thuộc trách nhiệm xử lý thì
chuyển đến Ban khác của Hội đồng nhân dân cùng cấp để xử lý theo thẩm quyền.
Trường hợp đơn có nội dung liên quan đến lĩnh vực phụ trách của nhiều Ban của Hội
đồng nhân dân thì chuyển đến Thường trực Hội đồng nhân dân để xử lý theo thẩm
quyền.
6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan,
tổ chức, cá nhân đến Ban của Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo; đối với kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân
thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thông báo việc giải quyết đến
Ban của Hội đồng nhân dân trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả giải quyết.
7. Trên cơ sở kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền, Ban của Hội đồng nhân dân có thể xem xét, quyết định như
sau:
a) Thực hiện việc giám sát đối với các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh ở
địa phương theo quy định tại Điều 30 của Nghị quyết này;
b) Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã kiến nghị Thường
trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổ chức giám sát trong trường hợp cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền ở cấp tỉnh không giải quyết, không trả lời hoặc Ban
của Hội đồng nhân dân cấp xã không đồng ý với kết quả giải quyết, trả lời khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở
cấp tỉnh.
8. Thực hiện việc lưu đơn theo quy định tại Điều 19 của Nghị quyết này.
Điều 22. Đại biểu Hội đồng nhân
dân xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm xử lý
đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa
phương và đơn của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thuộc thẩm quyền giải quyết của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở địa phương gửi đến đại biểu Hội đồng
nhân dân, trừ trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều
20 và điểm b khoản 1 Điều 21 của Nghị quyết này.
2. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nghiên cứu,
xử lý đơn; khi cần thiết, chuyển đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết và thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn biết, trừ trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền giải quyết ở cấp xã thì thông báo đến Thường trực Hội đồng
nhân dân cấp xã để phối hợp theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nghiên cứu, xử
lý đơn; khi cần thiết, chuyển đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết và thông báo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đơn biết, trừ trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều này. Trường hợp chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền giải quyết ở cấp tỉnh thì thông báo đến Thường trực Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh để theo dõi, đôn đốc và giám sát việc giải quyết.
4. Đối với đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan có thẩm quyền ở trung ương thì đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chuyển đến
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để xem xét, xử lý.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan,
tổ chức, cá nhân đến đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật về
khiếu nại, tố cáo; đối với kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân
thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thông báo việc giải quyết đến
đại biểu Hội đồng nhân dân trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả giải quyết.
6. Trên cơ sở kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền, đại biểu Hội đồng nhân dân có thể xem xét, quyết định
như sau:
a) Thực hiện việc giám sát đối với các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh ở
địa phương theo quy định tại Điều 31 của Nghị quyết này;
b) Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã kiến nghị Thường
trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổ chức giám sát trong trường hợp cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền ở cấp tỉnh không giải quyết, không trả lời hoặc đại
biểu Hội đồng nhân dân cấp xã không đồng ý với kết quả giải quyết, trả lời khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở
cấp tỉnh.
7. Đại biểu Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm về thực
hiện việc xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh gửi đến mình.
Chương IV
QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN GIÁM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CƠ
QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
Mục 1. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI,
HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI, ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
GIÁM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CƠ QUAN, TỔ
CHỨC, CÁ NHÂN
Điều 23. Đối tượng giám sát của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu
Quốc hội, đại biểu Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền giám sát quy định tại Điều 16 và Điều 19 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội
đồng nhân dân.
2. Đoàn đại biểu Quốc hội giám sát hoạt động của Ủy
ban nhân dân, cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác và đơn vị sự nghiệp
công lập thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ
quan thi hành án dân sự, tổ chức khác thuộc cơ quan trung ương được tổ chức
theo ngành dọc ở địa phương và cơ quan khác của Nhà nước ở địa phương trong việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
3. Đại biểu Quốc hội giám sát việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền
giám sát quy định tại Điều 25 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc
hội và Hội đồng nhân dân.
Điều 24. Ủy ban Thường vụ Quốc
hội giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ
quan, tổ chức, cá nhân
1. Sau khi chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, Thường trực Ủy
ban Dân nguyện và Giám sát có trách nhiệm giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo
dõi, đôn đốc việc giải quyết.
2. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
không giải quyết, không trả lời hoặc trường hợp không đồng ý với kết quả giải
quyết, trả lời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì Ủy ban Thường vụ Quốc
hội có quyền:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem
xét, giải quyết và báo cáo kết quả giải quyết đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
b) Trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu; yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu; xem xét, xác minh về những
vấn đề mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội quan tâm;
c) Trường hợp cần thiết, tổ chức Đoàn giám sát hoặc
giao Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội giám sát việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
3. Trên cơ sở xem xét kết quả giám sát, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều 18 của Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
4. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện thẩm quyền của chủ thể giám sát
quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc
hội và Hội đồng nhân dân.
Điều 25. Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân
1. Sau khi chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, Thường trực Hội
đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc
việc giải quyết.
2. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
không giải quyết, không trả lời hoặc trường hợp không đồng ý với kết quả giải
quyết, trả lời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội có quyền:
a) Kiến nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp
trên trực tiếp xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết đến Thường
trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội;
b) Trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu; yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu; xem xét, xác minh về những
vấn đề mà Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội quan
tâm;
c) Trường hợp cần thiết, tổ chức Đoàn giám sát để
tiến hành giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3. Trên cơ sở xem xét kết quả giám sát, Hội đồng
Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều
21 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
4. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân thì Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thực hiện thẩm quyền của chủ thể
giám sát quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát
của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
Điều 26. Đoàn đại biểu Quốc hội
giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ
chức, cá nhân
1. Sau khi chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, Đoàn đại biểu
Quốc hội có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.
2. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
không giải quyết, không trả lời hoặc trường hợp không đồng ý với kết quả giải
quyết, trả lời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì Đoàn đại biểu Quốc hội
có quyền:
a) Kiến nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp
trên trực tiếp xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết đến Đoàn đại
biểu Quốc hội;
b) Khi cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu; yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu; xem xét, xác minh về những vấn đề
mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm;
c) Trường hợp cần thiết, tổ chức Đoàn giám sát để
tiến hành giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3. Trên cơ sở xem xét kết quả giám sát, Đoàn đại biểu
Quốc hội thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều 24 của Luật Hoạt
động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
4. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân thì Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện thẩm quyền của chủ thể giám sát quy định
tại khoản 4 Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội
đồng nhân dân.
5. Trường hợp cần thiết, phối hợp với Thường trực Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương.
Điều 27. Đại biểu Quốc hội
giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ
chức, cá nhân
1. Sau khi chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, đại biểu Quốc
hội có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.
2. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
không giải quyết, không trả lời hoặc trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không đúng pháp luật thì đại biểu Quốc hội có
quyền:
a) Gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Quốc hội
yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết
và thông báo kết quả giải quyết đến đại biểu Quốc hội;
b) Trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình
bày và cung cấp thông tin, tài liệu; xem xét, xác minh về những vấn đề mà đại
biểu Quốc hội quan tâm.
3. Trên cơ sở xem xét kết quả giám sát, đại biểu Quốc
hội thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều 26 của Luật Hoạt động
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
4. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân thì đại biểu Quốc hội thực hiện thẩm quyền của chủ thể giám sát quy định tại
khoản 4 Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội
đồng nhân dân.
5. Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm về việc thực
hiện các hoạt động giám sát và nội dung yêu cầu, kiến nghị giám sát của mình.
Mục 2. THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN, BAN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN GIÁM SÁT VIỆC
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
Điều 28. Đối tượng giám sát của
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng
nhân dân
1. Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, cơ quan chuyên môn, tổ
chức hành chính khác và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Tòa án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự, tổ chức khác thuộc
cơ quan trung ương được tổ chức theo ngành dọc ở địa phương và cơ quan khác của
Nhà nước ở địa phương trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng
nhân dân cấp xã giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, cơ quan chuyên môn, tổ
chức hành chính khác và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã
và cơ quan khác của Nhà nước ở địa phương trong việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương.
Điều 29. Thường trực Hội đồng
nhân dân giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ
quan, tổ chức, cá nhân
1. Sau khi chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, Thường trực Hội
đồng nhân dân có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.
2. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
không giải quyết, không trả lời hoặc trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết,
trả lời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì Thường trực Hội đồng nhân
dân có quyền:
a) Kiến nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp
trên trực tiếp xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết đến Thường
trực Hội đồng nhân dân;
b) Khi cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu; yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu; xem xét, xác minh về những vấn đề
mà Thường trực Hội đồng nhân dân quan tâm;
c) Trường hợp cần thiết, tổ chức Đoàn giám sát hoặc
giao Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh.
3. Trên cơ sở xem xét kết quả giám sát, Thường trực
Hội đồng nhân dân thực hiện thẩm quyền giám sát quy định tại Điều
32 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
4. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân thì Thường trực Hội đồng nhân dân thực hiện thẩm quyền của chủ thể giám
sát quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát của
Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
5. Trường hợp cần thiết, phối hợp với Đoàn đại biểu
Quốc hội thực hiện giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ
chức, cá nhân ở địa phương.
Điều 30. Ban của Hội đồng nhân
dân giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ
quan, tổ chức, cá nhân
1. Sau khi chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, Ban của Hội đồng
nhân dân có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.
2. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
không giải quyết, không trả lời hoặc trường hợp không đồng ý với kết quả giải
quyết, trả lời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì Ban của Hội đồng nhân
dân có quyền:
a) Kiến nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp
trên trực tiếp xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết đến Ban của
Hội đồng nhân dân;
b) Khi cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu; yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh trình bày và cung cấp thông tin, tài liệu; xem xét, xác minh về những vấn đề
mà Ban của Hội đồng nhân dân quan tâm;
c) Trường hợp cần thiết, tổ chức Đoàn giám sát để
tiến hành giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3. Trên cơ sở xem xét kết quả giám sát, Ban của Hội
đồng nhân dân thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều 35 của Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
4. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân thì Ban của Hội đồng nhân dân thực hiện thẩm quyền của chủ thể giám sát
quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc
hội và Hội đồng nhân dân.
Điều 31. Đại biểu Hội đồng
nhân dân giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ
quan, tổ chức, cá nhân
1. Sau khi chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, đại biểu Hội đồng
nhân dân có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.
2. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
không giải quyết, không trả lời hoặc trường hợp xét thấy việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh không đúng pháp luật thì đại biểu Hội đồng
nhân dân có quyền:
a) Gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan
để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại; khi cần thiết, đại biểu Hội đồng nhân dân đề
nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết và
thông báo kết quả giải quyết đến đại biểu Hội đồng nhân dân;
b) Trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trình
bày và cung cấp thông tin, tài liệu; xem xét, xác minh về những vấn đề mà đại
biểu Hội đồng nhân dân quan tâm.
3. Trên cơ sở xem xét kết quả giám sát, đại biểu Hội
đồng nhân dân thực hiện thẩm quyền quy định tại Điều 38 của Luật
Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.
4. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân thì đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện thẩm quyền của chủ thể giám sát
quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc
hội và Hội đồng nhân dân.
5. Đại biểu Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm về
việc thực hiện các hoạt động giám sát và nội dung yêu cầu, kiến nghị giám sát của
mình.
Chương V
CHẾ ĐỘ THÔNG TIN, BÁO
CÁO VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM
Điều 32. Chế độ báo cáo về kết
quả tiếp công dân, xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân
1. Định kỳ hằng tháng, hằng năm hoặc đột xuất, Thường
trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả tiếp công dân, xử lý đơn và giám
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức,
cá nhân. Đại biểu Quốc hội báo cáo Đoàn đại biểu Quốc hội về kết quả tiếp công
dân, xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân để tổng hợp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Báo cáo được gửi đến Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát để tổng hợp, báo
cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Định kỳ hằng năm hoặc đột xuất, Thường trực Hội
đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về
kết quả tiếp công dân, xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Báo cáo của Ban của Hội đồng
nhân dân được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân để tổng hợp, báo cáo Hội đồng
nhân dân cùng cấp. Đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo Thường trực Hội đồng nhân
dân cùng cấp về kết quả tiếp công dân, xử lý đơn và giám sát việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân để tổng hợp,
báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Điều 33. Ứng dụng công nghệ và
chuyển đổi số trong hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và
giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ
chức, cá nhân
1. Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm chủ trì, phối
hợp với Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát, Thường trực Hội đồng Dân tộc,
Thường trực Ủy ban khác của Quốc hội xây dựng và bảo đảm vận hành kỹ thuật hệ
thống thông tin của Quốc hội về tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn
và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Ủy ban Dân
nguyện và Giám sát chủ trì, phối hợp với các cơ quan chủ trì việc triển khai ứng
dụng công nghệ, chuyển đổi số trong công tác tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại,
xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, bảo
đảm sự liên thông, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan để triển khai ứng dụng công nghệ,
chuyển đổi số trong công tác tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và
giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của Hội đồng
nhân dân, bảo đảm sự liên thông, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan.
3. Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban
của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng
nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm
cập nhật, khai thác hệ thống thông tin về tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại,
xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
4. Thanh tra Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác có
trách nhiệm ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong công tác tiếp công dân, xử
lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh để chia sẻ dữ liệu
dùng chung, tạo điều kiện cho Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại
biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng
nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp cận thông tin phục vụ hoạt động xử lý
đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Điều 34. Chế độ, chính sách đối
với cán bộ, công chức tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị, phản ánh
1. Việc chi hỗ trợ cán bộ, công chức tiếp công dân,
tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thực hiện như sau:
a) Đối với cán bộ, công chức tiếp công dân và tiếp
nhận, phân loại, xử lý đơn gửi đến Quốc hội, cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu
Quốc hội thì thực hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về một số chế
độ chi tiêu bảo đảm hoạt động của Quốc hội;
b) Đối với cán bộ, công chức tiếp công dân và tiếp
nhận, phân loại, xử lý đơn gửi đến Hội đồng nhân dân, cơ quan của Hội đồng nhân
dân thì thực hiện tương tự như đối với cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức
khác thực hiện tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn theo quy định của
Chính phủ, chính quyền địa phương.
2. Việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ
tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thực hiện như sau:
a) Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát chủ
trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng, ban hành nội dung
chương trình bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức
tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; phối hợp xây dựng, ban
hành kế hoạch bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức tiếp công dân, tiếp nhận,
phân loại, xử lý đơn tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu
Quốc hội;
b) Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phối hợp
với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện việc bồi dưỡng kiến thức chuyên
môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử
lý đơn tại Hội đồng nhân dân ở địa phương;
c) Kinh phí thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ đối với cán bộ, công chức tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn do
ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Chương VI
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ
QUAN CÓ LIÊN QUAN
Điều 35. Trách nhiệm của Vụ
chuyên môn trực thuộc Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội
1. Tham mưu, phục vụ Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội tổ chức
thực hiện hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và giám sát
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
2. Tổ chức cập nhật thường xuyên, kịp thời thông
tin, tài liệu về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Thường trực
Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội trong việc tiếp công dân, tiếp
nhận, phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan,
tổ chức, cá nhân.
3. Phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc
bảo đảm an ninh, trật tự tại nơi tiếp công dân.
Điều 36. Trách nhiệm của Văn
phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1. Tham mưu, phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu
Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận,
phân loại, xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,
phản ánh.
2. Cử công chức thực hiện tiếp công dân thường xuyên
tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh theo quy định.
3. Tổ chức cập nhật thường xuyên, kịp thời thông
tin, tài liệu về hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường
trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc tiếp công
dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
cơ quan, tổ chức, cá nhân.
4. Phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc
bảo đảm an ninh, trật tự tại nơi tiếp công dân.
Điều 37. Trách nhiệm của Văn
phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Tham mưu, phục vụ Thường trực Hội đồng nhân dân,
Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện
hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và giám sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
2. Cử công chức thực hiện tiếp công dân thường
xuyên tại địa điểm tiếp công dân cấp xã theo quy định.
3. Tổ chức cập nhật thường xuyên, kịp thời thông
tin, tài liệu về hoạt động của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân
dân, Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã trong việc tiếp công dân, tiếp nhận, phân
loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
4. Phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc
bảo đảm an ninh, trật tự tại nơi tiếp công dân.
Chương VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 38. Hiệu lực thi hành
1. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Các quy định tại Chương IV của Nghị quyết này có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2026.
3. Nghị quyết số 228/1999/NQ-UBTVQH10
ngày 27 tháng 10 năm 1999 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc đại biểu Quốc hội
tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo và kiến nghị của công dân, Nghị quyết số 694/2008/NQ-UBTVQH12
ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc tiếp nhận, phân
loại, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân gửi Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Nghị quyết số
759/2014/UBTVQH13 ngày 15 tháng 5 năm 2014 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các
cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ các quy định
về giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan,
tổ chức, cá nhân của Quốc hội và Hội đồng nhân dân hết hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 3 năm 2026.
Điều 39. Tổ chức thi hành
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy
ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội,
Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng
nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thi hành Nghị
quyết này.
2. Ủy ban Dân nguyện và Giám sát xây dựng, ban hành
mẫu văn bản, quy trình thực hiện việc tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, xử
lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng
Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng
nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội
đồng nhân dân.
3. Trường hợp cần thiết, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân ban hành quy chế tiếp công
dân, tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân phù hợp với tình hình thực
tế của cơ quan, địa phương.
Nghị quyết này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Phiên họp thứ 52 thông qua ngày 24
tháng 12 năm 2025.
|
|
TM. ỦY BAN THƯỜNG
VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH
Trần Thanh Mẫn
|