LUẬT
SỬA
ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN
Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau:
“Điều 4. Tổ chức và thẩm quyền
thành lập, giải thể các Tòa án nhân dân
1. Tổ chức của Tòa án nhân dân bao gồm:
a) Tòa án nhân dân tối cao;
b) Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi là
Tòa án nhân dân cấp tỉnh);
c) Tòa án nhân dân khu vực;
d) Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc
tế (sau đây gọi là Tòa án chuyên biệt);
đ) Tòa án quân sự trung ương, Tòa án quân sự quân khu
và tương đương, Tòa án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án quân sự).
2. Thẩm quyền thành lập, giải thể Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của một số Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, của Tòa án nhân dân khu vực và Tòa án quân sự được quy định
như sau:
a) Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quyết định thành lập, giải thể Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân khu vực theo đề
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
b) Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc theo đề nghị của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
c) Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của một số Tòa án nhân dân khu vực
giải quyết vụ việc phá sản; vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, vụ án hành
chính về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ theo đề nghị của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao;
d) Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập,
giải thể và quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án quân sự
quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực theo đề nghị của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 40 như sau:
“1. Thành phần Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm
phán quốc gia gồm có Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng và các Ủy viên Hội
đồng, được quy định cụ thể như sau:
a) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là Chủ tịch Hội
đồng;
b) 01 Phó Chủ tịch Hội đồng là Phó Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao phân công luân phiên theo nhiệm kỳ 01 năm 01 lần;
c) Chánh án Tòa án quân sự trung ương;
d) 01 thủ trưởng đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối
cao là Thẩm phán Tòa án nhân dân, 01 Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao, 01 Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
chỉ định;
đ) 01 đại diện lãnh đạo Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp, Bộ
Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính.”.
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 46 như sau:
“Điều 46. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
1. Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của
các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật;
2. Giám đốc việc xét xử của Tòa Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao và các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định;
3. Phúc thẩm vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ
thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của luật;
4. Tổng kết thực tiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm
áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử;
5. Phát triển án lệ;
6. Đào tạo nguồn nhân lực; bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ cho Thẩm phán, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án, công chức khác,
viên chức của Tòa án; bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm, Hòa giải viên và các đối
tượng khác theo quy định của pháp luật;
7. Quản lý các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự về
tổ chức theo quy định của Luật này và các luật khác có liên quan, bảo đảm độc lập
giữa các Tòa án theo thẩm quyền xét xử;
8. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trình Quốc hội dự án luật, nghị quyết;
trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh, nghị quyết;
9. Thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ đối với các Tòa
án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án để bảo đảm tuân thủ
pháp luật, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
trong hoạt động của Tòa án;
10. Hợp tác quốc tế;
11. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của pháp luật.”.
4. Sửa đổi, bổ sung Điều 47 như sau:
“Điều 47. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối
cao
1. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao bao gồm:
a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b) Các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao;
c) Cục, vụ và tương đương;
d) Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng;
đ) Cơ quan báo chí.
2. Tòa án nhân dân tối cao có Chánh án, các Phó
Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm
phán Tòa án nhân dân, Thẩm tra viên Tòa án, Thư ký Tòa án, công chức khác, viên
chức và người lao động.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội
phê chuẩn đề nghị thành lập, tổ chức lại, giải thể các cơ quan, đơn vị quy định
tại các điểm b, c và đ khoản 1 Điều này theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao. Việc thành lập cơ sở đào tạo, bồi dưỡng quy định tại điểm d khoản
1 Điều này được thực hiện theo quy định của luật.”.
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 48 như sau:
“1. Số lượng thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao không ít hơn 23 người và không quá 27 người; gồm Chánh án, các
Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và
các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.”.
6. Bổ sung Điều 49a vào sau
Điều 49 trong Mục 1 Chương IV như sau:
“Điều 49a. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
1. Phúc thẩm vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ
thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng
nghị theo quy định của luật.
2. Kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem
xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã có hiệu lực pháp
luật theo quy định của luật.
3. Thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử; đề xuất
án lệ.
4. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 3 của Luật này.
5. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của pháp luật.”.
7. Sửa đổi, bổ sung Mục 3 Chương IV như sau:
“Mục 3
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP
TỈNH
Điều 55. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1. Sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của luật.
2. Phúc thẩm vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định
sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của luật.
3. Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân khu vực đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của
luật.
4. Kiểm tra bản án, quyết định của Tòa án nhân dân
khu vực đã có hiệu lực pháp luật.
5. Kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem
xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã có hiệu lực pháp
luật theo quy định của luật.
6. Thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử; đề xuất
án lệ.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và g khoản 2 Điều 3 của Luật này.
8. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 56. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh
1. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bao
gồm:
a) Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
b) Các Tòa chuyên trách gồm Tòa Hình sự, Tòa Dân sự,
Tòa Hành chính, Tòa Kinh tế, Tòa Lao động, Tòa Gia đình và người chưa thành
niên.
Trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết
định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao.
Căn cứ quy định tại điểm này và
yêu cầu của thực tiễn xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao quyết định việc tổ chức các Tòa chuyên trách;
c) Bộ máy giúp việc.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập
và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có Chánh án, các Phó
Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán Tòa án nhân dân, Thẩm tra
viên Tòa án, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động.
Điều 57. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh gồm
Chánh án, các Phó Chánh án và một số Thẩm phán Tòa án nhân dân do Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao quyết định. Số lượng thành viên của Ủy ban Thẩm phán do
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh.
Phiên họp Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh
do Chánh án chủ trì.
2. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh có nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
a) Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân khu vực đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của
luật;
b) Thảo luận về chương trình, kế hoạch công tác của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
c) Thảo luận, góp ý kiến đối với báo cáo công tác của
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh để báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
và Hội đồng nhân dân cùng cấp;
d) Thảo luận về kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại bản án, quyết
định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã có
hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo đề nghị của Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
đ) Thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử; đề xuất
án lệ.
Điều 58. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1. Sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của luật.
2. Phúc thẩm vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định
sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của luật.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và h khoản 2 Điều 3 của Luật này.”.
8. Sửa đổi, bổ sung Mục 4 Chương IV như sau:
“Mục 4
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC
Điều 59. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Tòa án nhân dân khu vực
1. Sơ thẩm vụ án, vụ việc theo quy định của luật.
2. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và g khoản 2 Điều 3 của Luật này.
3. Kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh
đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của luật.
4. Thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử; đề xuất
án lệ.
5. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 60. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân khu
vực
1. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân khu vực bao gồm:
a) Các Tòa chuyên trách gồm Tòa Hình sự, Tòa Dân sự,
Tòa Kinh tế, Tòa Hành chính, Tòa Gia đình và người chưa thành niên; Tòa Phá sản, Tòa Sở hữu trí tuệ tại một số Tòa án nhân dân
khu vực.
Căn cứ quy định tại điểm này và
yêu cầu của thực tiễn xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao quyết định việc tổ chức Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Kinh tế,
Tòa Hành chính, Tòa Gia đình và người chưa thành niên.
Căn cứ quy định tại điểm c khoản
2 Điều 4 của Luật này, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc tổ
chức Tòa Phá sản, Tòa Sở hữu trí tuệ tại một số Tòa án
nhân dân khu vực.
Trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết
định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao;
b) Bộ máy giúp việc.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập
và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân khu vực.
2. Tòa án nhân dân khu vực có Chánh án, các Phó
Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán Tòa án nhân dân, Thẩm tra
viên Tòa án làm công tác thi hành án, Thư ký Tòa án, công chức khác và người
lao động.
Điều 61. Nhiệm vụ, quyền hạn
của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân khu vực
1. Sơ thẩm vụ án, vụ việc theo quy định của luật.
2. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ và h khoản 2 Điều 3 của Luật này.”.
9. Sửa đổi, bổ sung tên Mục 5 Chương IV như sau:
“Mục 5
TÒA ÁN CHUYÊN BIỆT”.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 62 như sau:
“Điều 62. Tổ chức và hoạt động của Tòa án chuyên
biệt
1. Nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục tố tụng
giải quyết tranh chấp; tiếng nói, chữ viết dùng trong tố tụng, việc áp dụng
pháp luật tại Tòa án chuyên biệt; Thẩm phán giải quyết tranh chấp và các nội
dung khác có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án chuyên biệt do Quốc
hội quy định.
2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quyết định thành lập, giải thể và quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
của Tòa án chuyên biệt theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.”.
11. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 77 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 8 như sau:
“8. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức người giữ chức
vụ quy định tại khoản 1 Điều 80, khoản 1 Điều 81, khoản 1 Điều
83, khoản 1 Điều 85, khoản 1 Điều 86, khoản 1 Điều 87 của
Luật này và các chức vụ trong Tòa án nhân dân tối cao, trừ các chức vụ thuộc
thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức của Chủ tịch nước.”;
b) Sửa đổi, bổ sung các khoản 11, 12, 13 và 14 như sau:
“11. Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định
thành lập, giải thể Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án
chuyên biệt; quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân
khu vực, Tòa án chuyên biệt; thành lập các Tòa chuyên trách khác của Tòa án
nhân dân khi xét thấy cần thiết.
Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về phạm vi
thẩm quyền theo lãnh thổ của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc.
Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập,
giải thể và quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án quân sự
quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực sau khi thống nhất với Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng.
12. Quyết định việc tổ chức Tòa chuyên trách theo
quy định tại khoản 1 Điều 56 và điểm a khoản 1 Điều 60 của Luật
này.
13. Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề
nghị thành lập, tổ chức lại, giải thể các cơ quan, đơn vị quy định tại các điểm b, c và đ khoản 1 Điều 47 của Luật này.
Căn cứ vào Nghị quyết phê chuẩn của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập các cơ quan,
đơn vị quy định tại các điểm b, c và đ khoản 1 Điều 47 của Luật
này.
Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của
các cơ quan, đơn vị quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản
1 Điều 47 của Luật này; quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của
các Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao.
14. Quyết định thành lập, tổ chức
lại, giải thể và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân khu vực.”.
12. Sửa đổi, bổ sung Điều 80 như sau:
“Điều 80. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh là
05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức công tác xét xử của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
b) Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực đã có hiệu lực pháp luật theo
quy định của luật;
c) Chủ trì phiên họp của Ủy ban Thẩm phán Tòa án
nhân dân cấp tỉnh;
d) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác
tổ chức cán bộ theo phân cấp của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
đ) Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi địa giới hành chính cấp
tỉnh với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; trả lời
chất vấn, kiến nghị của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
e) Kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem
xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã có hiệu lực pháp
luật theo quy định của luật;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của pháp luật.”.
13. Sửa đổi, bổ sung Điều 81 như sau:
“Điều 81. Chánh án Tòa án nhân dân khu vực
1. Chánh án Tòa án nhân dân khu vực do Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực là 05
năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
2. Chánh án Tòa án nhân dân khu vực có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức công tác xét xử của Tòa án nhân dân khu
vực; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật;
b) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác
tổ chức cán bộ theo phân cấp của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
c) Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
d) Kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh
đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của luật;
đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định
của pháp luật.”.
14. Sửa đổi, bổ sung Điều 83 như sau:
“Điều 83. Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án nhân dân khu vực
1. Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án
nhân dân khu vực do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức.
Nhiệm kỳ của Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án nhân dân khu vực là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
2. Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án
nhân dân khu vực giúp Chánh án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công
của Chánh án. Khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm
lãnh đạo công tác của Tòa án. Phó Chánh án chịu trách nhiệm trước pháp luật và
Chánh án về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của
pháp luật về tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”.
15. Sửa đổi, bổ sung Điều 93 như sau:
“Điều 93. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán Tòa
án nhân dân
1. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 3 của Luật này.
2. Thẩm phán Tòa án nhân dân
công tác tại Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Thực hiện nhiệm vụ xét xử,
giải quyết vụ án, vụ việc tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; xét xử, giải
quyết vụ án, vụ việc tại Tòa án khác theo quy định của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao;
b) Xem xét, quyết định việc thụ lý đơn đề nghị, văn
bản yêu cầu, kiến nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo phân công của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao;
c) Đề xuất với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao việc giải quyết đơn đề nghị, văn bản yêu cầu, kiến
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm;
d) Kiểm tra, thẩm định tài liệu, chứng cứ theo quy
định của pháp luật;
đ) Xây dựng tờ trình, dự thảo kết luận việc thẩm
tra hồ sơ, tài liệu, chứng cứ của vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật và trình Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
e) Trả lời đơn đề nghị, văn bản yêu cầu, kiến nghị
giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
g) Đề xuất Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải
quyết khiếu nại trong hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng;
h) Đề xuất Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác thi hành án tử hình, trong công tác đặc xá
theo quy định của pháp luật;
i) Đề xuất Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phát triển án lệ đối với bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
k) Đề xuất nội dung rút kinh nghiệm, nội dung bảo đảm
áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân
công của Chánh án và quy định của pháp luật.”.
16. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 95 như sau:
“2. Trong trường hợp đặc biệt, người có đủ tiêu chuẩn
quy định tại các khoản 1, 3, 5 và 6 Điều 94 của Luật này có
thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân; nếu là sỹ quan quân đội tại
ngũ thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân thuộc
các Tòa án quân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 10 năm
trở lên, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến để đảm nhiệm chức vụ
lãnh đạo Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực;
b) Có thời gian làm công tác pháp luật từ đủ 15 năm
trở lên, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến để đảm nhiệm chức vụ
lãnh đạo Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa
án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự trung ương.”.
17. Sửa đổi, bổ sung Điều 96 như sau:
“Điều 96. Tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 3, 5 và 6 Điều 94 của Luật này và có đủ các điều kiện
sau đây thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao:
a) Có độ tuổi từ đủ 45 tuổi trở lên;
b) Có từ đủ 20 năm trở lên công tác tại Tòa án,
trong đó có từ đủ 10 năm trở lên làm Thẩm phán Tòa án nhân dân. Trường hợp đặc
biệt phải có từ đủ 05 năm trở lên làm Thẩm phán Tòa án nhân dân hoặc đang là Thẩm
phán Tòa án nhân dân, có từ đủ 05 năm trở lên làm Vụ trưởng Vụ chuyên môn nghiệp
vụ tại Tòa án nhân dân tối cao, số lượng đề nghị bổ nhiệm không quá 10% tổng số
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và được cấp có thẩm quyền chấp thuận;
c) Có năng lực xét xử, giải quyết những vụ án, vụ
việc và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao
theo quy định của pháp luật.
2. Người không công tác tại các Tòa án nhưng có uy
tín cao trong xã hội, có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 và
khoản 6 Điều 94 của Luật này, đủ điều kiện bổ nhiệm quy định tại điểm a và
điểm c khoản 1 Điều này, bảo đảm quy trình theo quy định thì có thể được tuyển
chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi thuộc một trong những
trường hợp sau đây:
a) Người giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan,
tổ chức trung ương am hiểu sâu sắc về chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao;
b) Chuyên gia, luật sư, giảng viên đại học, nhà
khoa học có trình độ cao về pháp luật, giữ chức vụ quan trọng trong các cơ
quan, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
3. Số lượng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được
tuyển chọn, bổ nhiệm theo quy định tại khoản 2 Điều này không quá 03 người.”.
18. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 124 như sau:
“1. Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối
với Hội thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 125 như sau:
“1. Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo phân công của Chánh án Tòa án
nơi được bầu làm Hội thẩm nhân dân.”.
20. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 127 như sau:
“1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh đề xuất nhu cầu về số
lượng, cơ cấu thành phần Hội thẩm tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân
dân khu vực, đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh lựa chọn và giới
thiệu người đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật
này để Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bầu Hội thẩm nhân dân.
Thành phần Hội thẩm nhân dân bảo đảm cơ cấu hợp lý,
phù hợp với yêu cầu xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án và tình hình,
đặc điểm của địa phương. Số lượng nhân sự đề xuất bầu Hội thẩm nhân dân phải có
số dư.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh sau khi thống nhất
với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân.”.
21. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 128 như sau:
“1. Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
đã bầu ra Hội thẩm nhân dân.
Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Hội thẩm nhân
dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu ra Hội thẩm
nhân dân mới.”.
22. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 147 như sau:
“2. Kinh phí hoạt động của các Tòa án quy định tại
các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 4 của Luật này do
Chính phủ sau khi thống nhất với Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội quyết định.
Trường hợp Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao không thống nhất về dự toán
kinh phí hoạt động của các Tòa án thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị
Quốc hội xem xét, quyết định.”.
23. Bãi bỏ Mục
2 Chương IV, Điều 63, Điều 79, Điều 82, khoản
2 Điều 122, khoản 2 Điều 127.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số
điều của luật có liên quan
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 7 của Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 như sau:
“3. Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng
tài quy định tại khoản 1 và điểm a, b, c, d, đ và e khoản 2 Điều này là Tòa án
nhân dân khu vực.
Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài
quy định tại điểm g khoản 2 Điều này là một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định Tòa án có thẩm quyền và phạm vi thẩm quyền theo
lãnh thổ của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh đối với yêu cầu quy định tại điểm
g khoản 2 Điều này.”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 44 của Luật Hàng không dân dụng số 66/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 45/2013/QH13, Luật
số 61/2014/QH13, Luật số 16/2023/QH15, Luật số 18/2023/QH15 và Luật số
49/2024/QH15 như sau:
“2. Tòa án nhân dân khu vực nơi tàu bay hạ cánh quyết
định bắt giữ tàu bay theo yêu cầu bằng văn bản của chủ sở hữu hoặc của chủ nợ
trong trường hợp tàu bay là tài sản bảo đảm cho khoản nợ của chủ nợ hoặc theo
yêu cầu bằng văn bản của người thứ ba ở mặt đất bị thiệt hại do tàu bay đang
bay gây ra hoặc những người có quyền và lợi ích đối với tàu bay theo quy định của
Luật này.”.
3. Sửa đổi, bổ sung một số khoản
của Điều 11 của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 29/2018/QH14
như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 1 như sau:
“e) Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 2 như sau:
“đ) Người đứng đầu đơn vị trực thuộc Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, trừ người có thẩm quyền quy định
tại điểm b khoản 3 Điều này; Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân khu vực;”.
4. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số
10/2017/QH14 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 36 như sau:
“3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung
ương có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ quan giải quyết bồi thường
trong các trường hợp sau đây:
a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự
trung ương mà quyết định bị hủy đã xác định bị cáo có tội và đình chỉ vụ án vì
không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
b) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự
trung ương mà quyết định bị hủy đã xác định bị cáo có tội để điều tra lại nhưng
sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội
hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà
không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
c) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự
trung ương mà quyết định bị hủy đã xác định bị cáo có tội để xét xử lại nhưng
sau đó bị cáo được tuyên không có tội vì không có sự việc phạm tội hoặc hành vi
không cấu thành tội phạm.”;
b) Thay thế cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại đoạn mở đầu khoản 1 Điều 53.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 130 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam số 95/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 16/2023/QH15 như
sau:
“Điều 130. Thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển
1. Tòa án nhân dân khu vực nơi có cảng mà tàu biển
bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu
biển.
Trường hợp cảng có nhiều bến cảng tại địa phận các
xã, phường, đặc khu thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của các Tòa án nhân
dân khu vực khác nhau thì Tòa án nhân dân khu vực nơi có bến cảng mà tàu biển bị
yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển
đó.
2. Tòa án nhân dân đang giải quyết vụ án dân sự,
Tòa án nhân dân khu vực nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp có thẩm quyền
quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển.
Quyết định bắt giữ tàu biển của Tòa án được giao
cho cảng vụ hai bản, một bản để thực hiện và một bản để cảng vụ giao cho thuyền
trưởng tàu bị bắt giữ để thực hiện.
3. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết
định Tòa án có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển trong trường hợp có tranh
chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân khu vực trong cùng một tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định
Tòa án có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển trong trường hợp có tranh chấp
về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân khu vực thuộc các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương khác nhau.”.
6. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 42/2013/QH13
như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 64 như sau:
“2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, các cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở địa
phương trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý công tác
giải quyết khiếu nại, định kỳ thông báo với Ủy ban nhân dân cùng cấp về công
tác giải quyết khiếu nại của cơ quan, tổ chức mình.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 65 như sau:
“3. Ủy ban nhân dân địa phương, Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh định kỳ báo cáo Hội đồng nhân dân và
thông báo đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về tình hình khiếu nại,
khởi kiện vụ án hành chính và công tác giải quyết khiếu nại, xét xử vụ án hành
chính trong phạm vi địa phương mình.”.
7. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tố cáo số 25/2018/QH14 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14
như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều 14 như sau:
“Điều 14. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Tòa án nhân dân
1. Chánh án Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền
giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện công vụ của công
chức do mình quản lý trực tiếp.
2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền
sau đây:
a) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện công vụ của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực,
công chức khác do mình quản lý trực tiếp;
b) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện công vụ của Tòa án nhân dân khu vực.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền
sau đây:
a) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong
việc thực hiện công vụ của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức, viên chức khác do mình quản lý trực
tiếp;
b) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật
trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do mình quản lý trực
tiếp, của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 60 như sau:
“2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, cơ quan khác của Nhà nước, cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội ở địa phương, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quản
lý công tác giải quyết tố cáo; hằng năm gửi báo cáo về công tác giải quyết tố
cáo trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình đến Ủy ban nhân dân cùng cấp
để tổng hợp báo cáo Hội đồng nhân dân.”.
8. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 66 của Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14 và Luật số 59/2024/QH15 như
sau:
“4. Tòa án nhân dân khu vực quyết định việc chăm
sóc thay thế đối với trường hợp trẻ em được quy định tại khoản
2 Điều 62 của Luật này theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách
nhiệm bảo vệ trẻ em được pháp luật quy định.”.
9. Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2014/QH13, Luật
số 23/2018/QH14, Luật số 67/2020/QH14,
Luật số 03/2022/QH15, Luật
số 31 /2024/QH15, Luật số 43/2024/QH15 và Luật số 59/2024/QH15 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều 35 như sau:
“Điều 35. Thẩm quyền thi hành án
1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền
thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân
khu vực; bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
b) Bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan
thi hành án dân sự có trụ sở;
c) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án
nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ
quan thi hành án dân sự có trụ sở;
d) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án
nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao nơi Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm có trụ sở;
đ) Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển
giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
e) Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết
định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam;
g) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
h) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định
giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh;
i) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự
nơi khác ủy thác;
k) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân
dân nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
l) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp
luật.
2. Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền
thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản,
truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và
quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu
và tương đương trên địa bàn;
b) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản,
truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và
quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự khu vực
trên địa bàn;
c) Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản,
xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và
quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung
ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
d) Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao
chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
đ) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, Viện kiểm
sát quân sự, Tòa án quân sự nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở;
e) Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự
nơi khác ủy thác;
g) Bản án, quyết định khác theo quy định của pháp
luật.”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 48 như sau:
“đ) Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có
thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi
hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2, điểm d
khoản 3 Điều 170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 63 như sau:
“1. Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với
khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực,
Tòa án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân khu vực và tương
đương) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở.”;
d) Sửa đổi, bổ sung Điều 170 như sau:
“Điều 170. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong
thi hành án dân sự
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao:
a) Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc ban hành văn
bản pháp luật về thi hành án dân sự;
b) Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết
quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết;
c) Xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn,
giảm thi hành án theo quy định của luật;
d) Giải quyết yêu cầu, kiến nghị và chỉ đạo Tòa án
các cấp giải quyết yêu cầu, kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự trong thời
hạn theo quy định của pháp luật;
đ) Chỉ đạo Tòa án các cấp phối hợp với các cơ quan
liên quan trong thi hành án dân sự;
e) Phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tổng kết công
tác thi hành án dân sự.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự trung
ương:
a) Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết
quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết;
b) Trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự
về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị;
c) Xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn,
giảm thi hành án theo quy định của luật.
3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
a) Chuyển giao bản án, quyết định, tài liệu và vật
chứng có liên quan cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này;
b) Giải quyết kháng nghị về quyết định miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định của
Luật này;
c) Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự báo cáo kết
quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết;
d) Trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự
về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị;
đ) Giải quyết kiến nghị, yêu cầu của cơ quan thi
hành án dân sự và theo dõi kết quả xử lý sau khi Tòa án trả lời;
e) Xem xét theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn,
giảm thi hành án theo quy định của luật.
4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân khu vực
và tương đương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương:
a) Chuyển giao bản án, quyết định, tài liệu và vật
chứng có liên quan cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này;
b) Xem xét, quyết định việc miễn, giảm nghĩa vụ thi
hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;
c) Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ
quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài
sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hủy giấy tờ,
giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án;
d) Giải quyết kiến nghị, yêu cầu của cơ quan thi
hành án dân sự và theo dõi kết quả xử lý sau khi Tòa án trả lời.
5. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị
hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải
giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy.”.
10. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 16 của Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
59/2020/QH14 như
sau:
“3. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc
xây dựng báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương.”.
11. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một
số điều của Luật Tương trợ tư pháp số
08/2007/QH12 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:
“Điều 38. Tiếp nhận yêu cầu dẫn độ
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được
yêu cầu dẫn độ và tài liệu kèm theo, Bộ Công an vào sổ hồ sơ dẫn độ và kiểm tra
hồ sơ theo quy định tại Điều 36 của Luật này. Bộ Công an có
thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ cung cấp thông tin bổ
sung hồ sơ. Sau sáu mươi ngày, kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin
mà không nhận được thông tin bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho nước yêu
cầu dẫn độ và nêu rõ lý do. Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì Bộ Công an chuyển ngay
cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền hai bộ hồ sơ để xem xét, quyết định.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 39 như sau:
“1. Trong trường hợp Bộ Công an nhận được văn bản của
hai hoặc nhiều nước yêu cầu dẫn độ một người về cùng một tội phạm hoặc nhiều tội
phạm khác nhau thì Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định đáp
ứng yêu cầu dẫn độ cho một trong các nước yêu cầu và chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ
cho Tòa án nhân dân khu vực xem xét, quyết định dẫn độ.”;
c) Sửa đổi, bổ sung Điều 40 như sau:
“Điều 40. Quyết định dẫn độ
1. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được hồ sơ yêu cầu dẫn độ do Bộ Công an chuyển đến, Tòa án nhân dân khu vực nơi
người bị yêu cầu dẫn độ đang cư trú, đang bị tạm giam, tạm giữ hoặc chấp hành
hình phạt tù phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp. Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực
có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài làm rõ những điểm chưa rõ
trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ. Văn bản yêu cầu dẫn độ và văn bản trả lời được gửi
thông qua Bộ Công an.
2. Trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày thụ lý, tùy
từng trường hợp mà Tòa án nhân dân khu vực ra một trong các quyết định sau đây:
a) Xem xét yêu cầu dẫn độ khi có đủ các điều kiện
theo quy định của Luật này;
b) Đình chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ và trả hồ
sơ cho Bộ Công an trong trường hợp không thuộc thẩm quyền hoặc bên nước ngoài
rút yêu cầu dẫn độ hoặc người bị yêu cầu dẫn độ đã rời khỏi Việt Nam hoặc vì lý
do khác mà việc xem xét không thể tiến hành được.
3. Tòa án nhân dân khu vực xem xét yêu cầu dẫn độ
trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định theo quy định tại điểm a
khoản 2 Điều này và chuyển ngay một bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
4. Việc xem xét yêu cầu dẫn độ được tiến hành tại
phiên họp do Hội đồng gồm ba thẩm phán trong đó có một thẩm phán làm chủ tọa và
có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Hội đồng xem xét yêu cầu dẫn độ làm việc theo trình
tự sau đây.
a) Một thành viên của Hội đồng trình bày nội dung hồ
sơ của nước yêu cầu dẫn độ và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc dẫn độ;
b) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm
sát nhân dân về việc dẫn độ;
c) Luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người bị
yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến, nếu có;
d) Người bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến;
đ) Căn cứ vào các quy định của Luật này, các quy định
khác của pháp luật Việt Nam có liên quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc dẫn độ hoặc từ chối
dẫn độ.
5. Chậm nhất là mười ngày làm việc, kể từ ngày ra
quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực gửi quyết định
cho người bị yêu cầu dẫn độ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an để thực
hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Người bị yêu cầu dẫn độ có quyền kháng cáo, Viện kiểm
sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn mười lăm ngày, Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ
ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định. Tòa án nhân dân khu vực phải gửi hồ
sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn bảy
ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ dẫn độ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp
xem xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Hội đồng
xem xét phúc thẩm quyết định về việc dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ. Trình tự xem
xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định dẫn độ của Tòa án nhân dân khu vực
được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Quyết định dẫn độ có hiệu lực pháp luật bao gồm:
a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị;
b) Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.”;
d) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 42 như sau:
“1. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày quyết
định của Tòa án nhân dân về dẫn độ có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực có thẩm quyền ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ. Quyết định
thi hành quyết định dẫn độ phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ
Công an, nước yêu cầu dẫn độ và người bị dẫn độ.”;
đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 43 như sau:
“2. Trường hợp hết thời hạn do các nước liên quan
thoả thuận trước bằng văn bản mà nước yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận thì Bộ
Công an kiến nghị Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định dẫn độ hủy quyết định
thi hành quyết định dẫn độ đó và thông báo cho nước yêu cầu dẫn độ biết.”;
e) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 44 như sau:
“1. Khi người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt trên lãnh thổ của Việt Nam về
tội không phải là tội bị yêu cầu dẫn độ thì Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết
định dẫn độ có thể tự mình hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực,
cơ quan công an cấp có thẩm quyền hoãn việc thi hành quyết định dẫn độ người đó
cho đến khi kết thúc quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành xong
toàn bộ hoặc một phần hình phạt đã tuyên. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho
nước yêu cầu dẫn độ về việc hoãn dẫn độ chậm nhất là mười ngày làm việc trước
ngày hết thời hạn hoãn việc thi hành quyết định dẫn độ. Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực đã hoãn việc thi hành quyết định dẫn độ phải ra quyết định thi hành
quyết định dẫn độ và gửi ngay quyết định cùng tài liệu, hồ sơ liên quan cho cơ
quan công an thi hành quyết định dẫn độ để thông báo cho nước yêu cầu và tiếp tục
tiến hành việc dẫn độ theo thoả thuận cụ thể với nước yêu cầu.”;
g) Sửa đổi, bổ sung Điều 45 như sau:
“Điều 45. Dẫn độ lại
Trường hợp người đã bị dẫn độ trốn tránh việc truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt ở nước ngoài và quay trở lại
Việt Nam thì nước yêu cầu dẫn độ có thể đưa ra yêu cầu dẫn độ lại người đó kèm
theo các tài liệu quy định tại Điều 36 và Điều 37 của Luật
này; trong trường hợp này, Tòa án nhân dân khu vực không tiến hành lại thủ tục
quyết định dẫn độ theo quy định tại Điều 40 của Luật này;
Chánh án Tòa án nhân dân khu vực đã quyết định dẫn độ trước đây quyết định dẫn
độ lại đối với người đó. Việc áp giải người bị dẫn độ lại được thực hiện theo
quy định tại Điều 43 của Luật này.”;
h) Sửa đổi, bổ sung Điều 54 như sau:
“Điều 54. Tiếp nhận yêu cầu chuyển giao người
đang chấp hành hình phạt tù
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và tài liệu kèm
theo, Bộ Công an vào sổ hồ sơ chuyển giao và kiểm tra hồ sơ theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Luật này. Bộ Công an có thể yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền của nước yêu cầu chuyển giao cung cấp thông tin bổ sung hồ
sơ. Sau sáu mươi ngày, kể từ ngày gửi văn bản yêu cầu bổ sung thông tin mà
không nhận được thông tin bổ sung thì Bộ Công an gửi trả hồ sơ cho nước yêu cầu
chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và nêu rõ lý do. Trường hợp hồ sơ
hợp lệ thì Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền hai
bộ hồ sơ để xem xét, quyết định.” ;
i) Sửa đổi, bổ sung Điều 55 như sau:
“Điều 55. Quyết định chuyển giao người đang chấp
hành hình phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài
1. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam cho
nước ngoài do Bộ Công an chuyển đến, Tòa án nhân dân khu vực nơi người bị kết
án đang chấp hành hình phạt tù phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp. Trong thời hạn chuẩn bị xem xét yêu cầu chuyển giao
người đang chấp hành hình phạt tù, Tòa án nhân dân có quyền yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài làm rõ những điểm chưa rõ trong hồ sơ yêu cầu chuyển
giao. Văn bản yêu cầu và văn bản trả lời được gửi thông qua Bộ Công an.
2. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thụ lý,
tuỳ từng trường hợp mà Tòa án nhân dân khu vực ra một trong các quyết định sau
đây:
a) Xem xét yêu cầu chuyển giao khi có đủ các điều
kiện quy định tại Điều 50 của Luật này;
b) Đình chỉ việc xem xét yêu cầu chuyển giao và trả
hồ sơ cho Bộ Công an trong trường hợp không thuộc thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài hoặc người yêu cầu chuyển giao rút lại yêu cầu chuyển giao
hoặc người được yêu cầu chuyển giao đã rời khỏi Việt Nam hoặc vì các lý do khác
mà việc xem xét không thể tiến hành được.
3. Tòa án nhân dân khu vực xem xét yêu cầu chuyển
giao trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định theo quy định tại điểm
a khoản 2 Điều này và chuyển ngay một bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng
cấp.
4. Việc xem xét yêu cầu chuyển giao được tiến hành
tại phiên họp do Hội đồng gồm ba thẩm phán trong đó có một thẩm phán làm chủ tọa
và có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Hội đồng xem xét yêu cầu chuyển giao làm việc theo
trình tự sau đây:
a) Một thành viên của Hội đồng trình bày nội dung hồ
sơ của nước yêu cầu chuyển giao và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc chuyển
giao;
b) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm
sát nhân dân về việc chuyển giao;
c) Luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của người
được yêu cầu chuyển giao trình bày ý kiến, nếu có;
d) Người yêu cầu chuyển giao trình bày ý kiến;
đ) Căn cứ vào các quy định của Luật này, các quy định
khác của pháp luật Việt Nam có liên quan và điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc chuyển giao hoặc từ
chối chuyển giao.
5. Chậm nhất là mười ngày làm việc, kể từ ngày ra
quyết định chuyển giao hoặc từ chối chuyển giao, Tòa án nhân dân khu vực gửi
quyết định cho người được chuyển giao, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công
an để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Người yêu cầu chuyển giao có quyền kháng cáo, Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn mười lăm ngày, Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn ba mươi ngày, kể
từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết định. Tòa án nhân dân khu vực phải gửi
hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn bảy
ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được
hồ sơ chuyển giao và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp
xem xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Hội đồng
xem xét phúc thẩm quyết định về việc chuyển giao hoặc từ chối chuyển giao.
Trình tự xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định chuyển giao của Tòa
án nhân dân khu vực được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Quyết định chuyển giao có hiệu lực pháp luật bao
gồm:
a) Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng
cáo, kháng nghị;
b) Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm.” ;
k) Sửa đổi, bổ sung Điều 56 như sau:
“Điều 56. Thẩm quyền quyết định tiếp nhận người
đang chấp hành hình phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam
Tòa án nhân dân khu vực nơi người được chuyển giao
có nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam quyết định việc tiếp nhận. Trình tự, thủ tục
xem xét việc tiếp nhận được thực hiện theo quy định tại Điều
55 của Luật này.” ;
l) Sửa đổi, bổ sung Điều 68 như sau:
“Điều 68. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân khu vực,
Tòa án nhân dân cấp tỉnh
1. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân khu vực:
a) Thực hiện ủy thác tư pháp của nước ngoài theo quy
định của Luật này;
b) Xem xét, quyết định dẫn độ, chuyển giao người
đang chấp hành hình phạt tù hoặc từ chối dẫn độ, chuyển giao người đang chấp
hành hình phạt tù theo quy định của Luật này;
c) Tiến hành các hoạt động tương trợ tư pháp khác
theo thẩm quyền;
d) Báo cáo kết quả thực hiện tương trợ tư pháp cho
Tòa án nhân dân cấp tỉnh để tổng hợp, báo cáo Tòa án nhân dân tối cao.
2. Trách nhiệm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
a) Xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định
dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù theo thẩm quyền;
b) Báo cáo kết quả thực hiện tương trợ tư pháp cho
Tòa án nhân dân tối cao.”;
m) Bãi bỏ khoản
2 Điều 63.
12. Thay thế cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 4 Điều 33, khoản 3 và khoản 4 Điều 34 của Luật Phòng, chống
ma túy số 73/2021/QH14.
13. Thay thế cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” tại khoản 3 Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24 tháng 6 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|