|
HỘI ĐỒNG NHÂN
DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 274/NQ-HĐND
|
Cần Thơ, ngày 10
tháng 12 năm 2025
|
NGHỊ QUYẾT
VỀ
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH GIAI ĐOẠN
2026 - 2030
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
KHÓA X, KỲ HỌP THỨ BẢY
Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày
16 tháng 6 năm 2025;
Xét Tờ trình số 451/TTr-UBND ngày 05 tháng 12
năm 2025 của Ủy ban nhân dân thành phố dự thảo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030; Báo cáo thẩm
tra của Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân dân thành phố; ý kiến thảo luận của
đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Thông qua Kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh giai đoạn 2026 - 2030 của
thành phố Cần Thơ như sau:
1. Mục tiêu
Cần Thơ phấn đấu trở thành một cực tăng trưởng của
quốc gia; là trung tâm kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo, logistics, giáo dục,
y tế và tài chính của toàn vùng. Hoàn thiện đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng
chiến lược, đặc biệt là hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng logistics, hạ
tầng số, hạ tầng thủy lợi và năng lượng. Ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực
có lợi thế so sánh và giá trị gia tăng cao, gồm: Nông nghiệp công nghệ cao và
nông nghiệp sinh thái gắn với chuỗi cung ứng chế biến, xuất khẩu; công nghiệp
chế biến nông, thủy sản; năng lượng sạch; kinh tế biển; kinh tế cửa khẩu; du lịch
sinh thái, văn hóa, tâm linh; đô thị thông minh; thương mại và dịch vụ chất lượng
cao. Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, ứng
phó biến đổi khí hậu, giữ gìn tài nguyên nước và cân bằng hệ sinh thái đồng bằng
sông Cửu Long. Vận hành hiệu quả mô hình Chính quyền địa phương hai cấp; đảm bảo
quốc phòng, an ninh vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu
a) Chỉ tiêu về kinh tế
(1) Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tính theo giá
hiện hành đến năm 2030 đạt tối thiểu 717.067 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người
đến năm 2030 phấn đấu đạt khoảng 215 triệu đồng/người/năm; tốc độ tăng tổng sản
phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10 - 10,5%/năm
trở lên; kim ngạch xuất khẩu, dịch vụ và thu ngoại tệ phấn đấu đến năm 2030 đạt
8,2 tỷ USD, giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu bình quân tăng 11%/năm; thu nhập
bình quân đầu người đến năm 2030 đạt tối thiểu 8.500.000 đồng/người/tháng.
(2) Tổng thu ngân sách hằng năm tăng khoảng 15%; phấn
đấu đến năm 2030 ước đạt 57.000 tỷ đồng.
(3) Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đến
năm 2030 dự kiến: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm thấp hơn 16%; công
nghiệp và xây dựng chiếm cao hơn 35% (trong đó, công nghiệp chiếm hơn 29%); dịch
vụ chiếm cao hơn 45% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm cao hơn 4%.
(4) Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn theo giá
hiện hành đến năm 2030 đạt tối thiểu 286.000 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng 40% GRDP.
(5) Nâng cao các chỉ số: Cải cách hành chính (PAR
INDEX); sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành
chính Nhà nước (SIPAS), hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI),
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); phấn đấu đạt kết quả xếp hạng trong “Nhóm
15 địa phương có chất lượng điều hành tốt”.
(6) Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số:
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào
tăng trưởng kinh tế thành phố ở mức trên 55%.
- Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong
GRDP đạt tối thiểu 30%.
- Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người
dân và doanh nghiệp đạt trên 80%.
- Phấn đấu bố trí 3% tổng chi ngân sách cho phát
triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình
10 - 15%/năm.
- Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo
đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển
công nghệ, đôi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; số lượng đơn vị đăng
ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18% năm, tỷ lệ khai
thác thương mại đạt 8-10%.
(7) Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư
nhân đạt từ 10%/năm trở lên.
(8) Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công phấn đấu đạt
100% tổng kế hoạch vốn đầu tư công được Chính phủ giao.
b) Chỉ tiêu về xã hội
(9) Dân số trung bình đến năm 2030 là 3.335.000 người.
(10) Chỉ số phát triển con người (HDI) đến năm 2030
đạt tối thiểu 0,78.
(11) Đến năm 2030, giá trị năng suất lao động theo
giá hiện hành đạt trên 358 triệu đồng/lao động/năm; tốc độ tăng năng suất lao động
theo giá so sánh bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt trên 10%; tỷ lệ lao động
qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; số lao động có việc làm trong
nền kinh tế đến năm 2030 phấn đấu đạt 1.700.000 người; tỷ lệ lao động có việc
làm trong nền kinh tế khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt dưới 38%, khu vực
công nghiệp và xây dựng đạt trên 27%, khu vực dịch vụ đạt trên 35%; duy trì tỷ
lệ thất nghiệp dưới 3,5%.
(12) Đến năm 2030, tuổi thọ trung bình tính từ lúc
sinh đạt khoảng 77,12 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68
năm.
(13) Đến năm 2030: phấn đấu đạt 19 bác sĩ/vạn dân;
số giường bệnh đến cuối năm 2030 đạt trên 44 giường bệnh/vạn dân; đạt tỷ lệ bao
phủ bảo hiểm y tế toàn dân; 100% người dân được hưởng chính sách khám sức khỏe
hằng năm.
(14) Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia đến
năm 2030 phấn đấu đạt 85%. Trong đó: Mầm non đạt 90,5%; tiểu học đạt 83,9%;
trung học cơ sở đạt 83,6%; trung học phổ thông đạt 73,5%. Hoàn thành phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết trung học
cơ sở.
(15) Tỷ lệ nghèo đa chiều đến 2030 là 2,42%, duy
trì mức giảm tỷ lệ nghèo đa chiều 01%.
c) Chỉ tiêu về môi trường
(16) Tỷ lệ cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống
xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường phấn đấu đạt 100%.
(17) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 95,8%; tỷ lệ chất thải nguy hại
được thu gom, xử lý đạt tối thiểu 98%; tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt
100%.
(18) Phấn đấu đến năm 2030 đạt 90,3% xã (65/72 xã)
đạt chuẩn nông thôn mới; tỷ lệ hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước sạch từ
các nguồn theo quy chuẩn phấn đấu đạt 85%.
(19) Tỷ lệ che phủ rừng đến 2030 đạt 02%.
d) Chỉ tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng
(20) Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa đạt 50% trở
lên.
(21) Phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ phát triển đô
thị thông minh.
(22) Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành 16.900 căn nhà
ở xã hội.
đ) Chỉ tiêu về quốc phòng, an ninh, đối ngoại
(23) Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ;
công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục quốc phòng, an ninh hoàn thành 100% chỉ
tiêu hàng năm.
(24) Đảm bảo hằng năm tỷ lệ xã, phường đạt tiêu chuẩn
“An toàn về an ninh, trật tự” từ 75% trở lên; đến năm 2030 ít nhất 50% xã, phường
trên địa bàn thành phố không có ma túy.
(25) Ký kết ít nhất 05 thỏa thuận cấp thành phố với
các địa phương, đối tác quốc tế; tham gia ít nhất 03 tổ chức quốc tế/diễn đàn đa
phương có tôn chỉ, mục đích hoạt động phù hợp với mục tiêu phát triển của thành
phố; phấn đấu 100% trường hợp được hỗ trợ hiệu quả qua công tác bảo hộ công dân
ở nước ngoài.
Điều 2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ
yếu giai đoạn 2026 - 2030
1. Tập trung tiếp tục hoàn thiện
thể chế phát triển, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực và tạo động
lực mới cho phát triển
Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết Đại hội đại
biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; Nghị quyết số 59-NQ/TW
ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần
Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Chủ động nghiên cứu, đề xuất Trung ương các cơ chế,
chính sách mới, đột phá, để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, không
gian và động lực mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Trọng
tâm là tập trung triển khai có hiệu quả các cơ chế chính sách đặc thù được
Trung ương ban hành, nghiên cứu đề xuất bổ sung các cơ chế chính sách đặc thù mới
để khai thác sử dụng hiệu quả các nguồn lực và điều kiện đặc thù của thành phố
trong bối cảnh mới.
Kịp thời quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ,
hiệu quả Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi
mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
trong kỷ nguyên mới. Đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa
bảo đảm yêu cầu quản lý Nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ
sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Tạo đột phá trong công tác
thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất
quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi
hành pháp luật.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật của
địa phương đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ
thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, ủy quyền tối đa
theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Tập trung tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế, pháp luật của địa phương để phục vụ
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy hình thành và phát triển các vùng kinh
tế, mô hình kinh tế mới, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần
hoàn, kinh tế ban đêm, kinh tế chia sẻ.
Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi
trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI),
chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI), chỉ số cải cách hành chính
(PAR INDEX); tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính quyền số,
nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.
2. Xác lập mô hình tăng trưởng,
cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng
hiện đại, hiệu quả, xanh và bền vững, gắn với việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ
mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Tập trung cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực
then chốt, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế tri
thức và kinh tế tuần hoàn.
Huy động, tận dụng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực
tài chính để đầu tư phát triển thành phố. Phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực
kinh tế Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân và đầu
tư nước ngoài phát triển mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng.
Đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, trọng tâm là
doanh nghiệp Nhà nước theo chuẩn mực quản trị tiên tiến, nâng cao hiệu quả sản
xuất, kinh doanh và đóng góp cho ngân sách. Song song đó, cải thiện mạnh mẽ môi
trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thúc đẩy khởi
nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tăng cường quản lý, nuôi dưỡng và phát triển nguồn
thu ngân sách, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định pháp luật;
mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, giảm nợ đọng thuế. Nâng cao hiệu quả sử dụng
tài chính công, khuyến khích các hình thức hợp tác công tư (PPP) và huy động
nguồn vốn xã hội, nguồn vốn của các tổ chức tài chính quốc tế trong phát triển
đô thị, hạ tầng và dịch vụ công. Cơ cấu lại chi ngân sách Nhà nước, tăng tỷ trọng
chi cho đầu tư phát triển, tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên, các dự án
động lực, có sức lan tỏa và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao
chất lượng, hiệu quả đầu tư công, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm
soát chặt chẽ, hiệu quả.
Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín
dụng, phát triển đa dạng dịch vụ tài chính, tín dụng và bảo hiểm; đẩy mạnh xử
lý các tổ chức tín dụng yếu kém; nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn
hệ thống và hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế.
Triển khai kịp thời và hiệu quả các quy hoạch đã được
phê duyệt; rà soát, tích hợp, hoàn thiện đồng bộ hệ thống các quy hoạch đô thị,
quy hoạch nông thôn, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành, đảm bảo thống
nhất, đồng bộ, mở rộng không gian phát triển, phát huy tối đa tiềm lực phục vụ
mục tiêu phát triển; tập trung triển khai các chương trình, đề án, dự án, các
nhiệm vụ ưu tiên, trọng tâm và đột phá theo quy hoạch và định hướng phát triển;
thu hút nguồn lực để thực hiện các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế mang
tính dẫn dắt, liên kết.
Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp,
xây dựng khu công nghiệp công nghệ cao để thu hút đầu tư, tạo động lực mới thúc
đẩy phát triển công nghiệp nền tảng, chủ lực của thành phố; từng bước phát triển
các ngành công nghiệp mới nổi như công nghiệp chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo,
công nghiệp môi trường, công nghiệp sinh học, năng lượng tái tạo và năng lượng
mới; khuyến khích hình thành các cụm liên kết ngành và tổ hợp công nghiệp quy
mô lớn, hiện đại, mang tính vùng và liên vùng.
Tổ chức triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20
tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến
năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; cung cấp năng lượng đầy đủ, ổn định, chất lượng
cao, giảm phát thải cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an
ninh, nâng cao đời sống người dân, bảo vệ môi trường sinh thái. Từng bước chuyển
đổi năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển, phù hợp với các cam kết quốc tế.
Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng các nguồn năng lượng, sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường; lưới truyền tải, phân phối điện được
xây dựng hiện đại, thông minh.
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển
đô thị, gắn kết hài hòa giữa cải tạo, chỉnh trang với xây dựng các đô thị mới;
phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), khai thác không
gian ngầm và thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội, đô thị xanh, đô thị thông minh.
Triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình, đề
án, dự án, kế hoạch trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh cơ cấu lại
ngành nông nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, xây dựng
vùng nguyên liệu nông sản; đầu tư hệ thống các công trình thủy lợi, nước sạch
nông thôn phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp, ổn định đời sống người dân nông
thôn gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững. Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp tuần hoàn, thân thiện với
môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển nông nghiệp đô thị góp
phần xây dựng môi trường sinh thái, cảnh quan, cung cấp thực phẩm xanh.
Phát triển mạnh khu vực dịch vụ, nâng cao chất lượng
và năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ truyền thống; thúc đẩy phát triển
thị trường nội địa, kích cầu tiêu dùng, khuyến khích sản xuất, tiêu dùng hàng
Việt Nam chất lượng cao; mở rộng mạng lưới phân phối hàng hóa. Thúc đẩy mở rộng,
đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự
do (FTA) thế hệ mới, các khu vực liên kết kinh tế quốc tế và khu vực; tăng cường
xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm quốc gia và thương hiệu
vùng; có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển mạnh sang xuất khẩu chính ngạch,
đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và tiêu chuẩn xanh của thị trường nhập
khẩu; đẩy mạnh đào tạo, tư vấn và cung cấp thông tin thị trường cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Xây dựng, phát triển thương hiệu du lịch mang đặc
trưng của thành phố; nâng cấp, hiện đại hóa hạ tầng du lịch gắn với phát triển
các khu vui chơi, giải trí, mua sắm, ẩm thực; phát triển một số trung tâm du lịch,
sản phẩm du lịch chất lượng cao; tăng cường hợp tác, liên kết vùng trong phát
triển du lịch.
Mở rộng các loại hình dịch vụ mới có giá trị gia
tăng cao như logistics, tài chính, thương mại điện tử, du lịch chất lượng cao,
y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, dịch vụ số và dịch vụ sáng tạo; hình thành
các khu kinh tế, trung tâm logistics quy mô vùng; gắn với hệ thống cảng biến, cảng
hàng không, hành lang kinh tế và khu công nghiệp; phát triển mạnh dịch vụ vận tải
biển quốc tế, logistics xanh và vận tải đa phương thức.
Phát triển kinh tế biển toàn diện, bền vững, gắn với
bảo đảm quốc phòng, an ninh; hình thành các khu kinh tế, khu đô thị sinh thái,
hành lang ven biển, trung tâm hậu cần nghề cá và các khu nuôi trồng hải sản
công nghệ cao; đầu tư hạ tầng chiến lược trên các cồn, cù lao trên địa bàn
thành phố.
Phát huy vai trò của các khu vực kinh tế, phát triển
kinh tế Nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong dẫn dắt và bảo đảm các cân đối
lớn; tạo môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển thành động
lực quan trọng; khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể và
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Tăng cường thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các
dự án công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch, phát thải thấp; đẩy mạnh
kết nối khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy
chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và chuỗi giá trị nội địa.
3. Phát triển mạnh kinh tế tư
nhân - một động lực quan trọng của nền kinh tế giai đoạn 2026 - 2030
Tập trung triển khai đầy đủ, hiệu quả Nghị quyết số
68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư
nhân; xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất góp phần vào sự
phát triển của thành phố và của nền kinh tế quốc gia, gắn phát triển kinh tế tư
nhân với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và đổi mới sáng
tạo.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền sở hữu, quyền tự
do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân. Tăng cường công tác
quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục
hành chính, cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp thành phố (PCI) để nâng
cao hiệu quả thu hút các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn. Tổ chức thường xuyên
các cuộc đối thoại; hỗ trợ, tháo gỡ, giải quyết khó khăn, vướng mắc cho doanh
nghiệp, nhà đầu tư; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch,
thuận lợi, an toàn và ổn định lâu dài.
Xây dựng danh mục dự án trọng điểm, có tính lan tỏa
cao để ưu tiên kêu gọi đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực: Hạ tầng giao thông -
logistics, năng lượng tái tạo, công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ
cao, y tế, giáo dục, đô thị thông minh. Công khai danh mục dự án trên các kênh
chính thức, cổng thông tin điện tử; cập nhật thường xuyên, minh bạch về quy hoạch,
quỹ đất, cơ chế ưu đãi.
Tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng cho doanh nghiệp
tư nhân trong tiếp cận vốn, đất đai, nguồn nhân lực và chính sách ưu đãi, nhất
là trong các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, công
nghiệp số, dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân mở rộng thị trường, tái
cơ cấu sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu, tham gia sâu hơn vào chuỗi
giá trị trong nước và toàn cầu; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu,
ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và
làm giàu hợp pháp, xây dựng môi trường xã hội tôn trọng, tôn vinh doanh nhân,
doanh nghiệp thành đạt, có tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến, thượng tôn
pháp luật và trách nhiệm xã hội.
Tạo cơ chế, chính sách đặt hàng và giao nhiệm vụ
cho khu vực tư nhân tham gia các dự án trọng điểm quốc gia và thành phố, trong
các lĩnh vực hạ tầng giao thông, năng lượng, nghiên cứu khoa học và công nghệ
cao.
Tăng cường kết nối, hợp tác cùng phát triển giữa
các doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hình thành mạng lưới sản xuất - kinh doanh
liên kết, phát triển chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị bền vững.
Triển khai hiệu quả khung pháp lý về kinh tế tập thể,
hợp tác xã, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, khuyến khích chuyển đổi hộ
kinh doanh thành doanh nghiệp, mở rộng quy mô, nâng cao năng lực quản trị và khả
năng tiếp cận thị trường, công nghệ, tài chính.
Thực hiện chính sách pháp lý phù hợp trong xử lý vi
phạm kinh tế - dân sự, phân biệt rõ giữa tranh chấp kinh tế và tội phạm kinh tế,
ưu tiên biện pháp kinh tế, dân sự để khắc phục hậu quả, bảo vệ môi trường đầu
tư, sản xuất, kinh doanh lành mạnh.
4. Phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Tổ chức triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW
ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù,
vượt trội, thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ tài chính cho các dự
án nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao để thúc đẩy các lĩnh vực ưu tiên, thu hút
tài năng, doanh nghiệp công nghệ cao, thúc đẩy - nghiên cứu - phát triển, khuyến
khích doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ cao. Xây dựng chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp vừa và nhỏ đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, chuyển đổi số, nghiên cứu,
ứng dụng khoa học, công nghệ đe nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản trị
doanh nghiệp. Có cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài về khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về làm việc, sinh sống tại các cơ
quan đảng, Nhà nước, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và các doanh nghiệp trên địa
bàn. Có cơ chế, chính sách đặc thù cho hoạt động của Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi
mới sáng tạo, Vườn ươm Công nghệ Công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc (KVIP) và các
tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo phát sinh trên địa bàn thành phố;
xây dựng Đề án phát triển thành phố Cần Thơ trở thành trung tâm khởi nghiệp
sáng tạo của khu vực Đông Nam Á.
Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nâng cao năng lực hoạt động của
Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ. Thành lập các
Không gian đổi mới sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp vệ tinh trực thuộc Trung tâm
Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo thành phố Cần Thơ tại các địa bàn trọng điểm của
thành phố, trước mắt tại phường Vị Tân, phường Phú Lợi, phường Ninh Kiều. Nâng
cấp các cơ sở nghiên cứu, vườn ươm khởi nghiệp, trung tâm khởi nghiệp và đổi mới
sáng tạo, không gian sáng tạo; thu hút đầu tư từ doanh nghiệp, trường đại học,
viện nghiên cứu.
Ưu tiên bố trí ngân sách cho các nhiệm vụ khoa học,
công nghệ trọng điểm, dự án chuyển đổi số, đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, thu
hút vốn đầu tư tư nhân; đổi mới phương thức đầu tư hợp tác công - tư cho các dự
án hạ tầng số, trung tâm nghiên cứu; đẩy mạnh thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp
vào Khu công nghệ cao, Khu công nghệ thông tin tập trung và Khu công nghệ số.
Xây dựng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, Quỹ
hỗ trợ đổi mới sáng tạo, Quỹ đầu tư khởi nghiệp để hỗ trợ cho hoạt động khởi
nghiệp, đổi mới sáng tạo, ươm tạo công nghệ, đổi mới, ứng dụng công nghệ và
chuyển đổi số; tạo cơ chế chuyển giao công nghệ; sẵn sàng thử nghiệm các công
nghệ mới, mô hình kinh doanh mới (sandbox) thuộc các lĩnh vực ưu tiên của thành
phố; tạo điều kiện kết nối viện - trường - doanh nghiệp, thúc đẩy nghiên cứu ứng
dụng, chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất, đời sống.
Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; nâng
cao hiệu quả quản trị, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc
phòng và an ninh; khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu
của bộ, ngành, các địa phương để phát triển kinh tế - xã hội; kết nối, khai
thác, chia sẻ hiệu quả dữ liệu giữa các cơ quan; triển khai các sáng kiến mở dữ
liệu để người dân, doanh nghiệp khai thác, tạo giá trị mới, đổi mới sáng tạo.
Triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn đối với một số ngành,
lĩnh vực quan trọng.
5. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng
bộ, hiện đại, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới, phát triển đô thị
và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới
Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông
theo hướng đồng bộ hiện đại, kết nối liên vùng theo định hướng của Nghị quyết số
59-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2020 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển
thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đảm bảo phù hợp định hướng
phát triển của thành phố sau sáp nhập. Thực hiện các cơ chế, chính sách phù hợp
để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế; tăng cường áp dụng các hình
thức ppp, huy động vốn ODA trong đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông. Tập
trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm theo phương
án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hạ tầng - xã hội tại Quy hoạch thành phố
Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tập trung hoàn thành các tuyến đường bộ cao tốc
trong khu vực như: Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc
Liêu; Trà Vinh - Sóc Trăng; mở rộng các tuyến quốc lộ trọng yếu trên địa bàn
như: Quốc lộ 1, Quốc lộ 60, Quốc lộ 61, Quốc lộ 61B, Quốc lộ 61C, Quốc lộ 80,
Quốc lộ 91B; xây dựng đường vành đai, các tuyến tránh đi qua các trung tâm đô
thị; đường bộ ven biển, đường trục liên kết vùng; các tuyến đường tỉnh kết nối
cao tốc, quốc lộ, kết nối các dự án khu đô thị, khu công nghiệp thành phố; nâng
cấp các trục đường nội ô, giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông, nâng tải trọng
các cầu đồng bộ với hệ thống đường.
Phát huy lợi thế hệ thống sông Hậu, sông Cần Thơ,
kênh Xà No, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp,... để phát triển vận tải thủy kết hợp với
logistics. Hoàn thiện và mở rộng Cảng Cái Cui, Cảng Trần Đề (Sóc Trăng) trở
thành cảng cửa ngõ quốc tế của vùng; phát triển các bến cảng tổng hợp và chuyên
dụng gắn với khu, cụm công nghiệp. Nâng cấp luồng tàu biển trọng tải lớn vào
sông Hậu, khai thác hiệu quả cảng nước sâu Trần Đe; nghiên cứu triển khai nạo
vét, cải tạo kênh Mương Khai - Đốc Phủ Hiền kết nối giữa Sông Tiền và Sông Hậu.
Mở rộng nhà ga, đường băng, kho xăng dầu và các dịch vụ liên quan Cảng hàng
không quốc tế Cần Thơ, tăng cường kết nối với các thành phố lớn trong nước và
quốc tế, thúc đẩy du lịch và thương mại. Phát triển hệ thống logistics, xây dựng
các trung tâm logistics gắn với cảng biển, cảng sông và cảng hàng không quốc tế
Cần Thơ, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm chi phí vận tải, tạo tiền đề quan trọng
để hình thành hệ thống logistics đồng bộ liên hoàn với cả nước.
Xây dựng hệ thống giao thông công cộng hiện đại, từng
bước phát triển xe buýt nhanh (BRT) và nghiên cứu tàu điện nhẹ (LRT) tại đô thị
trung tâm và các đô thị vệ tinh. Phát triển hạ tàng giao thông thông minh
(ITS), đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý vận tải và điều hành giao thông.
Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng các khu công nghiệp
(KCN), cụm công nghiệp (CCN) theo quy hoạch, bao gồm cả hạ tầng kỹ thuật và hạ
tầng xã hội; bảo đảm kết nối thuận tiện với quốc lộ và cao tốc. Ưu tiên huy động
vốn ngoài ngân sách, kết hợp ngân sách Nhà nước để đầu tư hạ tầng khu công nghiệp
trọng điểm; áp dụng mô hình quản lý, khai thác KCN, CCN hiện đại. Lồng ghép yêu
cầu bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng và sử
dụng năng lượng tái tạo trong quy hoạch, đầu tư KCN, CCN.
Xây dựng hệ thống thủy lợi đa mục tiêu phù hợp với
phương án phân vùng thủy lợi, quy hoạch phòng, chống thiên tai và quy hoạch thủy
lợi. Củng cố hệ thống thủy lợi bảo đảm kiểm soát lũ, phòng chống hạn mặn và vận
hành linh hoạt để ổn định sản xuất và phòng, chống thiên tai; ưu tiên hệ thống
đê, kè, cống đầu mối, di dời dân cư ra khỏi khu vực có nguy cơ sạt lở.
Thu hút đầu tư vào các cơ sở văn hóa, nhà hát, bảo
tàng; và các trung tâm giải trí hiện đại; tôn tạo, nâng cấp, khai thác hiệu quả
các di tích lịch sử - văn hóa. Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa các cấp, bảo
đảm về quy mô, chất lượng; nâng cấp, hoàn thiện một số thiết chế văn hóa của
Thành phố để đáp ứng được yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội, đồng bộ phát
triển hạ tầng du lịch. Hình thành các tổ hợp thương mại, thể thao, vui chơi giải
trí phục vụ thể thao, dịch vụ và du lịch. Đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
tập luyện thi đấu, đẩy mạnh thu hút nguồn lực xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực
thể thao, các công trình thể thao.
Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị
cho các đơn vị, tổ chức nghiên cứu khoa học, công nghệ bảo đảm đồng bộ, hiện đại.
Tiếp tục xây dựng, hỗ trợ phát triển trung tâm ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh
nghiệp khoa học và công nghệ; nâng cao năng lực các trung tâm ứng dụng, trung
tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, các viện nghiên cứu chuyên ngành.
Nâng cấp, hiện đại hóa thiết bị các bệnh viện, đầu
tư trang thiết bị cho các trung tâm y tế, nhất là các trung tâm y tế chuyên
sâu. Phát triển cụm ngành y tế theo định hướng trở thành trung tâm y tế của
vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Thu hút nguồn lực xã hội hóa đầu tư, hình thành hệ
thống y tế tư nhân chất lượng cao; khuyến khích đầu tư các cơ sở dưỡng lão, các
cơ sở bảo trợ xã hội, nhà ở xã hội.
Phát triển quy mô, mạng lưới các trường mầm non, tiểu
học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đáp ứng chỉ tiêu phát triển giáo dục
của từng cấp học. Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và chất lượng các trường
đại học đế nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu nhân lực của vùng. Mở rộng và
nâng cao chất lượng các trường cao đẳng, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp;
trường dạy nghề; trung tâm giáo dục thường xuyên.
Quản lý xây dựng và đảm bảo chất lượng xây dựng các
công trình viễn thông theo quy định; phát triển hạ tầng viễn thông theo hướng
trở thành hạ tầng số, phục vụ phát triển đô thị thông minh, chuyển đổi số
thương mại điện tử. Thực hiện lộ trình số hóa hạ tầng thiết yếu khác phục vụ đô
thị thông minh, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; phát triển hạ tầng, dịch
vụ bưu chính theo hướng chuyển sang bưu chính số.
Mở rộng và phát triển mới các khu du lịch; đầu tư
phát triển hạ tầng thương mại, xây dựng hệ thống các trung tâm thương mại, siêu
thị, chợ, các cửa hàng tiện lợi; xây dựng chợ đầu mối nông, thủy sản; trung tâm
logistics và trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế cấp vùng. Tăng cường nguồn lực
đầu tư cho xây dựng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường, đặc biệt
là hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các khu đô thị,
khu dân cư tập trung và hạ tầng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh
hoạt, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định.
6. Phát triển mạnh mẽ, toàn diện
văn hóa và con người Cần Thơ
Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số
162/2024/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu
tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035;
cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, dự án thành các chương trình, kế hoạch hành
động phù hợp với điều kiện của thành phố.
Phát triển toàn diện văn hóa, con người Cần Thơ trở
thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, gắn với việc thực hiện tiến bộ,
công bằng xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân, bảo đảm hài hòa giữa phát triển
kinh tế với văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường
Xây dựng môi trường văn hóa, nghệ thuật, thể thao
lành mạnh, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung; nâng cao chất lượng các
hoạt động văn hóa, thể thao cơ sở; đầu tư phát triển hạ tầng thiết chế văn hóa,
thể thao đồng bộ, hiện đại, phục vụ tốt nhu cầu thụ hưởng của Nhân dân.
Xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, con người
Cần Thơ trong thời kỳ mới, gắn với phát huy truyền thống văn minh sông nước,
nghĩa tình, năng động, sáng tạo; xây dựng các chuẩn mực đạo đức, lối sống của
cán bộ, đảng viên và Nhân dân; lan tỏa phong trào ‘Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa”.
Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và hệ thống
chính trị trong xây dựng con người mới Cần Thơ, chú trọng giáo dục truyền thống,
nhân cách, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ; tăng cường giáo dục
văn hóa công vụ, văn hóa ứng xử trong cơ quan, đơn vị, trường học và khu dân
cư.
Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu
quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) giai
đoạn 2026 - 2030, gắn với lồng ghép các chương trình giảm nghèo, an sinh xã hội
và huy động các nguồn lực hợp pháp khác nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế địa
phương, phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS. Ưu tiên đầu tư cho các xã, ấp đặc
biệt khó khăn, tập trung hoàn thiện kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất
và đời sống như giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế, văn hóa. Tiếp tục
thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo trong vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, cải
thiện vệ sinh môi trường; mở rộng tiếp cận tín dụng ưu đãi, hỗ trợ phát triển
sinh kế, đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm; khuyến khích doanh nghiệp tạo
việc làm tại chỗ, đồng thời thúc đẩy đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài như một giải pháp giảm nghèo hiệu quả. Quan tâm phát triển giáo dục, nâng
cao trình độ dân trí, đầu tư nâng cấp trường dân tộc nội trú, thực hiện tốt
chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên DTTS; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe,
đầu tư trang thiết bị cho y tế cơ sở, chăm sóc tốt sức khỏe bà mẹ và trẻ em
vùng DTTS.
Chú trọng bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân
tộc; nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm du lịch gắn với văn hóa, lễ hội,
sinh thái, tâm linh, chợ nổi; hình thành sản phẩm du lịch đặc thù, góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế vùng đồng bào DTTS. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến
pháp luật, phát huy vai trò người có uy tín; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng
công nghệ thông tin phục vụ tuyên truyền bằng tiếng dân tộc; củng cố hệ thống
chính trị cơ sở, phát triển đội ngũ cán bộ là người DTTS đủ năng lực, uy tín;
giữ vững quốc phòng - an ninh, chủ động phòng ngừa, xử lý các vấn đề phức tạp,
không để phát sinh điểm nóng, bảo đảm ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội
và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
7. Tiếp tục đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Kịp thời quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ,
hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột
phá phát triển giáo dục và đào tạo. Đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính
sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo; triển khai chính
sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; điều kiện về đầu tư và hoạt động trong lĩnh
vực giáo dục; chính sách khuyến khích xã hội hóa và đa dạng hóa nguồn lực đầu
tư cho giáo dục và đào tạo; hợp tác và đầu tư với nước ngoài trong giáo dục và
đào tạo. Tranh thủ nguồn lực từ các Quỹ học bổng có nguồn ngân sách Nhà nước và
các nguồn hợp pháp khác; phát huy hiệu quả các quỹ khuyến tài, khuyến học khác
để khuyến khích học tập và phát triển sự nghiệp giáo dục.
Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch để ưu tiên dành
quỹ đất sạch, tập trung giải phóng mặt bằng, giao đất sạch cho các dự án giáo dục
và đào tạo bảo đảm đủ diện tích theo các tiêu chuẩn quy định; ưu tiên bố trí trụ
sở cơ quan Nhà nước dôi dư sau sắp xếp cho các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện
đúng quy định nâng chuẩn cơ sở giáo dục ở tất cả cấp học, quy định diện tích tối
thiểu, quy chuẩn, tiêu chuẩn để từng bước tiệm cận khu vực, quốc tế.
Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo
đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa học đường trong các nhà trường; xây dựng
và triển khai hiệu quả các mô hình giáo dục đạo đức, lối sống, các thiết chế,
mô hình văn hóa học đường góp phần giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình
thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới.
Triển khai thực hiện Chương trình giáo dục mầm non
mới, tăng cường phương pháp giáo dục thực hành, trải nghiệm STEM/STEAM, không gian
vui chơi, môi trường rèn luyện thể chất, kỹ năng phát triển toàn diện cho trẻ
em mầm non; chuẩn bị đủ điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em
từ 3 đến 5 tuổi; bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục
tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhất là vùng đồng
bào dân tộc thiểu số.
Rà soát, đề xuất hoàn thiện Chương trình giáo dục
phổ thông, tăng thời lượng các môn khoa học, công nghệ, tin học, nghệ thuật;
triển khai việc cung cấp một bộ sách giáo khoa thống nhất toàn quốc khi có hướng
dẫn thực hiện từ năm học 2026 - 2027; thực hiện lộ trình đến năm 2030 cung cấp
miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh. Triển khai thực hiện quy định về tổ
chức và hoạt động của mô hình trường chuyên, trường năng khiếu để tập trung ươm
tạo nhân tài quốc gia, mở rộng các lớp chuyên khối STEM/STEAM. Tổ chức thực hiện
hiệu quả việc tăng cường dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở
thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; dạy ngôn ngữ của các nước láng giềng
và giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh tại các đơn vị có điều kiện.
Đa dạng hình thức triển khai hướng nghiệp và phân
luồng trong giáo dục theo từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội; tự chủ của các cơ sở đào tạo, trong đó bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ,
toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, không phụ
thuộc vào mức độ tự chủ tài chính; cơ chế tự chủ đặc thù cho một số cơ sở đào tạo
trọng điểm quốc gia; quy định về giảng viên đồng cơ hữu cho những người giỏi
đang công tác tại các đơn vị sự nghiệp công lập; quy định về cơ chế hợp tác
“Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp” trong giáo dục và đào tạo, khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thực hiện chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng
mạnh mõ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; hoàn thiện cơ
sở dữ liệu toàn ngành phục vụ cho chuyển đổi số và phát triển nền tảng giáo dục
quốc gia ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát. Triển khai các ứng dụng và
công cụ giáo dục số thông minh như sách giáo khoa thông minh, giáo trình thông
minh, kho học liệu dùng chung, nền tảng học tập trực tuyến mở đại trà, phòng
thí nghiệm và thực hành ảo, hệ thống kiểm tra, đánh giá trực tuyến hiện đại hướng
tới lớp học thông minh, trường học thông minh. Tập trung xây dựng đội ngũ nhà
giáo, triển khai các chính sách về tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nhà
giáo, cán bộ quản lý giáo dục và các chính sách tiền lương, phụ cấp, chính sách
ưu đãi đặc thù, vượt trội cho nhà giáo. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế
sâu rộng trong giáo dục và đào tạo.
Cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột
phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. sắp xếp, tổ chức lại các cơ
sở giáo dục nghề nghiệp bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, tăng về quy mô, cơ cấu và hợp
lý về ngành, nghề, trình độ đào tạo, chuẩn hóa, hiện đại hóa đáp ứng nhu cầu
nhân lực của thị trường lao động.
Hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột
phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới
sáng tạo. Thực hiện đổi mới chương trình đào tạo đại học, sau đại học theo chuẩn
quốc tế; tích hợp nội dung về phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, tinh thần
doanh nhân và khởi nghiệp. Có các cơ chế, chính sách đặc biệt để hỗ trợ mở rộng
triển khai các chương trình đào tạo tài năng, đào tạo sau đại học gắn kết với
nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo trong các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật
và công nghệ, phục vụ phát triển các công nghệ chiến lược, công nghệ ưu tiên của
công nghiệp 4.0, các dự án trọng điểm quốc gia. Gắn kết các hoạt động đào tạo với
nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc
gia.
8. Quản lý phát triển xã hội bền
vững, đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội
Tổ chức thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09
tháng 9 năm 2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; tạo bước chuyển biến rõ rệt trong công
tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân trong kỷ nguyên mới trên địa
bàn thành phố. Tập trung xây dựng, hoàn thiện, nâng cao năng lực y tế dự phòng,
hệ thống y tế cơ sở bảo đảm phòng bệnh từ sớm, từ xa, từ cơ sở, sẵn sàng ứng
phó với các tình huống khẩn cấp về y tế công cộng. Đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực y tế chất lượng, cân đối, đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ và sự hài lòng của người dân. Huy động và sử dụng hiệu quả mọi
nguồn lực để nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe
Nhân dân; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số y tế; cải
cách mạnh mẽ tài chính y tế, bảo đảm hiệu quả, bền vững của chính sách bảo hiểm
y tế.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm bền
vững, tăng thu nhập cho người lao động, nhất là ở khu vực nông thôn và vùng đồng
bào dân tộc thiểu số.
Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giảm
nghèo đa chiều, bền vững, hỗ trợ kịp thời các nhóm yếu thế, người có hoàn cảnh
khó khăn; nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở,
việc làm, nước sạch và thông tin. Chăm lo tốt cho người có công với cách mạng,
các chính sách trợ giúp thường xuyên và đột xuất đối với các đối tượng yếu thế
trong xã hội.
Đẩy mạnh công tác bình đẳng giới, nâng cao vị thế
phụ nữ trong đời sống xã hội, gia đình và trong lĩnh vực kinh tế, chính trị;
tăng cường bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; phòng, chống bạo lực gia đình, bạo
lực giới và xâm hại trẻ em.
Đổi mới phương thức quản lý xã hội theo hướng hiện
đại, minh bạch, ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư,
an sinh xã hội, lao động, việc làm; tăng cường dự báo, phòng ngừa, xử lý các vấn
đề xã hội phát sinh.
9. Quản lý, sử dụng hiệu quả
tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương,
chính sách của Trung ương, của thành phố về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến
đổi khí hậu; chủ động xây dựng kế hoạch, quy hoạch, huy động, sử dụng nguồn vốn
đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng giao thông, phòng, chống và khắc phục sạt
lở bờ sông, bờ biển và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt công tác
thông tin, tuyên truyền và bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức cho người dân
và các tổ chức, doanh nghiệp về bảo vệ môi trường. Tích cực hợp tác với các địa
phương trong nước và quốc tế về bảo vệ môi trường. Chú trọng nâng cao năng lực
quản lý nhà nước về môi trường. Thường xuyên kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm
các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; nâng cao năng lực quản
lý khai thác tài nguyên, khoáng sản.
10. Tăng cường liên kết vùng,
hợp tác phát triển
Tăng cường công tác huy động và phân bổ nguồn lực,
ngân sách dựa trên các ưu tiên chiến lược về hạ tầng giao thông, cảng biển, sân
bay, logistics, năng lượng tái tạo, ứng phó biến đổi khí hậu và các công trình,
dự án trọng điểm khác mang tính liên vùng trên cơ sở Nghị quyết số 13-NQ/TW
ngày 02 tháng 4 năm 2022 của Bộ Chính trị và Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu
Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Nâng cao vai trò và tính pháp lý của Hội đồng điều
phối vùng, thiết lập cơ chế cam kết trách nhiệm và hành động rõ ràng từng địa
phương, đảm bảo liên kết vùng hiệu quả; đảm bảo các quyết định về kế hoạch,
phân bổ nguồn lực và đầu tư cơ sở hạ tầng liên vùng minh bạch, khả thi.
Thực hiện các thỏa thuận hợp tác với trường đại học,
viện nghiên cứu triển khai nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong phát
triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành, lĩnh vực của thành phố. Hỗ trợ
triển khai các dự án thí điểm đổi mới sáng tạo, mô hình sản xuất sạch, công
nghiệp công nghệ cao tại các tỉnh trong vùng, tạo hiệu ứng lan tỏa ra toàn
vùng. Khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác với viện, trường trong đào tạo nhân
lực, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thành lập các mạng lưới liên kết vùng giữa địa phương - doanh nghiệp - viện,
trường, nhằm chia sẻ dữ liệu, thông tin thị trường, kết quả nghiên cứu và dự
báo nhu cầu phát triển.
11. Tăng cường quốc phòng, an
ninh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại
Lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm các
nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về
nhiệm vụ công tác quốc phòng, quân sự địa phương. Thực hiện tốt nhiệm vụ kết hợp
phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; chỉ đạo
xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an
ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, trên cơ sở xây dựng thế trận lòng dân
vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Huy động và phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia
phòng chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự ngay tại cơ sở. Kịp thời phát hiện,
chủ động xử lý có hiệu quả các vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự và chủ động ứng
phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Duy trì, nâng cao hiệu quả phối
hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng Công an với Quân đội và các ban, ngành,
tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo
đảm trật tự, an toàn xã hội.
12. Đẩy mạnh triển khai đồng bộ,
hiệu quả hoạt động đối ngoại
Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; kết nối, hợp tác với các đối tác
nước ngoài có thể mạnh về phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, dịch vụ thương mại,
du lịch, logistics, công nghiệp chế biến, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao,
giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu, khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao và
các ngành kinh tế mới... Thu hút viện trợ phát triển từ các đối tác phát triển,
các quỹ đầu tư, các tổ chức và tập đoàn kinh tế, tài chính quốc tế tiềm năng để
triển khai thực hiện các dự án, nhất là dự án lớn thuộc lĩnh vực ưu tiên của
thành phố. Triển khai phong phú các hoạt động ngoại giao văn hóa, đa phương hóa
và đa dạng hóa đoàn kết, hữu nghị, hợp tác giữa Nhân dân Cần Thơ và Nhân dân
các nước trên thế giới.
Điều 3. Tổ chức thực hiện
1. Hội đồng nhân dân giao Ủy ban nhân dân thành phố,
Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Thi hành án dân sự thành phố theo chức
năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết;
phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố vận động quần chúng
nhân dân thực hiện tốt nội dung Nghị quyết.
2. Hội đồng nhân dân giao Thường trực Hội đồng nhân
dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội
đồng nhân dân thành phố giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân thành phố
Cần Thơ Khóa X, Kỳ họp thứ Bảy thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 12
năm 2025.
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chính phủ;
- Bộ Tài chính;
- Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ1;
- Thường trực Thành ủy;
- Thường trực HĐND thành phố;
- UBND thành phố;
- UBMTTQVN thành phố;
- Đại biểu HĐND thành phố;
- Sở, ban, ngành, đoàn thể thành phố;
- HĐND, UBND xã, phường;
- TT. Điều hành đô thị thông minh;
- TT. Lưu trữ lịch sử;
- Báo và Phát thanh, Truyền hình Cần Thơ;
- Lưu: VT.HV
|
CHỦ TỊCH
Đồng Văn Thanh
|