|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 009/KH-UBND
|
Đắk Lắk, ngày 28
tháng 7 năm 2025
|
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH NĂM
2026 CỦA TỈNH ĐẮK LẮK
Kính
gửi: Bộ Tài chính
Thực hiện Chỉ thị số 14/CT-TTg
ngày 28/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 và Công văn số 8597/BTC-TH ngày
18/6/2025 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn đánh giá thực hiện Kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội năm 2025, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
năm 2026;
Căn cứ Nghị quyết số
025/NQ-UBND ngày 26/7/2025 của UBND tỉnh về việc thông qua nội dung trình xin ý
kiến thành viên UBND tỉnh, UBND tỉnh Đắk Lắk báo cáo xây dựng Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh năm 2026 của tỉnh, cụ thể như
sau:
PHẦN THỨ
NHẤT
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ
HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM VÀ ƯỚC THỰC HIỆN CẢ NĂM 2025
A. TÌNH HÌNH
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2025
Từ đầu năm 2025 đến nay, tình
hình thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, cạnh tranh thương mại,
an ninh địa chính trị, xung đột vũ trang tại Ucraina, Israel - Iran, căng thẳng
giữa Thái Lan - Campuchia; chính sách thuế quan của Mỹ … đã ảnh hưởng sâu sắc đến
môi trường đầu tư, kinh doanh toàn cầu và làm suy giảm triển vọng tăng trưởng của
nhiều nền kinh tế. Ở trong nước, bên cạnh việc phát triển kinh tế - xã hội thì
cả hệ thống chính trị tập trung kiện toàn, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy và
xây dựng chính quyền 02 cấp.
Về phía tỉnh Đắk Lắk, các cấp,
các ngành, địa phương đã nỗ lực hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, bảo đảm
tiến độ sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính, đưa 102 xã, phường đi vào hoạt
động; giải quyết từng bước các điểm nghẽn, hạn chế, bất cập nội tại và chủ động
nghiên cứu, triển khai các phương án, giải pháp ứng phó với biến động từ bên
ngoài, quyết tâm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8% trở
lên, tạo nền tảng vững chắc để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số trong giai đoạn
2026-2030.
Kết quả thực hiện trên các
ngành, lĩnh vực cụ thể như sau:
I. KẾT QUẢ
THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
(1) Tăng trưởng kinh tế 6 tháng
đầu năm ước đạt 7,14% (KH năm đạt 8% trở lên). Trong đó:
- Nông, lâm nghiệp và thủy
sản tăng 5,16%.
- Công nghiệp - xây dựng ước
tăng 10,12%, riêng công nghiệp tăng 11,5%.
- Dịch vụ tăng 7,59%.
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản
phẩm tăng 0,56%.
* Cơ cấu kinh tế (theo giá
hiện hành): Nông, lâm nghiệp thủy sản chiếm 29,26%; Công nghiệp - Xây dựng
chiếm 20,47%; Dịch vụ chiếm 45,74%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm
4,53%.
(2) Huy động vốn đầu tư toàn xã
hội ước đạt 28.643 tỷ đồng, tăng 9,34%, bằng 38,9% KH năm 2025 (KH: 73.670 tỷ
đồng, tăng 25,82%).
(3) Tổng kim ngạch xuất khẩu ước
đạt 11.519,3 triệu USD, tăng 28,7%, bằng 68% KH năm 2025 (KH: 2.235 triệu
USD, tăng 2,24%).
(4) Tổng mức bán lẻ hàng hoá và
doanh thu dịch vụ ước đạt 92.742 tỷ đồng, tăng 16%, bằng 51% KH năm 2025 (KH:
182.281 tỷ đồng, tăng 9,37%).
(5) Tổng thu ngân sách nhà nước
trên địa bàn ước đạt 8.718 tỷ đồng, tăng 32%, bằng 65% dự toán Trung ương và bằng
53% dự toán HĐND tỉnh giao (HĐND tỉnh: 16.310 tỷ đồng; dự toán TW: 13.398 tỷ
đồng).
(6) Phát triển doanh nghiệp
(DN): Có 1.476 DN thành lập mới, tăng 53,6%, bằng 40% KH năm 2025 (KH: 3.688
DN, tăng 90,5%). Lũy kế đến 30/6/2025, trên địa bàn tỉnh có khoảng 18.761
doanh nghiệp còn đăng ký, hoạt động (trong đó: Có 17.807 DN và 954 chi nhánh của
DN ngoài tỉnh đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh); có 46 HTX thành lập mới, đạt
61,3% KH (KH: 75 HTX).
(7) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh dưỡng (cân nặng theo độ tuổi) giảm còn 13,6% (KH đến cuối năm 2025
đạt 13,68%). Số giường bệnh trên một vạn dân (không tính giường của trạm y
tế xã) ước đạt 29,7 giường/1 vạn dân (KH đến cuối năm 2025 đạt 29,8 giường/1
vạn dân). Số bác sỹ trên một vạn dân ước đạt 8,6 bác sỹ/1 vạn dân (KH đến
cuối năm 2025 đạt 8,6 bác sỹ/1 vạn dân). Tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm Y tế ước đạt
92,62% (KH đến cuối năm 2025 đạt 95%).
(8) Tỷ lệ chất thải rắn đô thị
được thu gom và xử lý ước đạt 91,85% (KH đến cuối năm 2025 đạt 92%). Tỷ
lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt
tiêu chuẩn môi trường ước đạt 38,46% (tương ứng 10/26 khu, cụm công nghiệp).
(9) Quốc phòng, an ninh: Tuyển
quân đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch. Tỷ lệ điều tra, khám phá tội phạm xâm phạm trật
tự xã hội đạt 80,14% (KH: 85%), trong đó án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm
trọng được điều tra, làm rõ đạt 88,41% (KH: 90%). An ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản được giữ vững.
Các chỉ tiêu sẽ báo cáo,
đánh giá vào cuối năm 2025, gồm: (1) GRDP bình quân đầu người, (2) phát triển
cơ sở hạ tầng, (3) mức giảm tỷ lệ hộ nghèo, (4) lao động, việc làm, (5) Tỷ lệ
trường học đạt chuẩn quốc gia; (6) số xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2025
và một số chỉ tiêu thành phần như: Tỷ lệ đảm bảo tưới cho cây trồng dùng nước,
Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, Tỷ lệ che phủ rừng. Riêng
chỉ tiêu cải cách hành chính (PAR Index) sẽ đánh giá sau khi Bộ Nội vụ công bố
kết quả chấm điểm.
II. KẾT QUẢ
THỰC HIỆN TRÊN TỪNG NGÀNH, LĨNH VỰC
1. Về lĩnh
vực kinh tế
1.1. Sản
xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn: Nhìn chung,
sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn duy trì phát triển ổn định. Tổng giá trị tăng
thêm của khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 6 tháng đầu năm ước đạt
11.558 tỷ đồng, tăng 5,16% so với cùng kỳ năm 2024, bằng 35,3% KH năm.
- Về trồng trọt: Gieo trồng
Vụ Đông - Xuân năm 2024 - 2025 vượt kế hoạch đề ra với tổng diện tích 98.505
ha/91.600 ha, đạt 107,54% kế hoạch, tăng 2.700 ha so với cùng kỳ năm vụ Đông
xuân 2023-2024, đến nay đã thu hoạch đạt 100% diện tích gieo trồng. Tổng sản lượng
lương thực có hạt vụ Đông xuân 2024-2025 đạt 606.771 tấn, tăng 6.973 tấn so với
vụ Đông xuân 2023-2024. Vụ Hè thu năm 2025 đến nay đã gieo trồng được
278.275ha/296.771ha, đạt 93,77% kế hoạch. Tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh
hiện có 384.169 ha (tăng 815 ha, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm 2024)[1]. Sản lượng một số sản phẩm nông sản
chủ yếu như cao su mủ khô, hồ tiêu, mía cây,... tăng cao so với cùng kỳ.
- Về chăn nuôi, thủy sản: Sản
xuất chăn nuôi của tỉnh được duy trì tương đối ổn định. Tổng số lượng đàn vật
nuôi chính toàn tỉnh đến nay đạt khoảng 23.635 nghìn con (tăng khoảng 740 nghìn
con so với năm 2024); sản lượng thịt hơi ước đạt 386.470 tấn (đạt 100,70% KH);
Sản lượng trứng các loại ước đạt 825 triệu quả (đạt 101,49% KH). Công tác phòng
chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được theo dõi chặt chẽ, mặc dù bệnh Dịch
tả lợn Châu Phi vẫn còn xảy ra nhưng không có tình trạng bùng phát trên diện rộng.
Công tác nuôi trồng thuỷ sản đã được quan tâm phát triển mạnh mẽ. Tổng sản lượng
thủy sản đạt 63.950 tấn, trong đó: Sản lượng nuôi trồng đạt 16.670 tấn, sản lượng
khai thác đạt 47.280 tấn.
- Lâm nghiệp: Công tác
trồng rừng và phát triển rừng được quan tâm chỉ đạo ngay từ đầu năm. Đến nay,
toàn tỉnh đã trồng được 1.207,4 ha rừng sản xuất (trồng mới 504,53 ha; trồng lại
sau khai thác 702,87 ha); 1.017.636 cây phân tán và 1.630,48 ha khoanh nuôi xúc
tiến tái sinh tự nhiên. Công tác quản lý, bảo vệ, PCCC rừng tiếp tục được các
ngành chức năng, các địa phương và các chủ rừng chú trọng thực hiện. Tuy nhiên,
tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép vẫn còn xảy ra, đến nay xảy
ra 617 vụ vi phạm về lâm nghiệp.
- Công tác thủy lợi, phòng
chống thiên tai: Hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được đầu
tư nâng cấp và từng bước hiện đại hóa, phục vụ ngày càng tốt hơn cho sản xuất,
đời sống dân sinh, phòng chống thiên tai. Đến nay, toàn tỉnh có 1.207 công
trình thủy lợi [2]. Đến nay đảm bảo
chủ động tưới cho 83,2% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới [3]. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 trận
thiên tai, làm hư hỏng 3 nhà dân, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp; sạt lở tại
một số vị trí bờ sông. Ước tính giá trị thiệt hại khoảng 59 tỷ đồng.
- Chương trình xây dựng nông
thôn mới: Các ngành và các địa phương tiếp tục tập trung triển khai Chương
trình xây dựng nông thôn mới. Trước sắp xếp, tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới
(cộng gộp của 02 tỉnh trước sắp xếp) là 145/231 xã, đạt tỷ lệ 62,77%). Đã công
nhận được 764 sản phẩm OCOP (gồm: 02 sản phẩm đạt 5 sao, 50 sản phẩm đạt 4 sao
và 656 sản phẩm đạt 3 sao).
1.2. Về
lĩnh vực công nghiệp:
Hoạt động sản xuất công nghiệp
duy trì đà phát triển và đạt mức tăng trưởng khá. Tổng giá trị tăng thêm của
ngành công nghiệp ước đạt 6.584 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2024.
Chỉ số sản xuất công nghiệp ước
tăng 10,02%. Các nhà máy sản xuất, chế biến công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy
trì hoạt động sản xuất ổn định. Công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò quan
trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp của tỉnh, duy trì tốc độ tăng
trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, đa số sản lượng sản phẩm chủ yếu đều tăng,
trong đó có một số sản phẩm có tỷ trọng lớn 6 tháng đầu năm như: Nhân hạt điều
xuất khẩu tăng 15,1%; tinh bột sắn tăng 7,32%; thủy, hải sản chế biến tăng
29,9%; cà phê bột, cà phê hòa tan tăng 10,9%; linh kiện điện tử tăng 17,5%... Đối
với lĩnh vực luyện cán thép sản xuất tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2024. Các
nhà máy thủy điện, điện năng lượng tái tạo trên địa bàn tỉnh duy trì hoạt động ổn
định; sản lượng điện sản xuất tăng 13,1% so với cùng kỳ. Sản lượng điện thương
phẩm duy trì ổn định, mạng lưới điện tiếp tục có sự phát triển, ước thực hiện
tăng 3,7%. Công nghiệp khai khoáng 6 tháng đầu năm cơ bản duy trì ở mức tăng
trưởng, tiêu thụ ổn định, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
1.3. Về
đầu tư xây dựng
Tổng huy động vốn đầu tư toàn
xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 28.644 tỷ đồng, tăng 9,34% so với cùng kỳ năm 2024.
Trong đó: Vốn Nhà nước trên địa bàn 8.928 tỷ đồng, tăng 3%; vốn đầu tư của dân
cư và tư nhân là 19.185 tỷ đồng, tăng 15,5%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
531 tỷ đồng, giảm 43%.
Ngay từ đầu năm, tỉnh đã tập
trung chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công để tạo
đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tổng kế hoạch đầu tư công năm 2025 tỉnh Đắk
Lắk (số cộng gộp nguyên trạng Kế hoạch cũ của 2 tỉnh) đã giao là 14.840 tỷ đồng
(ngân sách Trung ương: 7.639 tỷ đồng; ngân sách địa phương: 7.201 tỷ đồng). Đến
ngày 30/6/2025, đã phân bổ chi tiết đến từng danh mục dự án là 14.036 tỷ đồng/14.840
tỷ đồng, đạt 94,6%; giải ngân đạt 30,4% KH, trong đó: Ngân sách Trung ương đạt
28,1% kế hoạch; nguồn vốn ngân sách địa phương đạt 33,9% kế hoạch.
Nhiều công trình, dự án trọng
điểm trên địa bàn được quan tâm đầu tư xây dựng như: Dự án Cao tốc Khánh Hòa -
Buôn Ma Thuột [4]; Đối với Dự án
xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025,
đoạn qua địa bàn tỉnh Phú Yên [5];
Dự án Cải tạo, nâng cấp tỉnh lộ 1 đoạn từ cầu Buôn Ky, thành phố Buôn Ma Thuột
đến Km 49+00 [6]; Dự án Tuyến đường
bộ ven biển tỉnh Phú Yên, đoạn kết nối huyện Tuy An - thành phố Tuy Hoà (giai
đoạn 1) [7]; Tuyến đường bộ ven biển
đoạn phía bắc cầu An Hải [8],...
Công tác xúc tiến đầu tư, hỗ trợ
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, nhà
đầu tư thực hiện thủ tục đầu tư, triển khai dự án và sản xuất, kinh doanh trên
địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Trong 6 tháng đầu năm,
UBND tỉnh đã phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư cho 27 dự án với tổng số vốn
đầu tư khoảng 15.510 tỷ đồng, trong đó có một số dự án quy mô lớn, tạo động lực
phát triển như: Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng: Khu công
nghiệp Hòa Tâm - Giai đoạn 1, Khu công nghiệp công nghệ cao Phú Yên, Khu công
nghiệp Phú Xuân; Nhà máy cà phê Trung Nguyên Legend lớn nhất Đông Nam Á, Tổ hợp
Trung tâm thương mại, khách sạn, nhà ở Eco Palace,... Bên cạnh đó, số lượng nhà
đầu tư đến tìm hiểu về môi trường đầu tư tại tỉnh ngày càng nhiều, trong đó có
01 đoàn nhà đầu tư Hàn Quốc khảo sát, tìm hiểu về việc đầu tư dự án sân golf tại
tỉnh. Đồng thời, đã tổ chức nhiều đoàn xúc tiến đầu tư tại các khu vực lớn, tiềm
năng, như: UAE, Châu Âu (Bỉ, Séc, Thụy Sĩ); tích cực hỗ trợ các nhà đầu tư tiếp
cận nghiên cứu đầu tư trên địa bàn tỉnh như: Tập đoàn Hòa Phát, Tập đoàn
Becamex,...
Bên cạnh đó, tỉnh cũng quan
tâm đến công tác vận động các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Vừa
qua, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 27/5/2025 phê duyệt
đề xuất Dự án Phát triển đô thị khu vực phía Đông và dọc hành lang suối Ea Nao
- Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột. Hiện UBND tỉnh đang giao các đơn vị tham
mưu, triển khai các thủ tục tiếp theo và tiếp tục thu hút, triển khai thực hiện
các thủ tục pháp lý liên quan đối với 05 dự án đang vận động [9]. Tiếp tục phối hợp, tham mưu kịp thời tháo gỡ những khó
khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho chương trình, dự án ODA triển khai thực hiện
các dự án và giải ngân vốn ODA đúng tiến độ, kế hoạch năm 2025.
1.4. Về
thương mại - dịch vụ:
- Về thương mại: Tổng mức
lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt 92.742 tỷ đồng, tăng 16 %
so với cùng kỳ, đạt 51% KH (KH: 182.281 tỷ đồng, tăng 9,37%). Nhìn
chung, tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định, không xảy ra
tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá đột biến. Doanh thu từ hoạt động bán lẻ và
ngành dịch vụ duy trì ở mức tăng trưởng; nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người
dân tăng cao và thu hút lượng lớn khách du lịch đến với địa phương trong kỳ nghỉ
lễ lớn. Thương mại điện tử tiếp tục phát triển mạnh, trở thành kênh phân phối
quan trọng, góp phần phát triển chuỗi cung ứng và lưu thông hàng hóa, tạo động
lực phát triển kinh tế của tỉnh.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh
đạt 1.519,3 triệu USD, đạt 68% kế hoạch, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2024.
Trong kỳ báo cáo, trị giá các mặt hàng nông sản như cà phê, tiêu tăng mạnh do
nguồn cung toàn cầu giảm và nhu cầu tăng mạnh ở các thị trường lớn như Trung Quốc,
Hoa Kỳ..... Đồng thời, trước thông tin Hoa Kỳ áp thuế đối ứng lên các quốc gia,
nhằm tránh ảnh hưởng của thuế đối ứng, các đơn hàng nhập khẩu của các đối tác ở
các quốc gia khác tăng mạnh, các doanh nhiệp xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đã đẩy
mạnh xuất khẩu một lượng lớn hàng hóa.
Tổng kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh
đạt 509 triệu USD, đạt 66,4% kế hoạch, tăng 50,8% so với cùng kỳ năm 2024.
- Về dịch vụ:
Dịch vụ du lịch: Hoạt động
xúc tiến du lịch, nâng cao các sản phẩm du lịch được tỉnh chú trọng triển khai
thực hiện, thu hút lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước đến với tỉnh và
thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển. Tổng số khách du lịch đến tỉnh đạt 3,9
triệu lượt khách, tăng 42% so với cùng kỳ; Tổng thu từ du lịch toàn tỉnh đạt
6.965 tỷ đồng, tăng 59%.
Về dịch vụ vận tải: Các
doanh nghiệp vận tải tiếp tục nâng cao năng lực vận chuyển, chất lượng dịch vụ,
đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân trên địa bàn. Tổng
doanh thu ngành vận tải ước đạt 4.730 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ.
Hoạt động ngân hàng: Đến
hết tháng 6/2025, tổng nguồn vốn huy động đạt 153.974 tỷ đồng, tăng 8,6% so với
đầu năm 2025; tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn đạt 242.508 tỷ đồng, tăng 7,9% so
với đầu năm 2025; nợ xấu chiếm 0,95% tổng dư nợ cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng
Chính sách Xã hội tỉnh đã quan tâm triển khai nhiều chương trình tín dụng (chủ
yếu tập trung cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; cho vay giải
quyết việc làm; cho vay nước sạch vệ sinh môi trường; cho vay xuất khẩu lao động,...),
tín dụng tại Ngân hàng Chính sách Xã hội cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn của các
đối tượng chính sách, có hoàn cảnh khó khăn, góp phần đảm bảo an sinh xã hội tại
địa phương. Đến hết tháng 6/2025, dư nợ tại Ngân hàng Chính sách xã hội đạt
13.731 tỷ đồng với 332.698 lượt khách hàng còn dư nợ.
1.5. Về
thu, chi ngân sách nhà nước:
a) Thu ngân sách: Ngay từ
đầu năm, UBND tỉnh đã triển khai đầy đủ các chính sách hỗ trợ về thuế Trung
ương đã ban hành trong thời gian qua, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ người
dân, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các TTHC về thuế, đồng thời chỉ đạo
các cơ quan, đơn vị thường xuyên rà soát các nguồn thu, tăng cường các biện
pháp chống thất thu thuế.
Tổng thu ngân sách nhà nước
trên địa bàn đạt 8.718 tỷ đồng, tăng 32,02 % so với cùng kỳ năm 2024, bằng
65,07% dự toán Trung ương và bằng 53,45% dự toán HĐND tỉnh giao [10] (KH năm 2025: HĐND tỉnh giao
16.310 tỷ đồng; dự toán TW giao 13.398 tỷ đồng). Trong đó:
- Thu thuế, phí đạt 5.347 tỷ đồng,
tăng 17,43% so với cùng kỳ năm 2024 và đạt 60,98% dự toán TW giao, đạt 59,65% dự
toán HĐND tỉnh giao.
- Thu biện pháp tài chính đạt
2.998 tỷ đồng, tăng 72,46% so với cùng kỳ năm 2024 và bằng 72,42% dự toán TW
giao, 43,93% dự toán HĐND tỉnh giao; trong đó, thu tiền sử dụng đất đạt 2.588 tỷ
đồng, đạt 40,3% KH HĐND tỉnh giao.
b) Tổng chi ngân sách địa
phương thực hiện 22.610 tỷ đồng, tăng 35,58% so cùng kỳ năm 2024, bằng 57,07% dự
toán TW giao và 55,09% dự toán HĐND tỉnh giao[11]. Trong đó tổng chi cân đối ngân sách địa phương thực hiện
17.714 tỷ đồng, đạt 53,4% KH (KH: 33.146 tỷ đồng), gồm: Chi đầu tư phát triển
4.398 tỷ đồng, đạt 65% KH (KH: 6.766 tỷ đồng), Chi thường xuyên 13.316 tỷ đồng,
đạt 52% KH (KH: 25.608 tỷ đồng).
1.6. Về
hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp, kinh tế tập thể:
- Về hỗ trợ, phát triển
doanh nghiệp (DN): UBND tỉnh đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch triển
khai các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp
phát triển. Tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch và triển khai các nhiệm vụ,
giải pháp tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư
nhân.
Số DN thành lập mới trên địa
bàn tỉnh tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trong 6 tháng đầu năm, thành lập mới
1.476 doanh nghiệp, tăng 53% so với cùng kỳ, đạt 40% KH (KH: 3.688 DN).
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, số lượng DN giải thể, tạm
ngừng vẫn tiếp tục gia tăng, có 173 DN giải thể và 1.046 DN tạm ngừng kinh
doanh, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế đến nay, số doanh nghiệp còn
hoạt động là 18.761 đơn vị (gồm 17.807 DN và 954 chi nhánh của doanh nghiệp
ngoài tỉnh).
- Về phát triển kinh tế tập
thể, HTX: Các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ HTX năm 2025 được quan tâm triển
khai thực hiện [12]. Thành lập mới
46 HTX, đạt 61,3% KH (KH: 75 HTX). Đến nay, toàn tỉnh có 918 HTX đang hoạt
động.
1.7. Về
công tác quy hoạch và quản lý đất đai, tài nguyên - môi trường:
Công tác quản lý nhà nước về
quy hoạch và quản lý đất đai, tài nguyên - môi trường tiếp tục được tăng cường
thực hiện. UBND tỉnh tiếp tục tập trung xây dựng, ban hành các văn bản quy định
chi tiết thi hành Luật Đất đai thuộc thẩm quyền của địa phương; trình HĐND tỉnh
thông qua Danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện
dự án đầu tư có sử dụng đất, làm cơ sở thu hút đầu tư theo quy định. Trong 6
tháng đầu năm, UBND tỉnh đã điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của
22/22 đơn vị hành chính cấp huyện; phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2025 đối
với 24/24 huyện, thị xã, thành phố. Tiếp tục tham mưu xử lý các nội dung liên
quan đến phương án sử dụng đất của các Công ty nông, lâm nghiệp, phương án sử dụng
đất đối với diện tích đất có nguồn gốc thu hồi của các nông, lâm trường bàn
giao cho địa phương quản lý. Ban hành Quyết định điều chỉnh bổ sung bảng giá
các loại đất trên địa bàn tỉnh để thực hiện hết 31/12/2025; đề xuất các vị trí
bãi đổ thải tạm thời....để phục vụ công tác thi công cao tốc.
Công tác quản lý nhà nước về
quy hoạch xây dựng được quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Trong 6 tháng đầu năm,
UBND tỉnh đã phê duyệt 02 đồ án quy hoạch chung đô thị gồm Quy hoạch chung đô
thị Chí Thạnh và vùng phụ cận đến năm 2035, Điều chỉnh Quy hoạch chung đô thị
thị xã Sông Cầu đến năm 2045; và 04 đồ án điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung đô
thị, trong đó bao gồm Điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chung thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk đến năm 2025. UBND tỉnh chỉ đạo tạm dừng một số nhiệm vụ liên quan
công tác quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và Quy chế quản lý kiến trúc đô
thị trong thời gian thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp. Một
số đồ án quy hoạch xây dựng có yêu cầu cần thiết, cấp bách cho công tác quản
lý, đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội, vẫn tiếp tục thực hiện theo kế hoạch.
1.8.
Công tác đối ngoại:
Tỉnh đã ký mới thỏa thuận hợp
tác với tỉnh Attapeu, Salavan, Sekong (Lào); tổ chức đón tiếp chu đáo, trọng thị
các đoàn địa phương nước ngoài đến thăm và chúc Tết lãnh đạo tỉnh nhân dịp Tết
Nguyên đán năm 2025, 28 đoàn nước ngoài đến tham dự các hoạt động trong khuôn
khổ Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần 9 năm 2025 và ký Bản ghi nhớ hợp tác giai
đoạn 2025 - 2030, đoàn chính quyền thành phố Nevers (Pháp) đến thăm và làm việc
tại tỉnh trong khuôn khổ Bản ghi nhớ hợp tác giữa hai địa phương; tiếp tục triển
khai hợp tác đưa lao động đi làm việc thời vụ tại các địa phương Hàn Quốc[13]; triển khai nhiều hoạt động
giao lưu văn hóa, kết nối doanh nghiệp với địa phương các nước như: Hàn Quốc,
Campuchia, Lào; hỗ trợ cộng đồng người Việt tại tỉnh Mondulkiri (Campuchia) và
tỉnh Champask (Lào); tổ chức giao lưu văn hóa với Liên đoàn nghệ thuật Chungbuk
- Hàn Quốc; phối hợp với Tổng
Lãnh sự quán Ấn Độ tại TP. HCM tổ chức thành công Tuần phim Ấn Độ. Đăng cai tổ
chức Giải bóng chuyền bãi biển nữ châu Á năm 2025 - Cloud Gate Cup; tăng cường
hợp tác với các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài; tiếp tục quảng bá địa phương
thông qua các cơ quan báo chí, hãng phim nước ngoài; phối hợp chặt chẽ với Ủy
ban biên giới quốc gia và các lực lượng liên quan tại tỉnh triển khai công tác
biên giới, phân giới cắm mốc; thực hiện tốt công tác lãnh sự, lễ tân trong việc
đón tiếp các đoàn khách nước ngoài đến thăm và làm việc tại tỉnh; quản lý, theo
dõi đoàn vào, đoàn ra chặt chẽ, đúng quy định [14].
2. Lĩnh vực
văn hóa - xã hội
2.1. Về
lao động việc làm và an sinh xã hội
Công tác quản lý nhà nước về
lao động, việc làm được triển khai đầy đủ, kịp thời; các nhiệm vụ, giải pháp cải
cách chính sách BHXH, phát triển đối tượng tham gia trên địa bàn tỉnh, công tác
quản lý nhà nước về cho thuê lại lao động được tăng cường thực hiện. Các hoạt động
hỗ trợ giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động được đẩy mạnh. Trung tâm Dịch vụ
việc làm thường xuyên phối hợp với UBND các xã, phường tổ chức Phiên giao dịch
việc làm, Ngày việc làm, điểm tư vấn việc làm để giới thiệu, chắp nối việc làm
cho người lao động, tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động; Ngân hàng
Chính sách xã hội thực hiện cho vay vốn duy trì, mở rộng và tạo việc làm để
giúp cho người lao động tự tạo việc làm hỗ trợ cho vay vốn giải quyết việc làm,
vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; nhu cầu tuyển dụng của các
doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tăng. Trong 6 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã
giải quyết việc làm cho khoảng 31.650 người, đạt 56,7% KH (trong đó xuất khẩu
lao động là 1.150 người). Tỷ lệ lao động tham gia BHXH đạt 15,01%.
Các chế độ, chính sách cho người
có công, bảo trợ xã hội, trẻ em, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ,
phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời. Chương trình xóa
nhà tạm, nhà dột nát cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, giảm nghèo bền vững, an
sinh xã hội được tập trung thực hiện. Đến ngày 20/7/2025, toàn tỉnh đã hoàn
thành khởi công xây mới và sửa chữa 8.813 căn nhà, đạt 100% KH; có 6.339 căn đã
bàn giao đưa vào sử dụng, đạt tỷ lệ 71,93% so với số căn khởi công.
2.2. Về
y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân:
Ngành y tế tiếp tục chỉ đạo
nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và tăng cường đầu tư trang thiết bị, giáo dục
về y đức, củng cố nhân lực, nâng cao kỹ năng giao tiếp, giáo dục sức khỏe và
chăm sóc bệnh nhân. Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới
sự hài lòng của người bệnh. Tăng cường luân phiên cán bộ y tế, đào tạo cán bộ tại
chỗ, từng bước đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân tại cơ sở; tăng cường
phối hợp chuyên môn với các bệnh viện tuyến trên để hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật.
Các cơ sở y tế trên địa bàn duy
trì tốt công tác khám, chữa bệnh cho người dân. Trong 6 tháng đầu năm 2025, đã
khám 2.233.798 lượt, điều trị nội trú cho 235.081 lượt. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
bị suy dinh dưỡng (cân nặng theo độ tuổi) giảm còn 13,6%; số giường bệnh đạt
29,7 giường/vạn dân; số bác sỹ đạt 8,6 bác sỹ/vạn dân. Các hoạt động y tế dự
phòng được tập trung triển khai thực hiện, cơ bản kiểm soát tốt các dịch bệnh
truyền nhiễm trên địa bàn.
* Công tác bảo hiểm: Lũy
kế số người tham gia BHXH, BHYT, BHTN là 2.556.024 người. Toàn tỉnh thu được
4.108,998 tỷ đồng, đạt 53,39% kế hoạch BHXH Việt Nam giao; tăng 3,88% so với
cùng kỳ năm 2024. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 89,75% (KH: 95%).
2.3. Về
giáo dục và đào tạo:
Tập trung thực hiện các nội
dung Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện
Nghị quyết 29 -NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo. Các cơ sở giáo dục duy trì việc tổ chức dạy, học nghiêm túc theo đúng
thời gian, kế hoạch đề ra ; hoàn thành kế hoạch học kỳ I và triển khai thực hiện
kế hoạch, nhiệm vụ học kỳ II, năm học 2024-2025; tổ chức tuyển sinh lớp 10 năm
học 2025-2026 và triển khai các nhiệm vụ chuẩn bị cho năm học mới. Tiếp tục duy
trì thực hiện tốt Chương trình GDPT 2018, nâng cao chất lượng dạy và học. Giáo
dục STEM đã có bước chuyển biến mạnh mẽ; chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh
đã có bước tiến nhảy vọt. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác giáo dục,
đào tạo được quan tâm đầu tư, nguồn lực từ xã hội hoá được đẩy mạnh. Tỷ lệ trường
học đạt chuẩn quốc gia đạt 53,04%, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 85,5% (cao hơn
5,5% so với bình quân cả nước).
2.4. Về
văn hóa, thể thao và thông tin, truyền thông:
Các hoạt động văn hóa, thể thao
và du lịch tiếp tục phát triển mạnh. Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực văn
hóa được triển khai đầy đủ; hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự
kiện lịch sử quan trọng của đất nước, của tỉnh được tổ chức hiệu quả. Công tác
quản lý và tổ chức lễ hội ở địa phương tuân thủ quy định, đảm bảo các điều kiện
về không gian, thời gian, địa điểm, vui tươi, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, thực
hiện nếp sống văn minh trong lễ hội, góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa dân tộc. Các hoạt động vui xuân, đón Tết Nguyên đán, chào mừng các ngày lễ
lớn được tổ chức rộng khắp từ tỉnh đến cơ sở. Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm,
tỉnh đã tổ chức thành công các hoạt động Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Buôn Ma Thuột,
giải phóng tỉnh Đắk Lắk, Lễ hội Cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 9 năm 2025; kỷ niệm
50 năm Ngày Giải phóng tỉnh Phú Yên và các sự kiện kỷ niệm 50 năm Ngày Giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước cùng với nhiều sự kiện, hoạt động sôi nổi,
đầy ý nghĩa [15], thu hút lượng lớn
khách du lịch đến với tỉnh.
Các hoạt động thể dục thể thao
được tổ chức ở nhiều địa phương trong tỉnh; đăng cai và phối hợp tổ chức thành
công nhiều giải thể thao cấp tỉnh, khu vực, quốc gia. Phong trào thể dục, thể
thao quần chúng và thể dục thể thao thành tích cao tiếp tục được tỉnh quan tâm
phát triển. Tỷ lệ người tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt
35%; Tỷ lệ gia đình thể thao đạt 25%; Tỷ lệ trường học đảm bảo rèn luyện giáo dục
thể chất đạt 100%.
Công tác quản lý nhà nước về
báo chí, truyền thông tiếp tục được quan tâm, đặc biệt là trong việc phối hợp
cung cấp, phản hồi thông tin kịp thời cho báo chí. Một số cơ quan báo chí đã kịp
thời phản ánh những vấn đề xã hội quan tâm như ô nhiễm môi trường, giá nước
sinh hoạt, hàng giả, hàng kém chất lượng... góp phần tích cực trong việc định
hướng dư luận và phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy, chính quyền.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng tích cực phối hợp thông tin, đăng bài trên Cổng thông
tin điện tử đối ngoại quốc gia bằng nhiều ngôn ngữ quốc tế như tiếng Anh, Pháp,
Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Ả Rập, Thái Lan, Tây Ban Nha..., góp phần tích cực
giới thiệu hình ảnh Đắk Lắk đến bạn bè trong nước và quốc tế, phục vụ hiệu quả
công tác thông tin đối ngoại của tỉnh.
2.5. Về
khoa học công nghệ và chuyển đổi số
Công tác quản lý nhà nước về
khoa học và công nghệ được triển khai thực hiện đúng kế hoạch và quy trình [16]; các hoạt động nghiên cứu, chuyển
giao và ứng dụng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai tích cực. Tỉnh
đang tập trung tổ chức triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ
Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia trên địa bàn tỉnh. Các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng
dụng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai tích cực. Tiếp tục theo
dõi, hướng dẫn, đôn đốc và phối hợp quản lý 07 đề tài/dự án cấp quốc gia, 04
nhiệm vụ thuộc Chương trình Nông thôn mới; quản lý 36 đề tài/dự án khoa học và
công nghệ cấp tỉnh chuyển tiếp sang tiếp tục thực hiện năm 2025; phê duyệt tổ
chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm, dự toán kinh phí 01 nhiệm vụ khoa học và công
nghệ cấp tỉnh năm 2025[17], Đề
tài “Xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp ứng phó xâm nhập mặn phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển tỉnh Phú Yên”.
Công tác phát triển kinh tế số,
xã hội số được quan tâm chú trọng thực hiện, đạt được nhiều kết quả tích cực. Tỉnh
đã thực hiện kết nối, tích hợp dữ liệu giữa Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục
hành chính tỉnh Đắk Lắk (Hệ thống iGate) với phần mềm hộ tịch, lý lịch tư pháp;
kết nối, tích hợp dữ liệu giữa Hệ thống iGate với ứng dụng VNEID để thực hiện cấp
phiếu lý lịch tư pháp trên ứng dụng; Thực hiện đồng bộ dữ liệu giữa Cổng dịch vụ
công của tỉnh với Cổng dịch vụ công quốc gia nhằm phục vụ đánh giá Bộ chỉ số phục
vụ người dân, doanh nghiệp. Triển khai đánh giá việc thực hiện Đề án Thí điểm
thực hiện cơ chế giao doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích đảm nhận
một số công việc trong quá trình hướng dẫn, tiếp nhận, số hóa hồ sơ, trả kết quả
giải quyết thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh.
2.6.
Công tác dân tộc và tôn giáo:
Công tác dân tộc tiếp tục được
sự quan tâm, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ giữa
các sở, ban ngành, địa phương; sự cố gắng nỗ lực của cả hệ thống cơ quan công
tác dân tộc, điều này đã góp phần quan trọng trong việc ổn định kinh tế - xã hội,
đảm bảo an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi, khối đại đoàn kết các dân tộc ngày càng được tăng cường,
đồng bào các dân tộc tin tưởng và chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của nhà nước. Công tác tham mưu triển khai thực hiện
Chương trình MTQG 1719, chế độ chính sách đối với người có uy tín được tập
trung thực hiện[18].
Công tác tín ngưỡng, tôn giáo
được tăng cường, triển khai đồng bộ và hiệu quả. Đẩy mạnh, thực hiện tốt công
tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm cho các tôn giáo sinh hoạt và hoạt động
bình thường theo đúng quy định của pháp luật; xây dựng mối quan hệ tốt giữa
chính quyền với chức sắc, tín đồ các tôn giáo.
3. Công tác
xây dựng chính quyền, cải cách hành chính; thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo và phòng chống tham nhũng
Tỉnh tập trung thực hiện sắp xếp
tổ chức bộ máy theo chỉ đạo của Thường trực Ban Chỉ đạo tổng kết và tiếp tục thực
hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW trên địa bàn tỉnh; tổ chức triển khai Đề án sắp xếp,
hợp nhất, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh theo quy định; thực
hiện các nội dung liên quan đến tổ chức mô hình chính quyền địa phương 02 cấp,
hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên; triển khai thực hiện chính sách, chế độ
đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo Nghị định số
178/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ. Thực hiện các nhiệm vụ về công
tác cán bộ, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức. Công tác
xây dựng chính quyền, địa giới hành chính, đào tạo bồi dưỡng và công tác khen
thưởng các tập thể, cá nhân được thực hiện kịp thời, đúng quy định.
Công tác cải cách hành chính, cải
thiện môi trường kinh doanh được tập trung chỉ đạo. Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh
đã ban hành các Kế hoạch, văn bản chỉ đạo, điều hành công tác cải cách hành
chính năm 2025; tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Chương trình tổng thể cải cách
hành chính giai đoạn 2021 - 2030. Công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2024 cấp
huyện và phân tích, đánh giá kết quả các chỉ số cải cách hành chính năm 2024.
Tích cực chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp chặt chẽ với Công an
tỉnh tổ chức triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ của Đề án 06 của Chính phủ,
việc phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử đạt được
nhiều kết quả nổi bật. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong đổi mới công tác chỉ đạo
điều hành nhưng đánh giá của người dân, doanh nghiệp về công tác cải cách hành
chính, cải thiện môi trường kinh doanh, sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà
nước chưa được cải thiện.
Các nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp và các kế hoạch chuyên đề trong các lĩnh vực công tác tư pháp năm 2025,
công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong tất cả lĩnh vực đời sống
kinh tế - xã hội luôn được chú trọng. Trong 6 tháng đầu năm, Tỉnh Đắk Lắk đã
ban hành 97 văn bản quy phạm pháp luật (HĐND tỉnh đã ban hành 09 Nghị quyết,
UBND tỉnh ban hành 88 Quyết định). Hiện nay, sau khi tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú
Yên hợp nhất theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc
sắp xếp đơn vị hành chính, Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk (mới) thường xuyên cập nhật,
kịp thời phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc tham mưu văn
bản QPPL của tỉnh nhằm đảm bảo văn bản mới được ban hành có giá trị áp dụng
trên toàn tỉnh Đắk Lắk (mới), kịp thời xử lý các văn bản QPPL còn chồng chéo,
mâu thuẫn và không còn phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh.
Thanh tra các cấp, các ngành đã
bám sát kế hoạch thanh tra năm 2025 của tỉnh được Chủ tịch UBND tỉnh ban hành để
tổ chức triển khai thực hiện; tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra
việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra. Công tác
tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực
hiện đúng trình tự, thủ tục quy định. Công tác phòng, chống tham nhũng, thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí được các cấp, các ngành lãnh đạo, chỉ đạo và triển
khai thực hiện nghiêm túc. Bên cạnh đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết
các vụ tranh chấp khiếu kiện kéo dài được tỉnh quan tâm thực hiện; kịp thời kiện
toàn Ban Chỉ đạo giải quyết các vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo
dài và tập trung giải quyết dứt điểm 5 vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh theo
Quyết định số 44/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
4. Về quốc
phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
Cấp ủy, chính quyền và lực lượng
vũ trang các cấp trong tỉnh đã chủ động nắm tình hình, phòng ngừa, đấu tranh có
hiệu quả với các đối tượng phản động, chống đối. Các lực lượng vũ trang thường
xuyên tuần tra, bám sát địa bàn, nhất là tuyến biên giới và các địa bàn trọng
điểm về an ninh, trật tự. Tổ chức Lễ giao, nhận quân năm 2025 đúng kế hoạch, đảm
bảo an toàn, tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch cấp trên giao.
Tập trung triển khai thực hiện
nghiêm túc chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh về công tác đảm bảo trật tự an toàn
giao thông, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại các sự kiện
chính trị, văn hóa trên địa bàn tỉnh. Nhìn chung, tình hình an ninh trên các
lĩnh vực cơ bản được đảm bảo; tỷ lệ điều tra, khám phá tội phạm xâm phạm trật tự
xã hội đạt 80,14%.
III. ĐÁNH
GIÁ CHUNG
Trong 6 tháng đầu năm, tình
hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục duy trì phát triển, tăng trưởng kinh tế
cơ bản đảm bảo kịch bản, kế hoạch đề ra; hầu hết các chỉ tiêu đều có mức tăng
trưởng khá. Sản xuất vụ Đông - Xuân vượt kế hoạch đề ra; sản lượng các sản phẩm
công nghiệp chủ yếu, huy động vốn đầu tư toàn xã hội, tổng mức bán lẻ hàng hóa,
tổng kim ngạch xuất khẩu, tổng thu ngân sách nhà nước tiếp tục tục tăng cao so
với cùng kỳ năm 2024. Dịch bệnh trên người, cây trồng, vật nuôi được kiểm soát,
cơ bản ổn định. Nhiều sự kiện văn hóa, lễ hội, thể thao diễn ra sôi nổi, góp phần
thu hút lượng lớn khách du lịch đến với tỉnh và thúc đẩy các ngành dịch vụ phát
triển. Số lượng DN thành lập mới tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước;
tình hình thu hút đầu tư có nhiều khởi sắc, có nhiều nhà đầu tư đến tìm hiểu đầu
tư trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, công tác an sinh
xã hội, chăm sóc người có công, giảm nghèo, thực hiện chương trình xóa nhà tạm,
nhà dột nát tiếp tục được quan tâm, triển khai kịp thời. Quản lý đất đai, tài
nguyên, môi trường và cải cách hành chính được tích cực thực hiện. Quốc phòng
được tăng cường; chủ quyền, lãnh thổ, an ninh biên giới được giữ vững.
Bên cạnh những kết quả đạt
được, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm vẫn
còn một số tồn tại, hạn chế, đó là:
- Kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ
đạo, giá cả các mặt hàng nông sản tiếp tục tăng cao là lợi thế của tỉnh, tuy
nhiên khó tạo được bứt phá về mặt tăng trưởng do chưa có nhiều sản phẩm mới,
tăng trưởng các khu vực động lực truyền thống chưa có nhiều đột phá; chuyển dịch
cơ cấu kinh tế còn chậm. Tốc độ phát triển của lĩnh vực chăn nuôi tương đối
nhanh nhưng thiếu bền vững vì chưa hình thành được các chuỗi sản xuất khép kín
gắn với xây dựng thương hiệu và thị trường tiêu thụ.
- Giải ngân vốn đầu tư công tuy
có cải thiện so với cùng kỳ năm trước nhưng nhìn chung vẫn còn thấp so với kế
hoạch; một số công trình, dự án trọng điểm triển khai chậm; chỉ tiêu xây dựng
nhà ở xã hội trong năm 2025 dự báo không đạt kế hoạch đề ra có thể sẽ ảnh hưởng
đến mục tiêu tăng trưởng lĩnh vực xây dựng.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của kinh tế thế giới
và trong nước có nhiều biến động, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh
còn cao.
- Việc tích hợp các quy hoạch
riêng của các địa phương trước sáp nhập vào một quy hoạch tổng thể mới, bảo đảm
sự hài hòa, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương mới là một quá trình
phức tạp và khó khăn, cần có thời gian. Công tác đền bù giải phóng mặt bằng gặp
nhiều khó khăn, vướng mắc dẫn đến không đáp ứng được tiến độ thi công, nhiều dự
án phải điều chỉnh thời gian thực hiện dự án, cụ thể như: Chính sách pháp luật
của nhà nước về đất đai (chuyển đổi, sang nhượng qua nhiều người, nhiều đối tượng
khác nhau; chỉnh lý trích lục địa chính thửa đất; biến động thông tin thửa đất,
đất lấn chiếm, khai hoang; thiếu hồ sơ, giấy tờ chứng minh làm kéo dài thời
gian thực hiện,...); các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư,... chưa
phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
B. DỰ KIẾN KẾT
QUẢ THỰC HIỆN CẢ NĂM 2025
I. ƯỚC KẾT
QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
Dự báo tình hình thế giới tiếp
tục phức tạp, khó lường, khó dự báo, nhiều biến động lớn, đặc biệt là chính
sách thuế của Mỹ. Trong nước, có nhiều triển vọng cải thiện tốc độ tăng trưởng
thông qua việc thúc đẩy đầu tư công, tiêu dùng, du lịch; gia tăng đóng góp của
số hóa, công nghệ cao vào tăng trưởng, đẩy mạnh quá trình chuyển đổi xanh, tận
dụng xu hướng chuyển dịch dòng vốn đầu tư nước ngoài... Tuy nhiên, nền kinh tế
vẫn phải đối mặt với không ít rủi ro, biến động phức tạp, khó lường như: sự giảm
tốc của một số nền kinh tế lớn; chính sách thuế và thương mại của Mỹ; áp lực lạm
phát và rủi ro tỷ giá; việc huy động và sử dụng nguồn lực cho phát triển kinh tế
- xã hội; an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi
khí hậu,... tiếp tục là các vấn đề cần quan tâm.
Để phấn đấu đạt mục tiêu tăng
trưởng năm 2025 là 8% trong bối cảnh này là một thách thức khá lớn; các cấp,
ngành, địa phương cần nêu cao tinh thần, trách nhiệm, quyết tâm cao, nỗ lực lớn
trong thực hiện nhiệm vụ được giao, tăng cường dự báo, chủ động điều hành linh
hoạt, thích ứng trong mọi tình huống để giữ vững ổn định kinh tế, tăng cường
năng lực nội tại, tính tự chủ và sức cạnh tranh. Việc gia tăng khó khăn, thách
thức cũng là cơ hội, là động lực đối với cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp,
người dân để quyết tâm đẩy mạnh, thực hiện hiệu quả những cải cách và nhiệm vụ,
giải pháp phát triển kinh tế - xã hội theo mục tiêu đề ra.
Mặc dù dự báo trong những tháng
cuối năm sẽ còn có những khó khăn như trên và Cục Thống kê ước tính lần 1 năm
2025 tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 6,79% (Công văn số 1260/CTK-TKQG ngày
08/7/2025), nhưng tỉnh Đắk Lắk xác định không điều chỉnh giảm các chỉ tiêu, kế
hoạch năm 2025, với quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng cả năm đạt 8% trở
lên, tỉnh Đắk Lắk xác định tăng trưởng 6 tháng cuối năm của tỉnh phải đạt từ 8,64%
trở lên. Dự kiến kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu trong kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội năm 2025 của tỉnh như sau:
1. Các chỉ
tiêu kinh tế
(1) Tăng trưởng kinh tế năm
2025 ước đạt 8% trở lên (KH: 8%), bao gồm:
- Khu vực Nông, lâm, thủy sản
tăng 5,56%.
- Khu vực Công nghiệp - Xây dựng
tăng 11,62%, gồm: Công nghiệp tăng 10,49%; xây dựng tăng 13,66%.
- Khu vực Dịch vụ tăng 8,34%.
- Thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản
phẩm) tăng 5,36%.
(2) Giá trị Tổng sản phẩm bình
quân đầu người đến cuối năm 2025 ước đạt 80,5 triệu đồng/người (KH: 80 triệu
đồng/người).
(3) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
ước đạt 68.100 tỷ đồng, đạt 92,4% KH (KH: 73.670 tỷ đồng), tăng 16,31%
so với năm 2024, chiếm khoảng 27% trong tổng GRDP theo giá hiện hành.
(4) Tổng kim ngạch xuất khẩu ước
đạt 2.235 triệu USD, đạt 100% KH (KH: 2.235 triệu USD), tăng 2,2% so với
năm 2024.
(5) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 182.281 tỷ đồng, đạt 100% KH (KH: 182.281 tỷ
đồng), tăng 9,4% so với năm 2024.
(6) Tổng thu ngân sách nhà nước
đạt 16.310 tỷ đồng, đạt 100% KH (KH: 16.310 tỷ đồng), tăng 15% so với
năm 2024.
(7) Phát triển hạ tầng: Đến cuối
năm 2025, bảo đảm tưới chủ động cho 83,7% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới (KH:
83,7%); tỷ lệ đô thị hóa đạt 27,2% (KH: 27,2%).
(8) Phát triển nhà ở xã hội: Hoàn
thành và khởi công xây dựng 2.800 căn nhà ở xã hội, đạt 100% KH năm 2025 (KH:
2.800 căn).
(9) Phát triển doanh nghiệp,
HTX: Thành lập mới 3.688 doanh nghiệp và 75 HTX, đạt 100% KH (KH: 3.688 DN
và 75 HTX).
2. Các chỉ
tiêu xã hội
(10) Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ
nghèo giảm từ 3% trở lên (KH: >=3%); tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào
dân tộc thiểu số giảm từ 4% trở lên (KH: >=4%); tỷ lệ thất nghiệp khu
vực thành thị giảm còn 2,15% (KH: 2,2%).
(11) Giải quyết việc làm cho
khoảng 55.800 người, đạt 100% KH (KH: 55.800 người), trong đó xuất khẩu lao
động 2.950 người. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số
lao động tham gia hoạt động kinh tế chiếm 56% (KH: 56%); tỷ lệ lao động
được đào tạo so với tổng số lao động đạt 70% (KH: 70%), trong đó tỷ lệ
có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25% (KH: 25%); tỷ lệ lao động trong độ tuổi
tham gia bảo hiểm xã hội đạt 17,7% (KH: 17,7%).
(12) Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc
gia đến cuối năm 2025 đạt 59% (KH: 59%).
(13) Đến cuối năm 2025, tỷ lệ
trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) giảm còn 13,6% (KH:
13,6%); số giường bệnh/1 vạn dân (không tính giường của trạm y tế xã) đạt
29,8 giường/1 vạn dân (KH: 29,8 giường/1 vạn dân); số bác sỹ trên một vạn
dân đạt 8,6 bác sỹ/1 vạn dân (KH: 8,6 bác sỹ/1 vạn dân); tỷ lệ bao phủ
BHYT đạt 95% (KH: 95%).
(14) Phấn đấu đến cuối năm
2025, lũy kế có 26/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 100% KH (KH: 26/88 xã),
tương ứng tỷ lệ 29,55%.
3. Các chỉ
tiêu môi trường
(15) Đến cuối năm 2025, tỷ lệ
khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt
tiêu chuẩn môi trường 38,46% (KH: 100%); tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được
thu gom, xử lý đạt 92% (KH: 92%); tỷ lệ dân số thành thị được cung cấp
nước sạch đạt 93,13% (KH: 93,13%); tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng
nước hợp vệ sinh đạt 98,42% (KH: 98,42%); tỷ lệ che phủ rừng (tính cả
cây cao su) đạt 41,37% (KH: 41,37%).
4. Về cải
cách hành chính
(16) Chỉ số cải cách hành chính
(Par Index) năm 2025 đạt 88,5% (KH: 88,5%).
5. Chỉ tiêu
an ninh quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
(17) Xây dựng nền quốc phòng
toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận
an ninh nhân dân vững mạnh. Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, chủ
động nắm chắc tình hình và xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ;
tuyển quân đạt 100% chỉ tiêu.
Nâng cao tỷ lệ xử lý tố giác,
tin báo về tội phạm. Tỷ lệ điều tra, khám phá tội phạm xâm phạm trật tự xã hội
năm 2025 đạt trên 85% (KH: 85%), trong đó, án rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng đạt trên 90% (KH: 90%). Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, kiềm giảm tai nạn giao thông so với cùng kỳ.
Như vậy, trong 17 chỉ tiêu
chủ yếu theo Nghị quyết đề ra:
- Có 14 chỉ tiêu đạt và vượt kế
hoạch, gồm: (1) GRDP bình quân đầu người; (2) Kim ngạch xuất khẩu; (3) Tổng mức
bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ; (4) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa
bàn; (5) Phát triển cơ sở hạ tầng; (6) Phát triển nhà ở xã hội; (7) Phát triển
doanh nghiệp; (8) Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo; (9) Lao động, việc làm; (10) Y tế;
(11) Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia; (12) Xây dựng nông thôn mới; (13) Cải
cách hành chính; (14) Quốc phòng, an ninh.
- Có 03 chỉ tiêu không đạt kế
hoạch, gồm: (1) Tăng trưởng kinh tế [19],
(2) Huy động vốn đầu tư toàn xã hội, (3) Chỉ tiêu về Môi trường và ứng phó với
biến đổi khí hậu [20].
II. NHIỆM
VỤ TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỐI NĂM 2025
Với quan điểm nhất quán là quyết
tâm thực hiện các giải pháp đảm bảo đạt và vượt theo mục tiêu tăng trưởng 8%,
trong thời gian còn lại của năm 2025, tỉnh xác định tập trung vào các nhóm nhiệm
vụ, giải pháp trọng tâm sau:
(1) Đổi mới mạnh mẽ công
tác chỉ đạo, điều hành. Tập trung thực hiện có hiệu quả các giải pháp thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk mới sau sắp xếp. Rà soát, đánh giá
việc thực hiện kịch bản tăng trưởng của khu vực phía Đông, phía Tây tỉnh đề ra,
xây dựng kịch bản tăng trưởng mới theo từng Quý, bổ sung động lực tăng trưởng
phù hợp với bối cảnh mới, bảo đảm bù đắp phần còn thiếu để đạt mục tiêu tăng
trưởng 8% trở lên.
(2) Tập trung tham gia
xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và thực hiện các nhiệm vụ
liên quan đến công tác tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp. Khẩn trương tổ chức xây
dựng Kế hoạch Kinh tế xã hội năm 2026, Kế hoạch đầu tư công năm 2026, Kế hoạch
đầu tư công trung hạn 2026-2030 theo yêu cầu chung của Trung ương.
(3) Khẩn trương rà soát,
ban hành kịp thời các quy định, quy chế, văn bản quy phạm pháp luật có liên
quan để bảo đảm bộ máy hoạt động thông suốt. Kịp thời nắm bắt và tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc về chuyên môn cho cấp xã trong quá trình vận hành mô hình chính
quyền địa phương 02 cấp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số
liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy tỉnh.
(4) Tăng tốc giải ngân vốn
đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm, phấn đấu giải ngân
năm 2025 đạt 100% kế hoạch. Khẩn trương hoàn thành phân bổ các nguồn vốn còn lại
chưa phân bổ cấp tỉnh. Tiếp tục nghiên cứu phương án phân cấp quản lý dự án
toàn tỉnh cho phù hợp.
Tập trung đẩy mạnh thu ngân
sách Nhà nước trên địa bàn. Rà soát các dự án tạo nguồn thu sử dụng đất của 2 tỉnh
trước sắp xếp và có giải pháp tập trung chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc,
phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra, tạo nguồn thu cho ngân sách, đảm bảo nguồn
vốn bố trí cho các dự án đầu tư công.
(5) Tiếp tục thực hiện tốt
tái cơ cấu lại kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Đẩy mạnh chỉ đạo sản xuất, phát
triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Theo dõi, nắm tình hình hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn để kịp thời tham mưu UBND tỉnh
và các ngành liên quan tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong đầu tư, sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm.
(6) Tập trung tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc cho các dự án đầu tư ngoài ngân sách, đặc biệt là dự án trọng
điểm, là động lực tăng trưởng của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi để dự án sớm đi
vào hoạt động, đóng góp vào tăng trưởng, nhất là các dự án đầu tư hạ tầng khu,
cụm công nghiệp, năng lượng tái tạo, sân golf, dự án nông nghiệp công nghệ
cao,…
(7) Tiếp tục tập trung tổ
chức triển khai thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị về: khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia; hội nhập quốc tế; xây dựng
và thực thi pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh CCHC, nhất là cải
cách TTHC; cải thiện, nâng cao các chỉ số cải cách hành chính của tỉnh. Tích cực
thực hiện chuyển đổi số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
(8) Nhanh chóng triển
khai rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tỉnh, Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh Đắk
Lắk mới theo hướng dẫn của Trung ương. Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài
nguyên, bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, tham mưu tháo gỡ khó khăn, vướng mắc,
hoàn thiện các thủ tục có liên quan để đẩy mạnh việc thu hút đầu tư, phát triển
các khu, cụm công nghiệp.
(9) Nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch. Chú trọng thực hiện các chính sách
an sinh xã hội; giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Triển
khai hiệu quả công tác khám, chữa bệnh cho người dân; chủ động, quyết liệt, kịp
thời ứng phó, kiểm soát và xử lý hiệu quả các loại dịch bệnh truyền nhiễm. Triển
khai kịp thời, hiệu quả các Chương trình MTQG; các chính sách hỗ trợ giảm
nghèo, an sinh xã hội. Tập trung tổ chức triển khai hiệu quả Chương trình xóa
nhà tạm, nhà dột nát, sớm hoàn thành đảm bảo mục tiêu, kế hoạch đề ra.
(10) Tập trung giải quyết
dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài. Tiếp
tục tập trung khắc phục các tồn tại, hạn chế, vi phạm do các cơ quan thanh tra,
kiểm tra đã chỉ ra.
(11) Đẩy mạnh công tác
quản lý Nhà nước về an ninh trật tự; triển khai thực hiện hiệu quả các biện
pháp phòng ngừa, đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, góp phần kiềm giảm tội
phạm và các hành vi vi phạm pháp luật; đảm bảo trật tự an toàn giao thông,
phòng, chống cháy nổ trên địa bàn tỉnh.
PHẦN THỨ
HAI
DỰ KIẾN KẾ HOẠCH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI,ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG, AN NINH NĂM 2026
A. DỰ BÁO
BỐI CẢNH NĂM 2026
Dự báo tình hình thế giới, khu
vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược các nước lớn
và trong khu vực tiếp tục diễn ra gay gắt, xung đột chính trị tại Ucraina,
Trung Đông; khả năng điều chỉnh chính sách tiền tệ, thương mại, đầu tư của các
nền kinh tế lớn; triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu; các xu hướng mới về
khoa học công nghệ, xanh hóa, số hóa trên thế giới; các vấn đề an ninh phi truyền
thống như dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh mạng...
tác động đến sự ổn định và phát triển của thế giới, khu vực.
Trong nước, năm 2026 có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng,
bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, bầu cử đại biểu HĐND các cấp và là năm đầu
tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030. Tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá ở mức tương đối tích cực.
Các chủ trương, quyết sách lớn của Trung ương, đặc biệt là “bộ tứ trụ cột”, quy
định pháp luật mới được triển khai tích cực, sớm đi vào cuộc sống sẽ phát huy
hiệu quả, tạo nền tảng, động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh những
thời cơ, thuận lợi cơ bản còn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhất
là từ những yếu tố bất lợi bên ngoài và những hạn chế, bất cập nội tại đã kéo
dài nhiều năm; trong khi đó yêu cầu cho đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội
và củng cố quốc phòng, an ninh rất lớn nhưng nguồn lực còn hạn chế, đòi hỏi tuyệt
đối không chủ quan, tiếp tục đổi mới tư duy phát triển, hành động quyết liệt,
hiệu quả hơn.
Đối với tỉnh Đắk Lắk, kinh
tế tiếp tục phục hồi và phát triển; việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp,
sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh tạo nên không gian phát triển mới, mở rộng
và tích hợp được những tiềm năng từ hai vùng địa lý về nông nghiệp, kinh tế biển,
năng lượng tái tạo, du lịch và logistic. Thành tựu kinh tế - xã hội trong những
năm qua là tiền đề, nền tảng quan trọng để tỉnh Đắk Lắk cùng với cả nước bước
vào giai đoạn phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi
đã nêu, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh chưa thật bền vững, tốc độ tăng
trưởng vẫn chưa tương xứng tiềm năng và chưa có nhiều đột phá, cơ cấu lại nền
kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm; chất lượng nguồn nhân lực
còn hạn chế, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao; các vấn đề về suy giảm tài
nguyên, biến đổi khí hậu, dịch bệnh diễn biến ngày càng khó lường đã, đang trở
thành thách thức lớn của tỉnh.
Cạnh tranh thị trường, xu hướng
bảo hộ mậu dịch của các nước, nhất là các nước lớn sẽ ảnh hưởng, tác động mạnh
mẽ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là sản xuất nông nghiệp của tỉnh
ta. Xu thế công nghệ số phát triển mạnh, nếu không nắm bắt, thực hiện quyết liệt
sẽ dẫn đến nguy cơ tụt hậu so với các tỉnh là những khó khăn, thách thức đối với
sự phát triển của tỉnh.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
của tỉnh chưa thật sự đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển, trong khi nguồn vốn
đầu tư của ngân sách nhà nước vẫn tiếp tục khó khăn, huy động các nguồn lực đầu
tư ngoài ngân sách còn hạn chế. Một số công trình trọng điểm chưa đáp ứng yêu cầu
tiến độ, chủ yếu do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng.
Tình hình an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội có lúc, có nơi còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định, nhất
là liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo; tình trạng tranh chấp, khiếu kiện
liên quan đến các công ty nông - lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp, dễ phát
sinh thành “điểm nóng” về an ninh trật tự.
B. MỤC TIÊU,
CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VÀ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TRONG NĂM 2026
I. MỤC
TIÊU TỔNG QUÁT
Tập trung thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực gắn với
xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển các ngành công nghiệp động lực gắn với
kinh tế biển, mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp hiện có theo mô hình
kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi
trường. Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch mạnh mẽ từ
sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển du
lịch để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục
hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế
tư nhân phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, trở thành động lực quan trọng nhất
của nền kinh tế. Đổi mới, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư, khai thác tối đa tiềm
năng, lợi thế của tỉnh; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư. Nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi
số, kinh tế số. Phát triển văn hóa - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo
bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của Nhân dân. Quản
lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống
thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường củng cố quốc phòng, an
ninh, bảo đảm ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới.
Nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập quốc tế.
II. CÁC
CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
Trên cơ sở báo cáo đánh giá kết
quả thực hiện các chỉ tiêu năm 2025, dự kiến các chỉ tiêu kinh tế - xã hội giai
đoạn 2026 - 2030 trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, tỉnh Đắk Lắk xây dựng
các chỉ tiêu chủ yếu năm 2026 như sau:
1. Các
chỉ tiêu về kinh tế
(1) Tốc độ tăng tổng sản phẩm
trên địa bàn (GRDP) đạt 9,08%. Trong đó:
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản
tăng 6,22%;
- Công nghiệp - xây dựng tăng
17,41%. Trong đó: Công nghiệp tăng 16,09%; Xây dựng tăng 19,71%;
- Dịch vụ tăng 7,62%;
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản
phẩm tăng 2,81%.
(2) Giá trị Tổng sản phẩm bình
quân đầu người đạt khoảng 95 triệu đồng/người.
(3) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
đạt 70.300 tỷ đồng, chiếm khoảng 25,7% trong tổng GRDP.
(4) Tổng giá trị xuất khẩu đạt
2.330 triệu USD, tăng 4,25% so với năm 2025.
(5) Tổng mức bán lẻ hàng hoá và
doanh thu dịch vụ đạt 201.000 tỷ đồng, tăng 10,27 % so với năm 2025.
(6) Ngành du lịch đón khoảng
6,9 triệu lượt khách, tăng 9,5% so với năm 2025; doanh thu du lịch đạt 14.500 tỷ
đồng, tăng 15% so với năm 2025.
(7) Tổng thu ngân sách nhà nước
trên địa bàn (không kể thu tiền sử dụng đất) đạt 11.150 tỷ đồng, tăng 12,7% so
với năm 2025.
(8) Tỷ lệ đảm bảo tưới cho cây
trồng dùng nước đạt 84,1%
(9) Số căn nhà ở xã hội hoàn
thành và khởi công xây dựng: 3.658 căn.
(10) Thành lập mới 2.400 doanh
nghiệp.
2. Các chỉ
tiêu về văn hóa - xã hội
(11) Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh
giảm từ 2% trở lên; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm từ 3%
trở lên/năm.
(12) Phấn đấu đến cuối năm
2026, lũy kế có 32/88 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương ứng tỷ lệ 36,36%.
(13) Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc
gia đạt 63%.
(14) Tỷ lệ lao động qua đào tạo
đạt 72%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ đạt 27%. Giải quyết
việc làm cho 56.000 lao động. Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn 2%.
(15) Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị
suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) còn 13,3%. Số giường bệnh trên một vạn dân
(không tính giường trạm y tế xã) đạt 3 1,5 giường; số bác sỹ trên một vạn dân đạt
9,06 bác sỹ. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2%.
2.3. Các
chỉ tiêu về môi trường
(16) Tỷ lệ che phủ rừng đạt
41,38%. Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập
trung đạt 93,43%. Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt
98,5%. Tỷ lệ cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập
trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 29%. Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị
được thu gom, xử lý theo quy định đạt 92%.
2.4. Các
chỉ tiêu về quốc phòng, an ninh
(17) Thực hiện tốt công tác
đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi nhập ngũ; tuyển chọn, gọi nhập ngũ đạt
100% chỉ tiêu cấp trên giao. Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh kết hợp diễn
tập phòng thủ dân sự, phòng không nhân dân; chỉ đạo diễn tập chiến đấu cấp xã
(phường) trong khu vực phòng thủ đạt 30% số đơn vị.
Nâng cao tỷ lệ xử lý tố giác,
tin báo về tội phạm; tỷ lệ điều tra, khám phá tội phạm xâm phạm trật tự xã hội
năm 2026 đạt trên 75%, trong đó, án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt
trên 90%, kiềm giảm tai nạn giao thông trên cả 03 tiêu chí so với cùng kỳ.
III. CÁC
NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Với các mục tiêu, chỉ tiêu nêu
trên, tỉnh Đắk Lắk đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện thắng lợi
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh năm 2026 của
tỉnh. Cụ thể như sau:
1. Tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án,
Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, của Tỉnh
1.1. Tập trung rà soát, sớm
hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến
năm 2050, đảm bảo tính đồng bộ giữa các loại quy hoạch; triển khai thực hiện hiệu
quả các quy hoạch ngành, lĩnh vực của địa phương làm cơ sở để thu hút đầu tư,
triển khai các dự án đầu tư, khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của tỉnh và
không gian phát triển mới. Tiếp tục kế thừa, triển khai hợp lý Kết luận số
67-KL/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh
Đắk Lắk đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 72/2022/QH15 của Quốc
hội về cơ chế chính sách đặc thù xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột
tại các xã, phường mới được thành lập tương ứng.
1.2. Tập trung thực hiện hiệu
quả các Nghị quyết của Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
2026 - 2030, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 -
2030. Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 mang tính dài hạn,
định hướng phát triển trong thời gian tới, bám sát Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021
- 2030, tầm nhìn đến năm 2050, và các định hướng của Trung ương trên cơ sở đảm
bảo cân đối các nguồn lực, yêu cầu phát triển đột phá của tỉnh trong giai đoạn
mới.
1.3. Tập trung rà soát, hoàn
thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo sau sắp xếp đơn vị
hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động thông suốt,
không gián đoạn, không có khoảng trống pháp lý. Tổ chức sắp xếp trụ sở làm việc,
cơ sở nhà đất, tài sản công, dự toán ngân sách, các dự án đầu tư công khi chấm
dứt hoạt động cấp huyện, không để gián đoạn, thất thoát.
1.4. Chủ động triển khai thực
hiện các chủ trương, các chính sách mới đã có hiệu lực thi hành và tiếp tục rà
soát các quy định của pháp luật không còn phù hợp với các Luật mới, quy định mới
ban hành để kịp thời tham mưu điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.
1.5. Tổ chức thực hiện đồng bộ,
hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp tại 04 Nghị quyết “bộ tứ chiến lược” của Bộ
Chính trị và các chương trình, kế hoạch của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về triển khai thực
hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về “Đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”,
Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế
trong tình hình mới”, Nghị quyết số 66- NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính
trị về “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát
triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025
của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế tư nhân”.
2. Về
phát triển kinh tế
2.1. Làm mới, phát huy hiệu quả
các động lực tăng trưởng truyền thống, quyết tâm tháo gỡ các “điểm nghẽn, lực cản”
để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là những lĩnh vực còn dư địa tăng
trưởng. Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Đẩy mạnh
chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng gắn với phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao, làm động lực và nguồn lực chủ yếu để phát triển nhanh
và bền vững.
2.2. Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành
nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế
nông nghiệp. Xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, triển khai sản xuất
theo tiêu chuẩn chất lượng, có nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý,
truy xuất nguồn gốc; tiếp tục triển khai hiệu quả chương trình OCOP, chương
trình xây dựng nông thôn mới. Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng trang trại,
hiện đại, bền vững, an toàn dịch bệnh. Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả
các nhiệm vụ chuyển đổi số ngành nông nghiệp, tạo bước phát triển đột phá trong
khu vực nông nghiệp, nông thôn. Triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý, bảo vệ
rừng. Thúc đẩy phát triển mô hình nông - lâm kết hợp, chi trả dịch vụ môi trường
rừng, thị trường tín chỉ các-bon, góp phần phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Phát triển đồng bộ, toàn diện cả
khai thác và nuôi trồng thủy sản, đẩy mạnh áp dụng quy trình, kỹ thuật nuôi,
khai thác hiện đại gắn với chế biến, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch, đa dạng
hóa sản phẩm chế biến. Đẩy mạnh dịch vụ hậu cần thủy sản, phát triển các chuỗi
liên kết sản xuất nuôi trồng, khai thác, chế biến, tiêu thụ để gia tăng giá trị
sản phẩm. Thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương và địa phương về chống
khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), gỡ
cảnh báo “Thẻ vàng” của Ủy ban Châu Âu.
2.3. Phát triển các ngành công
nghiệp động lực gắn với kinh tế biển, mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp
hiện có theo mô hình kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh, ứng dụng công nghệ
cao, thân thiện với môi trường. Tập trung thu hút đầu tư các dự án công nghiệp
chế biến sâu sản phẩm nông lâm thủy sản, phát triển công nghiệp cơ khí chế tạo
phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất năng lượng tái tạo quy mô lớn
và một số ngành công nghiệp có tiềm năng, lợi thế mới. Tăng cường rà soát, tháo
gỡ khó khăn vướng mắc trong quản lý, hoạt động của các cụm công nghiệp nhằm thu
hút đầu tư của các đơn vị thứ cấp, phấn đấu nâng tỷ lệ lấp đầy tại các cụm công
nghiệp khu vực phía Đông Đắk Lắk đạt trên 30%; tạo điều kiện thuận lợi thu hút
đầu tư, thành lập các cụm công nghiệp mới; đẩy nhanh tiến độ triển khai công
tác chuẩn bị kêu gọi đầu tư 08 dự án năng lượng theo Quy hoạch tỉnh.
2.4. Đẩy mạnh các hoạt động xúc
tiến thương mại, quảng bá các sản phẩm và tăng cường triển khai công tác kết nối
giao thương nhằm mở rộng tiêu thụ nội địa và thị trường xuất khẩu, chủ động
thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực.
Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
của các doanh nghiệp để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ
chính sách thuế quan của Mỹ. Tăng cường công tác chống buôn lậu, gian lận
thương mại và hàng giả trong tình hình mới. Huy động nguồn lực hỗ trợ các doanh
nghiệp nâng cao khả năng bán hàng hóa trên các kênh thương mại điện tử quốc tế
và các nền tảng mạng xã hội để đẩy mạnh việc quảng bá, mua bán sản phẩm, hàng
hóa do các doanh nghiệp tỉnh sản xuất. Tiếp tục cải thiện thứ hạng về chỉ số
thương mại điện tử. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành dịch vụ;
chú trọng phát triển hệ thống ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ cho nền
kinh tế.
2.5. Thực hiện tốt chiến lược
phát triển văn hóa theo Nghị quyết số 162/2024/QH15 của Quốc hội phê duyệt chủ
trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá giai đoạn
2025 - 2035. Tiếp tục đề xuất, mạnh dạn đăng cai tổ chức, đưa các sự kiện, hoạt
động văn hóa lớn về địa phương vào các dịp lễ, kỳ nghỉ dài ngày để tăng lượng
khách du lịch đến với tỉnh và thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển. Tổ chức khảo
sát phát triển sản phẩm du lịch mới (nông nghiệp, nông thôn, cộng đồng, làng nghề,
OCOP...); tạo điều kiện phát triển hiệu quả mô hình du lịch cộng đồng, du lịch
sinh thái và các dự án đầu tư du lịch gắn với quản lý, bảo vệ rừng và biển. Đẩy
mạnh công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch tại chỗ chất lượng
cao, đáp ứng yêu cầu Du lịch trong bối cảnh cách mạng Công nghiệp 4.0.
2.6. Tập trung huy động và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển; đẩy nhanh tiến độ đầu tư hệ thống
kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị,…
Chỉ đạo quyết liệt công tác thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công (bao gồm 03
Chương trình mục tiêu quốc gia), kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong
triển khai thực hiện các dự án, đặc biệt là Dự án đường bộ cao tốc Khánh Hòa -
Buôn Ma Thuột, các dự án trọng điểm, liên vùng. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề
cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, xác định nhiệm vụ giải ngân vốn đầu
tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tăng
cường đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện giải ngân hết kế hoạch vốn; sớm hoàn
thành công tác giải phóng mặt bằng, các thủ tục đấu thầu để khởi công dự án.
2.7. Đổi mới, nâng cao hiệu quả
công tác thu hút đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có nguồn lực tài chính,
công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại; thu hút đầu tư vào các ngành có hàm lượng
công nghệ cao, thân thiện môi trường, giá trị gia tăng cao, phù hợp với tiềm
năng, lợi thế của tỉnh. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh
doanh, tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, lành mạnh; chuẩn bị các quỹ đất
để xúc tiến, kêu gọi thu hút các dự án động lực vào các khu vực tiềm năng của tỉnh.
Kịp thời nắm bắt thông tin để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp,
nhà đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện các thủ tục đầu tư, triển khai
thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là các dự án trọng điểm, tạo động lực
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như các dự án năng lượng tái tạo, phát triển đô thị,
sân golf, dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, luyện kim, thép, hạ tầng khu,
cụm công nghiệp, cảng biển,…
Đẩy nhanh tiến độ kêu gọi đầu
tư, lựa chọn chủ đầu tư đối với 06 dự án nhà ở xã hội, nhà ở thương mại trên địa
bàn tỉnh [21], triển khai hiệu quả
Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập
thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030”, phấn đấu hoàn thành chỉ
tiêu phát triển nhà ở xã hội năm 2026 của địa phương theo kế hoạch.
2.8. Quản lý chặt chẽ thu, chi
NSNN. Tăng cường quản lý, chống thất thu, triển khai tốt các nhiệm vụ thu NSNN,
nhất là các nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ; tập trung tháo
gỡ khó khăn để tăng thu ngân sách trên địa bàn). Thực hiện chi ngân sách tiết
kiệm, hiệu quả, chống lãng phí, tiêu cực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính
- NSNN. Tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN theo hướng giảm tỷ trọng chi thường xuyên,
tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển. Rà soát các dự án tạo nguồn thu sử dụng đất
và có giải pháp tập trung chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, phấn đấu hoàn
thành kế hoạch đề ra, tạo nguồn thu cho ngân sách, đảm bảo nguồn vốn bố trí cho
các dự án đầu tư công.
2.9. Tổ chức thực hiện có hiệu
quả các chương trình, kế hoạch triển khai nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số
68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, khẳng định
vị trí, vai trò kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế
quốc gia. Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp; triển khai đồng
bộ, có hiệu quả các nội dung hỗ trợ DNNVV năm 2026. Nâng cao hiệu quả hoạt động
của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã theo hướng phát triển các hình thức hợp
tác, liên kết với các thành phần kinh tế khác để hình thành các chuỗi giá trị từ
sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
2.10. Tiếp tục triển khai điều
chỉnh tổng thể Quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau
sắp xếp) đồng bộ với quy hoạch quốc gia, quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch
vùng theo quy định. Đẩy nhanh tiến độ lập, điều chỉnh các quy hoạch xây dựng,
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội. Triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển nhà ở
theo Chương trình phát triển nhà ở được phê duyệt; thực hiện công tác phát triển
dự án nhà ở, khu đô thị mới trên địa bàn tỉnh, ưu tiên các dự án phát triển khu
đô thị đồng bộ, hiện đại.
3. Về
phát triển văn hóa - xã hội
3.1. Chú trọng thực hiện các
chính sách an sinh xã hội; chính sách giảm nghèo, ưu tiên nguồn lực thực hiện
chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu
số nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần nâng cao mức
sống của người dân. Nâng cao chất lượng các tiêu chí và chất lượng thực hiện
chương trình xây dựng nông thôn mới; huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả
các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.
3.2. Thực hiện đầy đủ, kịp thời
các chế độ, chính sách đối với người có công, gia đình chính sách, các đối tượng
xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân trên địa bàn.
3.3. Thực hiện hiệu quả công
tác dân tộc trong tình hình mới; chủ động nắm tình hình an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội và đời sống, sản xuất tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên
địa bàn. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng,
tôn giáo. Kịp thời giải quyết nhu cầu của các tôn giáo theo quy định của Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản hướng dẫn thi hành.
3.4. Tập trung phát triển nguồn
nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; chú trọng giải quyết việc
làm, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đảm bảo phù hợp nhu cầu thực tế và giải
quyết việc làm cho lao động trên địa bàn; nâng cao năng lực của hệ thống trung
tâm dịch vụ việc làm, mở rộng thị trường và cơ hội việc làm cho lao động đã qua
đào tạo có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài.
3.5. Phát triển toàn diện các
lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, giá trị lịch sử,
truyền thống dân tộc, nhất là văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu
số; bảo đảm gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội,
nâng cao đời sống Nhân dân. Thực hiện tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ... phục
vụ nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh, từng
bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn.
3.6. Tập trung triển khai Nghị
quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch chuyển đổi
số tỉnh Đắk Lắk năm 2025; Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu
dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn
2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Tiếp tục hướng dẫn các địa phương triển khai
thực hiện các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế để nâng cao hiệu quả cung
cấp và sử dụng dịch vụ công trực tuyến, xây dựng Chính quyền số, thực hiện Chuyển
đổi số một cách toàn diện.
3.7. Triển khai thực hiện tốt
nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo trên địa bàn tỉnh; duy trì thực hiện tốt
chủ trương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Chương trình giáo
dục phổ thông 2018, chương trình sách giáo khoa mới. Thực hiện đồng bộ các giải
pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại trà các cấp học phổ thông; duy trì và
nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
trong điều hành, quản lý, dạy học. Khuyến khích, đẩy mạnh công tác xã hội hóa
và tăng cường tự chủ trong các cơ sở giáo dục, đào tạo; đầu tư cơ sở vật chất,
trang thiết bị trường học các cấp phục vụ dạy và học, kiên cố hóa phòng học,
xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia.
3.8. Tiếp tục nâng cao hiệu quả
công tác quản lý nhà nước về y tế; thường xuyên củng cố và hoàn thiện mạng lưới
y tế cơ sở; chú trọng đào tạo, có cơ chế thu hút, phát triển nguồn nhân lực y tế
cả về số lượng và chất lượng; nâng cao trình độ chuyên môn, trách nhiệm và y đức
của đội ngũ cán bộ y tế; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho y tế; tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển y tế ngoài công lập, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và kêu gọi
đầu tư, xã hội hóa trong lĩnh vực y tế,... nhằm đảm bảo chỉ tiêu về số giường bệnh/vạn
dân, số bác sỹ/vạn dân theo kế hoạch của tỉnh đề ra. Cải thiện tình trạng suy
dinh dưỡng ở trẻ em; chủ động phòng, chống dịch bệnh, nâng cao năng lực giám
sát, phát hiện và khống chế dịch bệnh mới phát sinh và các bệnh dịch nguy hiểm
khác xảy ra trên địa bàn.
4. Về môi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Quản lý chặt chẽ, có hiệu quả về
đất đai, tài nguyên, môi trường; thực hiện lồng ghép các biện pháp bảo vệ môi
trường, phòng, chống thiên tai vào các quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội các cấp. Quan tâm mời gọi các nhà đầu tư các
dự án xử lý rác thải, chất thải rắn sinh hoạt tại các huyện, thị xã, thành phố
theo quy hoạch. Nâng cao năng lực thông tin, dự báo, cảnh báo thiên tai; chủ động
phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.
5. Về nội
chính, cải cách hành chính (CCHC), phòng chống tham nhũng
5.1. Tăng cường công tác quản
lý nhà nước trên các lĩnh vực; nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành
chính quyền các cấp; duy trì kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quản lý nhà nước,
quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng,
thẩm định văn bản QPPL, đảm bảo văn bản QPPL được ban hành đúng pháp luật, đồng
bộ, khả thi. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức bộ máy hành chính theo hướng
tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức chất lượng cao, đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Tổ chức triển khai hiệu quả
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây
dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên
mới.
5.2. Tăng cường công tác lãnh đạo,
chỉ đạo trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ CCHC. Chú trọng nâng cao vị trí
xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số Hiệu quả Quản trị và
Hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số CCHC (PAR Inder). Tổ chức triển khai,
khảo sát đánh giá độc lập một số lĩnh vực dịch vụ công. Tiếp tục triển khai số
hóa kết quả giải quyết TTHC còn hiệu lực cấp tỉnh; triển khai công tác kiểm
tra, tuyên truyền CCHC. Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động của
các cơ quan nhà nước, xây dựng chính quyền điện tử, phát triển Chính quyền số;
đồng thời, đẩy mạnh thực hiện Đề án 06 của Chính phủ về Phát triển ứng dụng dữ
liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai
đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
5.3. Nghiêm túc thực hiện chỉ đạo
của Thủ tướng Chính phủ và của tỉnh về chấn chỉnh, tăng cường trách nhiệm trong
xử lý công việc, chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan hành
chính các cấp. Tăng cường công tác phân cấp, phân quyền trong xử lý công việc,
không đùn đẩy né tránh, lạm dụng việc hỏi cấp trên trong khi thuộc thẩm quyền xử
lý của mình.
5.4. Thực hiện tốt công tác
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải
quyết khiếu nại, tố cáo; kịp thời giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền. Tiếp
tục tập trung khắc phục các tồn tại, hạn chế, vi phạm do Ủy ban Kiểm tra Trung
ương, Thanh tra Chính phủ đã chỉ ra.
Tăng cường kiểm tra, theo dõi nắm
chắc tình hình kịp thời xử lý các vụ khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp
không để phát sinh điểm “nóng” về khiếu nại, tố cáo. Tập trung xử lý, giải quyết
dứt điểm đối với 05 vụ việc phức tạp, kéo dài, vượt cấp lên Trung ương trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk thuộc diện Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo,
kiểm tra, rà soát, giải quyết.
6. Đảm bảo
quốc phòng, an ninh
Tăng cường lực lượng bám, nắm
tình hình, quản lý địa bàn nhất là địa bàn trọng điểm tuyến biên giới, đối tượng
liên quan đến an ninh quốc gia, kịp thời phát hiện, đấu tranh, vô hiệu hóa âm
mưu, hoạt động chống phá của các thế lực phản động và số đối tượng chống đối
chính trị. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, các
đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đoàn khách quốc tế đến tỉnh. Triển khai thực
hiện có hiệu quả Luật Quốc phòng, Luật Phòng thủ dân sự, Luật Quản lý bảo vệ
công trình quốc phòng và khu quân sự, Luật Nghĩa vụ Quân sự, Luật Sĩ quan QĐND
Việt Nam, Luật Phòng không nhân dân, Luật DQTV và Luật số 98/2025/QH15 ngày
27/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật về quân sự, quốc phòng…;
tham mưu xây dựng khu vực phòng thủ theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Tiếp tục triển khai quyết liệt,
hiệu quả các đợt cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm. Tăng cường phát
hiện, xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý kinh tế, môi trường. Nâng cao chất
lượng công tác tuyên truyền, phòng ngừa tai nạn giao thông, PCCC; duy trì tuần
tra kiểm soát, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao
thông.
Trên đây là báo cáo đánh giá
tình hình, kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và dự
kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, UBND tỉnh Đắk Lắk báo cáo Bộ
Tài chính để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng Chính phủ (b/c);
- TTTU, TT HĐND tỉnh;
- CT, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành;
- UBND các xã, phường;
- CVP, các PCVP UBND tỉnh;
- Các phòng, TT thuộc VP UBND tỉnh;
- Lưu: VT, TH (ĐH.10b)
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trương Công Thái
|
PHỤ LỤC I:
DỰ KIẾN CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
NĂM 2026 TỈNH ĐẮK LẮK
(Kèm theo Kế hoạch số /KH-UBND ngày /7/2025 của UBND
tỉnh Đắk Lắk)
|
TT
|
Chỉ tiêu
|
Đơn vị tính
|
Thực hiện năm 2024
|
Năm 2025
|
Năm 2026
|
Ghi chú
|
|
Mục tiêu
|
TH 6 tháng đầu năm
|
Ước TH cả năm
|
Ước TH cả năm so với TH 2024 (%)
|
Mục tiêu
|
So với mục tiêu năm 2025 (%)
|
So với ước TH năm 2025 (%)
|
|
I
|
VỀ
KINH TẾ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
1
|
Giá trị Tổng sản phẩm
(GRDP - giá SS 2010)
|
Tỷ đồng
|
95.907
|
103.580
|
43.695
|
103.580
|
108,00
|
112.987
|
109,08
|
109,08
|
|
|
-
|
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
|
Tỷ đồng
|
30.935
|
32.656
|
11.558
|
32.656
|
105,56
|
34.687
|
106,22
|
106,22
|
|
|
-
|
Công nghiệp - xây dựng
|
Tỷ đồng
|
19.830
|
22.135
|
9.692
|
22.135
|
111,62
|
25.988
|
117,41
|
117,41
|
|
|
+
|
Công nghiệp
|
Tỷ đồng
|
12.719
|
14.053
|
6.584
|
14.053
|
110,49
|
16.314
|
116,09
|
116,09
|
|
|
+
|
Xây dựng
|
Tỷ đồng
|
7.110
|
8.082
|
3.108
|
8.082
|
113,66
|
9.674
|
119,71
|
119,71
|
|
|
-
|
Dịch vụ
|
Tỷ đồng
|
41.259
|
44.699
|
20.466
|
44.699
|
108,34
|
48.106
|
107,62
|
107,62
|
|
|
-
|
Thuế SP trừ trợ cấp SP
|
Tỷ đồng
|
3.883
|
4.090
|
1.978
|
4.090
|
105,35
|
4.205
|
102,81
|
102,81
|
|
|
*
|
Tốc độ tăng trưởng kinh
tế (bình quân/năm)
|
%
|
|
8,00
|
7,14
|
8,00
|
|
9,08
|
|
|
|
|
-
|
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
|
%
|
|
5,56
|
5,16
|
5,56
|
|
6,22
|
|
|
|
|
-
|
Công nghiệp - xây dựng
|
%
|
|
11,62
|
10,12
|
11,62
|
|
17,41
|
|
|
|
|
+
|
Công nghiệp
|
%
|
|
10,49
|
11,50
|
10,49
|
|
16,09
|
|
|
|
|
+
|
Xây dựng
|
%
|
|
13,66
|
7,32
|
13,66
|
|
19,71
|
|
|
|
|
-
|
Dịch vụ
|
%
|
|
8,34
|
7,59
|
8,34
|
|
7,62
|
|
|
|
|
-
|
Thuế SP trừ trợ cấp SP
|
%
|
|
5,35
|
0,56
|
5,35
|
|
2,81
|
|
|
|
|
*
|
Giá trị tổng sản phẩm
(GRDP - giá HH)
|
Tỷ đồng
|
203.923,9
|
229.249
|
92.162
|
229.249
|
112,42
|
273.318
|
119,22
|
119,22
|
|
|
-
|
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
|
Tỷ đồng
|
71.908,4
|
79.148
|
26.970
|
79.148
|
110,07
|
83.171
|
105,08
|
105,08
|
|
|
-
|
Công nghiệp và xây dựng
|
Tỷ đồng
|
43.045,0
|
49.888
|
18.861
|
49.888
|
115,90
|
68.221
|
136,75
|
136,75
|
|
|
+
|
Công nghiệp
|
Tỷ đồng
|
30.294,3
|
34.816
|
13.305
|
34.816
|
114,93
|
38.317
|
110,06
|
110,06
|
|
|
+
|
Xây dựng
|
Tỷ đồng
|
12.750,7
|
15.072
|
5.556
|
15.072
|
118,20
|
29.532
|
195,94
|
195,94
|
|
|
-
|
Dịch vụ
|
Tỷ đồng
|
80.983,9
|
91.479
|
42.152
|
91.479
|
112,96
|
112.278
|
122,74
|
122,74
|
|
|
-
|
Thuế SP trừ trợ cấp SP
|
Tỷ đồng
|
7.986,5
|
8.734
|
4.179
|
8.734
|
109,36
|
9.649
|
110,48
|
110,48
|
|
|
*
|
Cơ cấu kinh tế
|
|
100,0
|
100,00
|
100,00
|
100,00
|
|
100,00
|
|
|
|
|
-
|
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
|
%
|
35,3
|
34,52
|
29,26
|
34,52
|
|
30,43
|
|
|
|
|
-
|
Công nghiệp - xây dựng
|
%
|
21,1
|
21,76
|
20,47
|
21,76
|
|
24,96
|
|
|
|
|
-
|
Dịch vụ
|
%
|
39,7
|
39,9
|
45,74
|
39,9
|
|
41,08
|
|
|
|
|
-
|
Thuế SP trừ trợ cấp SP
|
%
|
3,9
|
3,81
|
4,53
|
3,81
|
|
3,53
|
|
|
|
|
2
|
GRDP bình quân đầu người
|
Triệu đồng
|
72,0
|
80,3
|
|
80,5
|
111,81
|
95,4
|
|
118,5
|
|
|
3
|
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
|
Tỷ đồng
|
58.552
|
73.670
|
28.643
|
68.100
|
116,31
|
70.300
|
95,43
|
103,23
|
|
|
4
|
Tổng giá trị xuất khẩu
|
Triệu USD
|
2.222
|
2.235
|
1.519,3
|
2.235
|
100,59
|
2.330
|
104,25
|
104,25
|
|
|
5
|
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tiêu dùng
|
Tỷ đồng
|
166.660
|
182.281
|
92.741,8
|
182.281
|
109,37
|
201.000
|
110,27
|
110,27
|
|
|
6
|
Ngành du lịch đón khách du lịch
đến tỉnh
|
Triệu lượt khách
|
5,58
|
6,30
|
3,89
|
6,30
|
112,90
|
6,90
|
109,52
|
109,52
|
|
|
|
Doanh thu du lịch đạt
|
Tỷ đồng
|
9.304,7
|
12.600
|
6.965
|
12.600
|
135,42
|
14.500
|
115,08
|
115,08
|
|
7
|
Tổng thu NSNN trên địa bàn
(không kể thu tiền sử dụng đất)
|
Tỷ đồng
|
8.493
|
9.889
|
6.131
|
9.889
|
116,44
|
11.150
|
112,75
|
112,75
|
|
|
8
|
Tỷ lệ đảm bảo tưới cho cây trồng
dùng nước
|
%
|
83,2
|
83,70
|
83,20
|
83,70
|
|
84,10
|
|
|
|
|
9
|
Số căn nhà ở xã hội hoàn
thành và khởi công xây dựng
|
căn
|
393
|
2.800
|
155
|
2.800
|
712,47
|
3.658
|
130,64
|
130,64
|
|
|
10
|
Số doanh nghiệp thành lập mới
|
DN
|
1.936
|
3.688
|
1.476
|
3.688
|
190,50
|
2.400
|
65,08
|
65,08
|
|
|
II
|
VỀ
VĂN HÓA - XÃ HỘI
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
11
|
Giảm nghèo
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo (bình
quân/năm)
|
%
|
|
>=3
|
|
>=3
|
|
>=2
|
|
|
|
|
-
|
Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo
trong đồng bào dân tộc thiểu số
|
%
|
|
>=4
|
|
>=4
|
|
>=3
|
|
|
|
12
|
Số xã đạt chuẩn nông thôn mới
|
xã
|
|
26/88
|
|
26/88
|
|
32/88
|
|
|
|
|
|
Tỷ lệ số xã đạt chuẩn/hoàn
thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
|
%
|
|
29,55
|
|
29,55
|
|
36,36
|
|
|
|
|
13
|
Tỷ lệ trường học đạt chuẩn Quốc
gia
|
%
|
56,85
|
59
|
|
59
|
|
63
|
|
|
|
|
14
|
Lao động, việc làm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực
thành thị
|
%
|
2,3
|
2,20
|
|
2,15
|
|
2,00
|
|
|
|
-
|
Số lao động được tạo việc làm
|
Nghìn người
|
57,425
|
55,80
|
31,65
|
55,80
|
|
56,00
|
100,36
|
100,36
|
|
-
|
Tỷ lệ lao động qua đào tạo
|
%
|
67,0
|
70,00
|
|
70,00
|
|
72,00
|
|
|
|
-
|
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có
cấp bằng cấp, chứng chỉ
|
%
|
23,0
|
25,00
|
|
25,00
|
|
27,00
|
|
|
|
15
|
Y tế
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị
suy dinh dưỡng (cân nặng theo độ tuổi)
|
%
|
13,7
|
13,68
|
13,60
|
|
|
13,30
|
|
|
|
|
-
|
Số giường bệnh trên một vạn
dân (không tính giường của trạm y tế xã)
|
Giường
|
30,19
|
29,80
|
29,70
|
|
|
31,50
|
|
|
|
|
-
|
Số bác sỹ trên một vạn dân
|
Bác sỹ
|
8,39
|
8,60
|
8,60
|
|
|
9,06
|
|
|
|
|
-
|
Tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế
|
%
|
93,65
|
95,00
|
89,75
|
95,00
|
|
95,20
|
|
|
|
|
III
|
VỀ
MÔI TRƯỜNG
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
16
|
Tỷ lệ che phủ rừng
|
%
|
38,82
|
41,37
|
41,37
|
41,37
|
|
41,38
|
|
|
|
|
|
Tỷ lệ dân số thành thị được
cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung
|
%
|
92,0
|
93,13
|
92,13
|
93,13
|
|
93,43
|
|
|
|
|
|
Tỷ lệ dân số nông thôn được sử
dụng nước hợp vệ sinh
|
%
|
98,4
|
98,42
|
|
98,42
|
|
98,5
|
|
|
|
|
|
Tỷ lệ cụm công nghiệp đang hoạt
động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường
|
%
|
|
100,0
|
|
20,0
|
|
29,0
|
|
|
|
|
|
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở
đô thị được thu gom, xử lý theo quy định
|
%
|
91,8
|
92,00
|
91,85
|
92,00
|
|
92,00
|
|
|
|
|
IV
|
VỀ
QUỐC PHÕNG, AN NINH
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
17
|
- Tỷ lệ đạt chỉ tiêu tuyển
quân
|
%
|
100
|
100
|
100
|
100
|
|
100
|
|
|
|
|
|
- Diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh
kết hợp diễn tập phòng thủ dân sự, phòng không nhân dân
|
Lần
|
|
|
|
|
|
01
|
|
|
|
|
|
- Diễn tập chiến đấu cấp xã
(phường) trong khu vực phòng thủ
|
%
|
|
|
|
|
|
30% số đơn vị
|
|
|
|
|
|
- Giáo dục quốc phòng, an
ninh
|
%
|
104,2
|
100
|
20
|
100
|
|
|
|
|
|
|
|
- Tỷ lệ điều tra, khám phá tội
phạm xâm phạm trật tự xã hội
|
%
|
|
85,00
|
80,14
|
85,00
|
|
75,00
|
|
|
|
|
|
Tr đó: Tỷ lệ điều tra, làm
rõ án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng
|
%
|
|
90,00
|
87,50
|
90,00
|
|
90,00
|
|
|
|
|
|
- Giảm tỷ lệ tai nạn giao thông
so với cùng kỳ năm trước
|
|
|
Kiềm giảm tai nạn giao thông so với cùng kỳ
|
|
Kiềm giảm tai nạn giao thông so với cùng kỳ
|
|
Kiềm giảm tai nạn giao thông so với cùng kỳ
|
|
|
|
PHỤ LỤC II:
MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA TỈNH ĐẮK LẮK
(BIỂU TRUNG ƯƠNG)
(Kèm theo Kế hoạch số /KH-UBND
ngày /8/2025 của UBND tỉnh)
|
TT
|
Chỉ tiêu
|
Đơn vị tính
|
Thực hiện năm 2024
|
Năm 2025
|
Năm 2026
|
Ghi chú
|
|
Mục tiêu
|
TH 6 tháng đầu năm
|
Ước TH cả năm
|
Ước TH cả năm so với TH 2024 (%)
|
Mục tiêu
|
So với mục tiêu năm 2025 (%)
|
So với ước TH năm 2025 (%)
|
|
1
|
Tốc độ tăng GRDP
|
%
|
4,92
|
8,00
|
7,14
|
8,00
|
|
9,08
|
|
|
|
|
2
|
Quy mô GRDP theo giá hiện
hành
|
Nghìn tỷ đồng
|
203.924
|
229.249
|
92.162
|
229.249
|
112,42
|
273.318
|
119,22
|
119,22
|
|
3
|
GRDP bình quân đầu người
|
Triệu đồng/người
|
72,0
|
80
|
|
80,5
|
111,81
|
95
|
119,25
|
118,51
|
|
4
|
Cơ cấu kinh tế
|
|
100,0
|
100,00
|
100,00
|
100,00
|
|
100,00
|
|
|
|
-
|
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
|
%
|
35,3
|
34,52
|
29,26
|
34,52
|
|
30,43
|
|
|
|
-
|
Công nghiệp - xây dựng
|
%
|
21,1
|
21,76
|
20,47
|
21,76
|
|
24,96
|
|
|
|
-
|
Dịch vụ
|
%
|
39,7
|
39,9
|
45,74
|
39,9
|
|
41,08
|
|
|
|
-
|
Thuế SP trừ trợ cấp SP
|
%
|
3,9
|
3,81
|
4,53
|
3,81
|
|
3,53
|
|
|
|
5
|
Tổng vốn đầu tư phát triển
trên địa bàn tỉnh
|
Nghìn tỷ đồng
|
58.552
|
73.870
|
28.643
|
68.100
|
116,31
|
70.300
|
95,17
|
103,23
|
|
6
|
Thu ngân sách địa phương
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Tổng thu ngân sách nhà nước
trên địa bàn
|
Tỷ đồng
|
13.889
|
16.310
|
8.718
|
16.310
|
117,43
|
15.607
|
95,69
|
95,69
|
|
+
|
Thu nội địa
|
Tỷ đồng
|
13.761
|
16.138
|
8.573
|
16.132
|
117,23
|
15.422
|
95,56
|
95,60
|
|
|
Thu từ tiền sử dụng đất
|
Tỷ đồng
|
5.396
|
6.421
|
2.588
|
6.095
|
112,95
|
-
|
-
|
-
|
|
|
Thu từ xổ số kiến thiết
|
Tỷ đồng
|
257
|
350
|
228
|
370
|
143,97
|
370
|
105,71
|
100,00
|
|
-
|
Thu ngân sách địa phương hưởng
theo phân cấp
|
Tỷ đồng
|
13.191
|
15.127
|
8.086
|
15.127
|
114,68
|
14.475
|
95,69
|
95,69
|
|
+
|
Thu ngân sách địa phương hưởng
100%
|
Tỷ đồng
|
3.503
|
8.499
|
4.543
|
7.769
|
221,77
|
5.757
|
67,74
|
74,10
|
|
+
|
Thu ngân sách địa phương hưởng
từ các khoản theo phân chia
|
Tỷ đồng
|
9.687
|
6.628
|
3.543
|
7.358
|
75,95
|
8.718
|
131,53
|
118,48
|
|
7
|
Chi ngân sách địa phương
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Tổng chi cân đối ngân sách địa
phương
|
Tỷ đồng
|
29.169
|
33.146
|
17.714
|
32.246
|
110,55
|
-
|
-
|
-
|
|
+
|
Chi đầu tư
|
Tỷ đồng
|
7.220
|
6.766
|
4.398
|
5.866
|
81,25
|
6.948
|
102,69
|
118,44
|
|
+
|
Chi thường xuyên (bao gồm chi
cải cách tiền lương, tinh giản biên chế)
|
Tỷ đồng
|
21.289
|
25.608
|
13.316
|
25.608
|
120,29
|
26.296
|
102,69
|
102,69
|
|
8
|
Bội thu/Bội chi ngân sách địa
phương
|
Tỷ đồng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
9
|
Số doanh nghiệp đang hoạt động
và kê khai thuế đến cuối kỳ báo cáo
|
Nghìn DN
|
16.922
|
19.328
|
17.807
|
19.328
|
114,22
|
22.202
|
114,87
|
114,87
|
|
|
10
|
Về đầu tư trực tiếp nước
ngoài còn hiệu lực lũy kế đến cuối kỳ báo cáo
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Số dự án
|
Dự án
|
63
|
65
|
63
|
65
|
103,17
|
67
|
103,08
|
103,08
|
|
-
|
Vốn đăng ký
|
Triệu USD
|
2.219
|
3.000
|
2.219
|
3.000
|
135,19
|
4.000
|
133,33
|
133,33
|
|
11
|
Dân số trung bình
|
Nghìn người
|
2.831
|
|
|
2.848
|
100,59
|
2.866
|
|
100,62
|
|
|
12
|
Lực lượng lao động từ 15 tuổi
trở lên
|
Nghìn người
|
1.628
|
|
|
1.639
|
100,68
|
1.655
|
|
100,94
|
|
|
13
|
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở
lên đang làm việc so với tổng dân số
|
%
|
56,64
|
|
|
56,65
|
|
56,62
|
|
|
|
|
14
|
Tỷ lệ lao động qua đào tạo
|
%
|
67
|
70
|
|
70
|
|
72
|
|
|
|
|
15
|
Số xã đạt chuẩn nông thôn mới
|
xã
|
|
26/88
|
|
26/88
|
|
32/88
|
|
|
|
|
16
|
Tỷ lệ số xã đạt chuẩn/hoàn thành
nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
|
%
|
|
29,55
|
|
29,55
|
|
36,36
|
|
|
|
|
17
|
Hộ nghèo theo chuẩn đa chiều
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
-
|
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
nghèo đa chiều
|
%
|
2,01
|
>=3
|
|
>=3
|
|
>=2
|
|
|
|
|
-
|
Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo theo
chuẩn nghèo đa chiều
|
%
|
6,03
|
>=4
|
|
>=4
|
|
>=3
|
|
|
|
18
|
Số căn nhà ở xã hội hoàn
thành và khởi công xây dựng
|
Căn
|
|
2.800
|
155
|
2.800
|
|
3.658
|
130,64
|
130,64
|
|
[1] Trong đó diện tích cây công
nghiệp là 307.708 ha, tăng 23 ha; diện tích cây ăn quả 76.461 ha, tăng 828 ha.
Hiện nay, bà con đang triển khai chăm sóc tốt diện tích cây lâu năm kế hoạch đề
ra
[2] Gồm: 675 hồ chứa nước, 286 đập
dâng, 244 trạm bơm và 02 hệ thống đê bao.
[3] Diện tích cây trồng có nhu cầu
tưới khoảng 449.000 ha, tổng diện tích cây trồng được tưới hơn 373.846 ha;
trong đó diện tích tưới trực tiếp từ công trình thủy lợi 204.347 ha, diện tích
tưới do tạo nguồn hỗ trợ và các hình thức công trình khác khai thác nước tưới từ
các nguồn nước mặt sông suối, ao và nước ngầm tưới cho khoảng 169.499 ha.
[4] Dự án thành phần 3 do tỉnh
làm chủ đầu tư: Tổng mức đầu tư 6.165 tỷ đồng, có chiều dài tuyến 48,09km, địa
điểm vị trí đầu tư: Ea Kar, Krông Pắc, Cư Kuin. Đến nay, giải phóng và nhận mặt
bằng đạt 100%. Tổng khối lượng thi công đạt 55%. Lũy kế vốn đã giao để thực hiện
dự án đạt 70% TMĐT, kế hoạch năm 2025 là 2.042 tỷ đồng, đã giải ngân 606,321 tỷ
đồng, đạt 30%KH
[5] Đến nay, khối lượng thi công
đạt 75,35% hợp đồng (Trong đó: Đoạn Quy Nhơn - Chí Thạnh đạt 72,87% hợp đồng;
Đoạn Chí Thạnh - Vân Phong đạt 78% hợp đồng). Quyết tâm hoàn thành dự án thành
phần đoạn Quy Nhơn - Chí Thạnh trong tháng 9/2025 và dự án thành phần đoạn Chí
Thạnh - Vân Phong trong năm 2025 theo chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
[6] Dự án Cải tạo, nâng cấp tỉnh
lộ 1 đoạn từ cầu Buôn Ky, thành phố Buôn Ma Thuột đến Km 49+00: Dự án có tổng mức
đầu tư 1.053 tỷ đồng (khởi công năm 2022), lũy kế vốn đã giao đến hết kế hoạch
năm 2024 là 1.015 tỷ đồng (Đạt 96,4 theo TMĐT). Dự án đang triển khai thi công,
khối lượng đạt khoảng 82%.
[7] Dự án có tổng mức đầu tư
2.228 tỷ đồng, có chiều dài tuyến 14,7km, dự án đã khởi công năm 2025, lũy kế vốn
đã giao đến hết kế hoạch năm 2025 là 824 tỷ đồng, đạt 37% theo TMĐT. Đến nay,
đang thực hiện các thủ tục xin cấp phép sử dụng vật liệu nổ, khối lượng thực hiện
đến nay đạt 2,8%, kế hoạch năm 2025 là 450 tỷ đồng, đã giải ngân 20,492 tỷ đồng,
đạt 4,6%KH.
[8] Dự án có tổng mức đầu tư 659
tỷ đồng (NSTW: 600 tỷ đồng; NSĐP: 59 tỷ đồng), có chiều dài tuyến 7,482km, dự
án đã khởi công mới năm 2025, lũy kế vốn đã giao đến hết kế hoạch năm 2025 là
599,240 tỷ đồng (NSTW), đạt 90,9% theo TMĐT. Dự án đã khởi công vào tháng
01/2024. Đến nay, đã bàn giao khoảng 4,48/7,482km (đạt 60%), khối lượng thực hiện
đến nay đạt 23%, kế hoạch năm 2025 là 417 tỷ đồng, đã giải ngân 71,8 tỷ đồng, đạt
17,2%KH.
[9] (1) Dự án “Giảm thiểu khí thải tại khu vực Tây Nguyên
và duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu Chương
trình hành động quốc gia REDD+” do IFAD và GCF đồng tài trợ;
(2) Dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị trên địa bàn thị xã
Buôn Hồ, giai đoạn 1;
(3) Dự án Phát triển cơ sở hạ tầng
huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk;
(4) Đề xuất Dự án Phát triển hạ
tầng chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu: UBND
tỉnh Đắk Lắk đã có trình Đảng ủy UBND tỉnh báo cáo BTV dừng triển khai thực hiện
dự án;
(5) Dự án Phát triển đô thị khu vực phía Đông và dọc hành lang suối Ea Nao -
Ea Tam, Buôn Ma Thuột.
[10] Thu từ hoạt động xổ số kiến
thiết: 228 tỷ đồng, tăng 10,84 % so với cùng kỳ năm 2024, đạt 68,05% dự toán TW
và 61,61% dự toán HĐND tỉnh giao; Thu thuế XNK: 96 tỷ đồng, giảm 6,55% so với
cùng kỳ năm trước, đạt 61,82% dự toán TW và 53,95% dự toán HĐND tỉnh giao.
[11] Trong đó: Chi đầu tư phát
triển: 9.334 tỷ đồng, tăng 27,27 % so với cùng kỳ năm 2024, đạt 79,69% dự toán
TW giao và đạt 73,18% dự toán HĐND tỉnh giao. Chi thường xuyên 13.275 tỷ đồng,
tăng 42,08 % so với cùng kỳ năm 2024, đạt 48,71% dự toán TW giao và 48,25% dự
toán HĐND giao.
[12] Đã phê duyệt danh sách
các HTX nông nghiệp thực hiện hỗ trợ đưa lao động trẻ tốt nghiệp cao đẳng, đại
học, sau đại học về làm việc trong năm 2025; ban hành Đề án tổ chức, sắp xếp lại
Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã tỉnh; hỗ trợ các HTX, THT nâng cao chất lượng
sản phẩm hàng hóa, tham gia trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại các chương trình
xúc tiến thương mại của địa phương…
[13] Gồm thành phố Iksan, tỉnh
Jeonbuk, quận Uiseong, tỉnh Gyeongsangbuk, mở rộng sang quận Jindo, tỉnh
Jeollanam.
[14] Có 167 đoàn vào gồm 744
lượt người nước ngoài đến thăm, làm việc tại tỉnh, trong đó có 04 đoàn cơ quan
đại diện ngoại giao tại Việt Nam của các nước: Thụy Sỹ, Liên minh châu Âu,
Australia, Ấn Độ; 05 đoàn chính quyền địa phương của các nước: Lào (03 đoàn),
Campuchia (01 đoàn), Pháp (01 đoàn); 27 đoàn ra gồm 91 lượt người đi nước ngoài
(trong đó có 04 đoàn cấp tỉnh đi Campuchia; Lào; Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống
nhất (UAE); Séc, Bỉ, Thụy Sĩ).
[15] Như: Tổ chức thành công
Triển lãm “Đắk Lắk - 50 năm xây dựng và phát triển”; Hội chợ triển lãm ngành Cà
phê và sản phẩm OCOP; Lễ hội đường phố; Hội thi Nhà nông đua tài; Lễ hội ánh
sáng và đặc biệt là chương trình văn nghệ giao lưu với Đoàn nghệ thuật của tỉnh
tự trị đặc biệt Jeonbuk - Hàn Quốc; Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ công nhận bảo vật quốc gia Phù điêu Kala Núi Bà; tổ chức Chương trình nghệ
thuật Trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia - Lễ hội Cầu ngư chủ đề
“Tinh hoa di sản miền biển Phú Yên”, kết hợp truyền thống và công nghệ hiện đại
như 3D mapping để tái hiện các nghi lễ rước Ông, cúng tế thần Nam Hải, múa siêu
và đặc biệt là màn hò bả trạo do ngư dân, nghệ nhân địa phương biểu diễn, góp
phần quảng bá bản sắc văn hóa miền biển đến du khách; Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc
tỉnh Phú Yên năm 2025,…
[16] Tổ chức thẩm định và cấp
07 giấy phép tiến hành công việc bức xạ, 10 chứng chỉ nhân viên bức xạ. Tư vấn,
hỗ trợ bảo hộ 10 nhãn hiệu, 01 kiểu dáng công nghiệp, 01 sáng chế bơm chìm.
[17] Quyết định số 962/QĐ-UBND
ngày 11/6/2025 của UBND tỉnh phê duyệt tổ chức chủ trì, cá nhân chủ nhiệm, dự
toán kinh phí và thời gian thực hiện 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh
năm 2025: Đề tài: Xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp ứng phó xâm nhập mặn
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển tỉnh Phú Yên”
[18] Kế hoạch vốn đã được phân bổ để thực hiện năm 2025
là: 1.770.436 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển: 983.252 triệu đồng; vốn sự
nghiệp: 787.184 triệu đồng), trong đó: Vốn chuyển nguồn năm 2022, 2023, 2024
chuyển nguồn sang năm 2025 là 701.298 triệu đồng; Vốn giao năm 2025 là
1.069.138 triệu đồng.
Số vốn thực hiện và giải ngân đến nay là 392.018 triệu đồng, đạt 24,14% kế
hoạch.
[19] Nếu tính theo số Cục Thống
kê thông báo ước lần 1 năm 2025.
[20] Do có 01 chỉ tiêu thành
phần không đạt là “Tỷ lệ khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý
nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường”.
[21] (1) Dự án nhà ở xã hội
cán bộ, công chức, viên chức Km4-5 phường Buôn Ma Thuột giai đoạn 2 - 80 căn
nhà ở xã hội; (2) Dự án nhà ở xã hội cho cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh tại phường
Thành Nhất, giai đoạn 1 - 800 căn nhà ở xã hội; (3) Dự án Khu nhà ở thương mại
P. Tân Lập - 61 căn nhà ở xã hội; (4) Dự án Khu dân cư nông thôn mới Hòa Thắng,
P. Tân Lập - 800 căn nhà ở xã hội; (5) Dự án Khu nhà ở xã hội xã An Phú, thành
phố Tuy Hòa - 2.270 căn nhà ở xã hội; (6) Dự án Khu nhà ở xã hội phía Bắc đường
Trần Phú, phường 9, thành phố Tuy Hòa - 480 căn nhà ở xã hội.