|
VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN
TỐI CAO -
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 07/2026/TTLT-VKSNDTC-TANDTC
|
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2026
|
THÔNG TƯ
LIÊN TỊCH
QUY ĐỊNH VIỆC PHỐI HỢP GIỮA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA BỘ
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân số 63/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 82/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân số 34/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 81/2025/QH15, Luật số 142/2025/QH15 và Luật số 150/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự
số 92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Bộ luật số 45/2019/QH14, Luật số 59/2020/QH14, Luật số 13/2022/QH15, Luật số 19/2023/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 46/2024/QH15 và Luật số 85/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15;
Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban hành quy định
việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi
hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chương I
QUY
ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
Thông tư liên tịch này quy định việc phối
hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là Viện kiểm sát) và Tòa án
nhân dân (sau đây viết tắt là Tòa án) trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là
BLTTDS) về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, Tòa án; tham gia phiên tòa,
phiên họp của Tòa án; chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, gửi văn bản tố tụng; kiểm
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị,
kháng nghị của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự.
Điều 2. Đối tượng
áp dụng
Thông tư liên tịch này áp dụng đối với:
1. Tòa án, Viện kiểm sát các cấp;
2. Đơn vị, cá nhân có thẩm quyền thuộc
Tòa án, Viện kiểm sát các cấp;
3. Cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân
khác có liên quan.
Điều 3. Việc ký
quyết định kháng nghị
Chánh án, Viện trưởng đã quyết định
kháng nghị trực tiếp ký quyết định kháng nghị hoặc phân công Phó Chánh án, Phó
Viện trưởng ký quyết định kháng nghị.
Trường hợp Phó Chánh án, Phó Viện trưởng
ký quyết định kháng nghị thì ghi rõ là ký thay Chánh án (viết tắt là “KT. CHÁNH
ÁN”) hoặc ký thay Viện trưởng (viết tắt là “KT. VIỆN TRƯỞNG”).
Chương II
CHUYỂN
HỒ SƠ, TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ, GỬI VĂN BẢN TỐ TỤNG GIỮA TÒA ÁN VÀ VIỆN KIỂM SÁT
Điều 4. Tòa án
chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp
1. Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để
Viện kiểm sát nghiên cứu, tham gia phiên tòa được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 220, Điều 292, khoản 3 Điều 318, khoản
2 Điều 323, khoản 2 Điều 336 và Điều 357 BLTTDS.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm, tái
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực
thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Tòa án nhân
dân cấp tỉnh. Sau khi thụ lý vụ án để xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh để
nghiên cứu, tham gia phiên tòa. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trả lại hồ sơ cho Tòa án.
2. Đối với phiên họp xét kháng cáo quá
hạn, Tòa án cấp phúc thẩm gửi đơn kháng cáo quá hạn, bản tường trình của người
kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Viện kiểm
sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn
và tài liệu, chứng cứ, Viện kiểm sát trả lại cho Tòa án.
3. Đối với phiên họp phúc thẩm xem xét
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm
gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát trả lại hồ sơ cho Tòa án.
4. Đối với phiên họp xét đơn yêu cầu,
phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài;
không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu
thi hành tại Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng
tài nước ngoài, Tòa án gửi hồ sơ cùng quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát
cùng cấp trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở phiên họp. Trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát trả lại hồ sơ cho Tòa án.
5. Đối với phiên họp xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo thủ tục đặc biệt,
phiên họp giải quyết việc dân sự thì việc chuyển hồ sơ vụ án, việc dân sự cho
Viện kiểm sát được thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản
5 Điều 359, khoản 3 Điều 366 và khoản 3 Điều 373 BLTTDS.
Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội hoặc đề nghị
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc xem xét lại quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm
sát nhân dân tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó cùng hồ
sơ vụ án trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị hoặc đề
nghị.
6. Trường hợp Viện kiểm sát đã nhận được
hồ sơ để xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm,
xem xét kiến nghị theo thủ tục đặc biệt thì Tòa án không phải chuyển hồ sơ cho
Viện kiểm sát đó để tham gia phiên tòa, phiên họp mà chỉ gửi quyết định đưa vụ
án ra xét xử, quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát theo quy định của BLTTDS và Thông tư liên tịch này.
Điều 5. Tòa án
chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để Viện kiểm sát xem xét kháng nghị phúc thẩm
Việc chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện
kiểm sát để xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, xem xét kháng nghị quyết
định của Tòa án trong thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không
công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; không công nhận bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt
Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài
được thực hiện như sau:
1. Sau khi nhận được bản án, quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà Viện kiểm sát cùng cấp hoặc
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân
sự để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì Viện kiểm sát gửi văn
bản yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát.
Sau khi nhận được một trong các quyết định
quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 437, khoản 5 Điều 438, khoản
3 Điều 446, khoản 2 Điều 449, khoản 2 và khoản 3 Điều 457,
khoản 5 Điều 458 BLTTDS mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực hoặc Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ để xem xét việc kháng
nghị thì Viện kiểm sát gửi văn bản yêu cầu Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ
sơ cho Viện kiểm sát.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được văn bản yêu cầu chuyển hồ sơ, Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm
sát có văn bản yêu cầu.
3. Chậm nhất là ngay sau khi hết thời hạn
kháng nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 280, khoản 2 Điều
322, khoản 2 Điều 372, khoản 2 Điều 442, khoản 3 Điều 446,
Điều 450 và khoản 2 Điều 461 BLTTDS, Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Tòa án đã
chuyển hồ sơ.
Điều 6. Tòa án
chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
Khi Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền
xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì việc chuyển hồ sơ vụ việc dân sự được thực
hiện như sau:
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh có văn bản yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực đã ra bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật chuyển hồ sơ vụ việc dân sự đó cho Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao có văn bản yêu cầu Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ
vụ việc dân sự đó cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được văn bản yêu cầu chuyển hồ sơ, Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự
cho Tòa án, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu.
Ngay sau khi hết thời hạn kháng nghị
quy định tại Điều 334 hoặc Điều 355 BLTTDS, Tòa án, Viện kiểm
sát trả hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ sơ.
2. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị giám đốc
thẩm hoặc kháng nghị tái thẩm thì Viện kiểm sát chuyển ngay hồ sơ vụ việc cùng
quyết định kháng nghị cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo
quy định tại khoản 3 Điều 336 hoặc Điều 357 BLTTDS; đồng thời
thông báo cho Tòa án đã chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát biết.
3. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát
cùng có yêu cầu chuyển hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì việc chuyển hồ sơ được thực hiện như sau:
a) Trường hợp cùng nhận được văn bản
yêu cầu của Tòa án và Viện kiểm sát hoặc trường hợp đã nhận được văn bản yêu cầu
của Viện kiểm sát trước nhưng trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được yêu cầu, hồ sơ chưa được chuyển cho Viện kiểm sát mà lại nhận được yêu cầu
của Tòa án, thì Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ cho Tòa án có yêu cầu và
thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có yêu cầu biết.
b) Trường hợp Tòa án hoặc Viện kiểm sát
đã nhận được hồ sơ trước thì trong thời hạn 03 tháng (hoặc trong thời hạn 06
tháng đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan) kể từ ngày nhận được
hồ sơ, nếu Tòa án, Viện kiểm sát không kháng nghị thì việc chuyển hồ sơ được thực
hiện như sau:
Nếu Tòa án đã nhận được hồ sơ trước
nhưng không có kháng nghị mà Viện kiểm sát tiếp tục có yêu cầu chuyển hồ sơ thì
Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đã có yêu cầu và thông báo ngay cho Tòa
án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Trường hợp Viện kiểm sát không tiếp tục yêu cầu
chuyển hồ sơ thì Tòa án trả lại hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Viện
kiểm sát có yêu cầu đã nhận được hồ sơ nhưng không kháng nghị thì Viện kiểm sát
chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu.
Nếu Viện kiểm sát đã nhận được hồ sơ
trước nhưng không có kháng nghị mà Tòa án vẫn tiếp tục có yêu cầu chuyển hồ sơ
thì Viện kiểm sát chuyển hồ sơ cho Tòa án đã có yêu cầu và thông báo ngay cho
Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Trường hợp Tòa án không tiếp tục yêu cầu chuyển
hồ sơ thì Viện kiểm sát trả lại hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu. Tòa
án có yêu cầu đã nhận được hồ sơ nhưng không kháng nghị thì Tòa án chuyển hồ sơ
vụ việc dân sự cho Tòa án đã chuyển hồ sơ ban đầu.
c) Trường hợp Tòa án đang quản lý hồ sơ
nhận được yêu cầu của Tòa án hoặc Viện kiểm sát trước mà không có yêu cầu hoãn
thi hành án, nếu trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, hồ sơ
chưa được chuyển cho cơ quan đó thì Tòa án chuyển hồ sơ cho Tòa án hoặc Viện kiểm
sát đã có yêu cầu hoãn thi hành án và thông báo cho cơ quan không được chuyển hồ
sơ biết.
d) Tòa án và Viện kiểm sát phối hợp trong
việc chuyển hồ sơ vụ án để bảo đảm cho việc xem xét kháng nghị khi thuộc một
trong những trường hợp sau đây:
d1) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm còn lại không quá 06 tháng;
d2) Sau khi Tòa án đã chuyển hồ sơ cho
Tòa án hoặc Viện kiểm sát có yêu cầu nhưng không có yêu cầu hoãn thi hành án mới
nhận được yêu cầu chuyển hồ sơ của Tòa án hoặc Viện kiểm sát có yêu cầu hoãn
thi hành án;
d3) Để phục vụ hoạt động giám sát của
cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.
Điều 7. Chuyển hồ
sơ để xem xét việc kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao
Khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ
án để xem xét việc kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc chuyển hồ sơ vụ án được thực hiện như
sau:
1. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao gửi văn bản yêu cầu Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ
vụ án.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được văn bản yêu cầu chuyển hồ sơ, Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ
sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày nhận
được hồ sơ vụ án, nếu không có kiến nghị, đề nghị thì Tòa án nhân dân tối cao
hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ cho Tòa án đã chuyển hồ
sơ.
2. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao kiến nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuyển ngay hồ sơ vụ án
cùng với kiến nghị cho Tòa án nhân dân tối cao; đồng thời thông báo bằng văn bản
cho Tòa án đã chuyển hồ sơ biết.
Điều 8. Phương thức
chuyển hồ sơ , văn bản tố tụng
1. Hồ sơ vụ việc dân sự có thể được
chuyển qua đường bưu chính hoặc chuyển trực tiếp.
2. Tất cả tài liệu trong hồ sơ vụ việc
dân sự (bao gồm tài liệu cũ và tài liệu mới bổ sung, nếu có) đều phải được đánh
số, sắp xếp theo quy định tại khoản 2 Điều 204 BLTTDS và có
bản kê danh mục tài liệu. Trước khi chuyển hồ sơ vụ việc dân sự từ Tòa án sang
Viện kiểm sát hoặc ngược lại, cơ quan chuyển hồ sơ phải kiểm tra đầy đủ tài liệu
trong hồ sơ.
3. Trường hợp gửi hồ sơ theo đường bưu
chính thì người trực tiếp nhận hồ sơ đầu tiên của Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải
kiểm tra niêm phong; nếu niêm phong không còn nguyên vẹn thì phải lập biên bản
ngay xác nhận tình trạng hồ sơ, có xác nhận của nhân viên bưu chính và báo cáo
lãnh đạo đơn vị trực tiếp phụ trách, đồng thời thông báo ngay cho cơ quan chuyển
hồ sơ để phối hợp giải quyết. Trường hợp niêm phong còn nguyên vẹn nhưng tài liệu
trong hồ sơ bị thiếu so với bản kê danh mục tài liệu thì phải báo cáo lãnh đạo
đơn vị trực tiếp phụ trách để lập biên bản ngay và thông báo cho cơ quan chuyển
hồ sơ biết để phối hợp giải quyết. Ngày nhận hồ sơ là ngày cơ quan nhận hồ sơ
tiếp nhận hồ sơ tại trụ sở.
4. Trường hợp hồ sơ vụ việc dân sự được
chuyển trực tiếp thì thủ tục giao nhận hồ sơ do Tòa án chuyển cho Viện kiểm sát
được thực hiện tại trụ sở Viện kiểm sát; thủ tục giao nhận hồ sơ do Viện kiểm
sát chuyển trả cho Tòa án được thực hiện tại trụ sở Tòa án. Người nhận hồ sơ phải
đối chiếu bản kê danh mục tài liệu với tài liệu đã được đánh số trong hồ sơ. Việc
giao nhận hồ sơ phải được lập biên bản, ghi rõ thời gian, địa điểm giao nhận,
tình trạng hồ sơ, có chữ ký và họ tên của những người tiến hành giao nhận hồ
sơ.
5. Việc gửi văn bản tố tụng của Tòa án
và Viện kiểm sát được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc được thực
hiện bằng phương tiện điện tử theo quy định của BLTTDS
và pháp luật khác có liên quan.
Điều 9. Chuyển
giao tài liệu, chứng cứ được cung cấp, thu thập bổ sung cho Viện kiểm sát
Trường hợp hồ sơ vụ việc dân sự đã được
chuyển cho Viện kiểm sát mà trước khi mở hoặc mở lại phiên tòa, phiên họp có
tài liệu, chứng cứ do đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Tòa án
hoặc do Tòa án thu thập bổ sung thì Tòa án chuyển ngay cho Viện kiểm sát bản
sao tài liệu, chứng cứ đó.
Điều 10. Thông
báo, chuyển tài liệu, chứng cứ do Viện kiểm sát thu thập
Tài liệu, chứng cứ do Viện kiểm sát thu
thập theo quy định tại khoản 6 Điều 97 và khoản 2 Điều 330
BLTTDS được thông báo cho đương sự theo quy định tại khoản
5 Điều 97 BLTTDS, được chuyển cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự và
bảo quản tại Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 107 BLTTDS.
Điều 11. Gửi quyết
định giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án
khác
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị
về việc chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác quy định tại khoản
1 Điều 41 BLTTDS được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 12. Gửi văn bản
thông báo về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn
cấp tạm thời
Văn bản thông báo của Thẩm phán về việc
không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định
tại điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 133, Điều 137 và khoản 3 Điều
138 BLTTDS được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 13. Gửi văn bản
trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; văn bản thông báo ngày mở phiên họp giải
quyết khiếu nại, kiến nghị; quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc
trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
1. Tòa án gửi văn bản trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu cho Viện kiểm sát cùng cấp theo quy định tại khoản
2 Điều 192, khoản 2 Điều 364 BLTTDS được thực hiện theo từng vụ, việc.
2. Tòa án thông báo bằng văn bản cho Viện
kiểm sát cùng cấp về ngày mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị
về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu ngay sau khi quyết định mở phiên họp.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến
nghị của Thẩm phán quy định tại khoản 4 Điều 194 và khoản 3 Điều
364 BLTTDS được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 14. Gửi văn bản
thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa sau khi hoãn, việc tiếp tục tạm
ngưng phiên tòa
1. Việc thông báo về thời gian, địa điểm
mở lại phiên tòa theo quy định tại khoản 4 Điều 233 BLTTDS
được thực hiện bằng văn bản.
2. Trường hợp Hội đồng xét xử đã quyết
định tạm ngừng phiên tòa và thời hạn tạm ngừng dưới 01 tháng; hết thời hạn này
mà Tòa án quyết định tiếp tục tạm ngừng phiên tòa vì lý do tạm ngừng phiên tòa
chưa được khắc phục thì Tòa án thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát
cùng cấp về việc tiếp tục tạm ngừng phiên tòa. Thời hạn tối đa của việc tạm ngừng
phiên tòa là không quá 01 tháng kể từ ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng
phiên tòa.
Điều 15. Gửi văn bản
thông báo về việc kháng cáo, thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo
1. Tòa án cấp sơ thẩm gửi ngay văn bản
thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 277 BLTTDS. Việc gửi văn bản thông báo về việc
kháng cáo cho Viện kiểm sát cùng cấp được thực hiện theo từng vụ án. Trường hợp
trong một vụ án có nhiều người kháng cáo thì Tòa án có thể thông báo trong một
văn bản về việc kháng cáo của những người kháng cáo trong vụ án đó.
2. Trước khi mở phiên tòa mà người
kháng cáo thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm gửi ngay
văn bản thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút
kháng cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 284 BLTTDS. Trường
hợp trong một vụ án có nhiều người thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo thì Tòa án
có thể thông báo trong một văn bản về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo của
những người kháng cáo trong vụ án đó.
Điều 16. Gửi văn bản
thông báo, quyết định về việc xem xét kháng cáo quá hạn
1. Tòa án cấp phúc thẩm gửi văn bản
thông báo về thời gian mở phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn cho Viện kiểm sát
cùng cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 275 BLTTDS. Trường
hợp hoãn phiên họp thì thông báo thời gian mở lại phiên họp sau khi hoãn.
2. Tòa án cấp phúc thẩm gửi cho Viện kiểm
sát cùng cấp quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn, quyết định không chấp nhận
kháng cáo quá hạn quy định tại khoản 3 Điều 275 BLTTDS
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Điều 17. Gửi văn bản
giải thích lý do kháng nghị quá hạn
Trường hợp tính đến ngày, tháng, năm
ghi trên quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà đã quá thời hạn kháng nghị
theo quy định tại các điều 280, 322, 372, 442,
446, 450 và 461 BLTTDS thì Tòa án cấp sơ thẩm nhận được kháng nghị có văn bản
yêu cầu Viện kiểm sát đã kháng nghị giải thích lý do kháng nghị quá hạn.
Văn bản giải thích lý do kháng nghị quá
hạn của Viện kiểm sát được gửi cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được yêu cầu.
Điều 18. Gửi quyết
định thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, văn
bản thông báo về thời gian mở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm
1. Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm,
tái thẩm gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm quyết định thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm của Chánh án Tòa án quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 335, Điều 357 BLTTDS.
Quyết định thay đổi, bổ sung, rút quyết
định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 335, Điều 357 BLTTDS được gửi
ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm.
2. Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm,
tái thẩm gửi văn bản thông báo cho Viện kiểm sát về thời gian mở phiên tòa giám
đốc thẩm, tái thẩm; trường hợp hoãn phiên tòa thì thông báo thời gian mở lại
phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm sau khi hoãn. Việc thông báo được thực hiện
chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở, mở lại phiên tòa.
Điều 19. Gửi quyết
định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài; không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài; không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có
yêu cầu thi hành tại Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết
của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 443, khoản 3
Điều 446, Điều 450 và khoản 6 Điều 462 BLTTDS được gửi cho Viện kiểm sát
cùng cấp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 20. Gửi quyết
định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo
1. Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại, tố cáo gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, kết luận nội dung tố
cáo cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có
quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo.
2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại gửi quyết định giải quyết khiếu nại lần hai cho Viện kiểm sát cùng cấp trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày có quyết định giải quyết khiếu nại.
Chương III
VIỆC
THỰC HIỆN QUYỀN YÊU CẦU, QUYỀN KIẾN NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
Điều 21. Quyền yêu
cầu, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên
1. Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định
thực hiện các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị quy định tại BLTTDS và Thông tư liên tịch này.
2. Kiểm sát viên quyết định thực hiện
các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị sau đây:
a) Các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị
quy định tại các khoản 3, 6 và 8 Điều 58, khoản 4 Điều 236,
điểm c khoản 1 Điều 254, Điều 255 và Điều 258 BLTTDS;
b) Yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc
dân sự theo quy định tại các điều 4, 5, 6 và 7 Thông tư liên tịch
này;
c) Yêu cầu Tòa án cho sao chụp bản sao
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ trong trường hợp trả lại đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu theo Điều 22 Thông tư liên tịch này;
d) Yêu cầu người gửi đơn sửa đổi, bổ
sung đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo khoản 2 Điều 329 và
Điều 357 BLTTDS;
đ) Yêu cầu Tòa án, cơ quan khác, tổ chức,
cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Điều 515 BLTTDS và khoản 3 Điều 36 Thông tư
liên tịch này;
e) Kiến nghị quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ hoặc việc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại
phiên tòa;
g) Kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo khoản 1 Điều 194 và khoản 3 Điều 364 BLTTDS.
Điều 22. Yêu cầu
Tòa án cho sao chụp bản sao đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ
trong trường hợp trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
1. Trường hợp Viện kiểm sát cần xem xét
kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc sau khi nhận được thông
báo mở phiên họp giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
thì Viện kiểm sát gửi văn bản yêu cầu Tòa án cho sao chụp một số hoặc toàn bộ bản
sao đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận
được yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án giao cho Viện kiểm sát văn bản cần sao
chụp theo yêu cầu tại trụ sở Tòa án. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được
văn bản cần sao chụp, Viện kiểm sát phải trả lại văn bản cho Tòa án.
Điều 23. Yêu cầu
Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ
1. Trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự, nếu Kiểm sát viên xét thấy cần xác minh, thu thập thêm chứng cứ để bảo
đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật thì Kiểm sát
viên gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 58 BLTTDS.
2. Trước khi mở phiên tòa, phiên họp,
Kiểm sát viên gửi văn bản yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ cho Tòa án
đang giải quyết vụ việc dân sự. Văn bản yêu cầu phải nêu rõ chứng cứ cần xác
minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ đó. Tòa án gửi cho Kiểm
sát viên bản sao tài liệu, chứng cứ ngay sau khi Tòa án thu thập được. Nếu tại
phiên tòa, phiên họp, Tòa án mới nhận được tài liệu, chứng cứ đó thì Tòa án
công bố tài liệu, chứng cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều
254 và khoản 1 Điều 303 BLTTDS.
Trường hợp việc xác minh, thu thập chứng
cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên là không thể thực hiện được hoặc Tòa án xét
thấy không cần thiết thì chậm nhất là đến ngày hết thời hạn mở phiên tòa, phiên
họp theo quyết định của Tòa án, Tòa án thông báo cho Kiểm sát viên bằng văn bản
và nêu rõ lý do.
3. Tại phiên tòa, phiên họp, nếu Kiểm
sát viên yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ thì phải nêu rõ chứng cứ cần
xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập chứng cứ đó. Căn cứ quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 259 BLTTDS, Thẩm phán, Hội đồng xét xử
quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên. Trường hợp
Thẩm phán, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên thì phải
nêu rõ lý do, Kiểm sát viên tiếp tục tham gia phiên tòa, phiên họp. Yêu cầu Tòa
án xác minh, thu thập chứng cứ của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp và việc
Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát
viên phải được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp.
Trường hợp đã tạm ngừng phiên tòa,
phiên họp nhưng việc xác minh, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Kiểm sát viên
là không thể thực hiện được thì trước ngày Tòa án tiếp tục phiên tòa, phiên họp,
Tòa án thông báo cho Kiểm sát viên bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 24. Yêu cầu sửa
đổi, bổ sung biên bản phiên tòa, phiên họp
Sau khi kết thúc phiên tòa, phiên họp,
Kiểm sát viên có quyền xem biên bản phiên tòa, phiên họp, yêu cầu ghi những sửa
đổi, bổ sung (nếu có) vào biên bản. Yêu cầu của Kiểm sát viên được thực hiện
ngay và Kiểm sát viên ký xác nhận những nội dung sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 4 Điều 236 BLTTDS.
Chương IV
VIỆN
KIỂM SÁT THAM GIA PHIÊN TÒA, PHIÊN HỌP
Điều 25. Thông báo
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp
1. Đối với vụ việc dân sự thuộc trường
hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa, phiên họp thì trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ việc dân sự
theo quy định tại các điều 196, 285 và 365 BLTTDS hoặc thụ
lý hồ sơ theo quy định tại Điều 436, khoản 3 Điều 446, khoản 1
Điều 449 và Điều 455 BLTTDS, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định phân
công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp.
Trước khi có quyết định đưa vụ án ra
xét xử, nếu Viện kiểm sát phát hiện vụ án dân sự thuộc trường hợp Viện kiểm sát
phải tham gia phiên tòa sơ thẩm mà đã hết thời hạn Viện kiểm sát phải gửi cho
Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa quy định tại khoản
này thì Viện kiểm sát gửi ngay cho Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên
tham gia phiên tòa. Tòa án gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát
nghiên cứu, tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 1
Điều 4 Thông tư liên tịch này.
2. Trường hợp Viện kiểm sát tham gia
phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, phiên họp xét lại quyết định bị
kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc
không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; không công nhận
bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại
Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước
ngoài, thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở phiên họp,
Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định phân công Kiểm sát viên tham gia phiên
họp.
3. Trường hợp Viện kiểm sát tham gia
phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu, phiên họp phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị
kháng cáo, kháng nghị, phiên họp xét kháng cáo quá hạn, xét lý do chậm nộp biên
lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định
phân công Kiểm sát viên tham gia phiên họp ngay sau khi nhận được thông báo của
Tòa án về thời gian mở phiên họp.
4. Trường hợp vụ việc phức tạp hoặc xét
thấy cần thiết thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thể phân công Kiểm sát viên dự
khuyết.
Quyết định phân công Kiểm sát viên tại
các khoản 1, 2 và 3 Điều này phải nêu rõ họ tên của Kiểm sát viên, Kiểm sát
viên dự khuyết (nếu có).
Điều 26. Thông báo
thay đổi Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp
1. Sau khi đã gửi cho Tòa án quyết định
phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp, nếu thay đổi Kiểm sát
viên đó thì Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định thay đổi Kiểm sát viên, nêu
rõ họ tên của Kiểm sát viên thay thế.
2. Trước khi mở phiên tòa, phiên họp giải
quyết vụ việc dân sự, nếu Tòa án nhận được đơn yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên
thì Tòa án chuyển ngay đơn yêu cầu đó cho Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
xem xét, quyết định theo quy định tại khoản 1 Điều 62, khoản 3
Điều 368 BLTTDS. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu
thay đổi Kiểm sát viên hoặc chậm nhất là 01 ngày trước ngày mở phiên tòa, phiên
họp nếu thời gian còn lại tính đến ngày mở phiên tòa, phiên họp là không quá 07
ngày, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định thay đổi Kiểm sát viên hoặc văn bản
thông báo không thay đổi Kiểm sát viên, nêu rõ lý do.
Trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị,
nếu nhận được đơn yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa, phiên
họp nhưng tính đến ngày mở phiên tòa, phiên họp theo ấn định của Tòa án, thời
gian còn lại không quá 07 ngày mà Viện kiểm sát chưa phân công được Kiểm sát
viên khác thay thế thì Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án. Trường hợp thay đổi
Kiểm sát viên thì Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định thay đổi Kiểm sát
viên. Trường hợp không thay đổi Kiểm sát viên thì Viện kiểm sát thông báo bằng
văn bản và nêu rõ lý do.
3. Nếu tại phiên tòa, phiên họp giải
quyết vụ việc dân sự, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân
sự quyết định thay đổi Kiểm sát viên và ra quyết định hoãn phiên tòa, phiên họp
thì Tòa án gửi ngay quyết định hoãn phiên tòa, phiên họp cho Viện trưởng Viện
kiểm sát có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 62, khoản 3 Điều
368 BLTTDS.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày hoãn phiên tòa, phiên họp, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án quyết định thay đổi
Kiểm sát viên.
Điều 27. Viện kiểm
sát tham gia phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
1. Kiểm sát viên được phân công có nhiệm
vụ tham gia phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán vẫn
tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kiến nghị.
2. Tại phiên họp xem xét, giải quyết
khiếu nại của người khởi kiện, người yêu cầu, Kiểm sát viên phát biểu về các vấn
đề sau đây:
a) Tính có căn cứ và hợp pháp của khiếu
nại;
b) Việc tuân theo pháp luật của người
tiến hành tố tụng trong việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu;
c) Tính có căn cứ và hợp pháp của việc
trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; quan điểm của Viện kiểm sát về việc giữ
nguyên việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc nhận lại đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu.
3. Tại phiên họp xem xét, giải quyết kiến
nghị của Viện kiểm sát về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, Kiểm sát
viên trình bày, phát biểu về các vấn đề sau đây:
a) Nội dung kiến nghị và căn cứ của việc
kiến nghị; xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có); phân tích để làm rõ
quan điểm kiến nghị của Viện kiểm sát;
b) Nội dung hướng dẫn tại điểm b khoản
2 Điều này;
c) Quan điểm của Viện kiểm sát về việc
Tòa án nhận lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc rút kiến nghị của Viện kiểm
sát.
4. Trường hợp vừa có khiếu nại của người
khởi kiện, người yêu cầu, vừa có kiến nghị của Viện kiểm sát thì Kiểm sát viên
trình bày, phát biểu theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 28. Viện kiểm
sát tham gia phiên tòa sơ thẩm
Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm
(theo thủ tục thông thường hoặc thủ tục rút gọn) đối với những vụ án dân sự sau
đây:
1. Vụ án dân sự do Tòa án tiến hành thu
thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 và các điều 98,
99, 100, 101, 102, 103, 104, 105 và 106
BLTTDS.
2. Vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp
là tài sản công, lợi ích công cộng:
a) Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của
Bộ luật Dân sự, Luật
Quản lý, sử dụng tài sản công và quy định khác của pháp luật có liên quan.
b) Lợi ích công cộng là những lợi ích vật
chất hoặc lợi ích phi vật chất phục vụ xã hội hoặc cộng đồng dân cư.
3. Vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp
là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở, bao gồm:
a) Tranh chấp về việc ai là người có
quyền sử dụng đất hoặc ai là người có quyền sở hữu nhà ở.
Ví dụ: A và B tranh chấp với nhau về
quyền sử dụng đất đối với một thửa đất có diện tích là 500 m2 hiện
do B đang quản lý, sử dụng. A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để buộc B phải
trả lại thửa đất đó cho A. Trong trường hợp này, đối tượng tranh chấp là quyền
sử dụng đất, thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm.
b) Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng
của hợp đồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở (gồm: tranh chấp về hợp đồng chuyển
đổi quyền sử dụng đất; tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
hoặc hợp đồng mua bán nhà ở; tranh chấp về hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền
sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê nhà ở; tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất hoặc hợp đồng tặng cho nhà ở; tranh chấp về hợp đồng góp vốn bằng giá
trị quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng góp vốn bằng giá trị nhà ở...).
Đối với tranh chấp về hợp đồng có liên
quan đến quyền sử dụng đất hoặc nhà ở nhưng quyền sử dụng đất hoặc nhà ở đó
không phải là đối tượng của hợp đồng thì không thuộc trường hợp Viện kiểm sát
phải tham gia phiên tòa sơ thẩm.
Ví dụ: A vay ngân hàng B số tiền là 500
triệu đồng, đồng thời thế chấp cho ngân hàng một ngôi nhà và quyền sử dụng đất
giá trị 01 tỷ đồng. Đến thời hạn trả nợ, A không thực hiện được nghĩa vụ thanh
toán, ngân hàng tiến hành xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng không xử
lý được vì khu đất này đang trong diện quy hoạch, không được phép chuyển đổi,
chuyển nhượng. Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết buộc
A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong vụ án dân sự này, đối tượng tranh chấp
là khoản tiền A vay ngân hàng, không phải là quyền sử dụng đất và nhà ở A dùng
để thế chấp, do đó, không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên
tòa sơ thẩm.
c) Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng
đất hoặc thừa kế nhà ở;
d) Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất
hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho sử dụng nhờ;
đ) Tranh chấp về chia tài sản chung của
vợ chồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở trong thời kỳ hôn nhân;
e) Tranh chấp về chia tài sản là quyền
sử dụng đất hoặc nhà ở khi ly hôn, sau khi ly hôn;
g) Tranh chấp trong các giao dịch dân sự
khác có đối tượng giao dịch là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở.
4. Vụ án dân sự có đương sự là người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, cụ thể như
sau:
a) Người mất năng lực hành vi dân sự là
người đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố người đó mất
năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật
Dân sự;
b) Người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự là người đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án tuyên bố người
đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự;
c) Người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi là người đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
tuyên bố người đó có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của
Bộ luật Dân sự.
5. Vụ án dân sự chưa có điều luật để áp
dụng quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS.
Điều 29. Phát biểu
của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
1. Tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án
dân sự (theo thủ tục thông thường hoặc thủ tục rút gọn), sau khi những người
tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát về những vấn đề sau đây:
a) Việc tuân theo pháp luật tố tụng của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Trường hợp Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng
xét xử khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết
định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu; trường hợp không chấp nhận thì nêu
rõ lý do. Quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận của Hội đồng xét xử
được thảo luận và thông qua tại phòng xử án và được ghi vào biên bản phiên tòa.
b) Việc chấp hành pháp luật của người
tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án;
c) Về việc giải quyết vụ án như sau:
c1) Phân tích, đánh giá, nhận định về nội
dung tranh chấp và các tình tiết của vụ án;
c2) Đánh giá, nhận định về tài liệu, chứng
cứ trong hồ sơ vụ án;
c3) Nêu rõ căn cứ pháp luật hoặc các
căn cứ quy định tại Điều 45 BLTTDS được áp dụng để giải quyết
vụ án;
c4) Đề nghị Tòa án kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án
dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (nếu có);
c5) Nêu rõ quan điểm về việc chấp nhận
hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, đề nghị của nguyên đơn, cơ quan, tổ chức,
cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2. Văn bản phát biểu ý kiến của Kiểm
sát viên phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Điều 30. Phát biểu
của Kiểm sát viên tại phiên họp sơ thẩm
1. Tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc
dân sự, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về những vấn đề sau
đây:
a) Việc tuân theo pháp luật tố tụng của
Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý
việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán, Hội đồng ra quyết định giải quyết
việc dân sự;
Trường hợp Kiểm sát viên yêu cầu Thẩm
phán, Hội đồng khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng thì thực hiện theo hướng dẫn
tại điểm a khoản 1 Điều 29 Thông tư liên tịch này.
b) Việc chấp hành pháp luật của người
tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm
phán, Hội đồng ra quyết định giải quyết việc dân sự;
c) Về việc giải quyết việc dân sự như
sau:
c1) Tính có căn cứ và hợp pháp của yêu
cầu giải quyết việc dân sự;
c2) Phân tích, đánh giá, nhận định về nội
dung sự việc, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ;
c3) Nêu rõ căn cứ pháp luật hoặc các
căn cứ quy định tại Điều 45 BLTTDS được áp dụng để giải quyết
việc dân sự;
c4) Đề nghị Tòa án kiến nghị sửa đổi, bổ
sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết việc
dân sự có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật,
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (nếu có);
c5) Nêu rõ quan điểm về việc chấp nhận
hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của người yêu cầu giải quyết việc dân sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
2. Văn bản phát biểu ý kiến của Kiểm
sát viên phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên họp.
Điều 31. Phát biểu
của Kiểm sát viên tại phiên họp xét kháng cáo quá hạn
1. Tại phiên họp xét kháng cáo quá hạn,
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án cấp
phúc thẩm, kể từ khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét kháng cáo quá hạn ra quyết định; phát biểu quan điểm về việc chấp nhận
hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn, phân tích làm rõ quan điểm của Viện kiểm
sát.
2. Văn bản phát biểu ý kiến của Kiểm sát
viên phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên họp.
Điều 32. Trình
bày, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm
1. Trường hợp chỉ có kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát thì tại phiên tòa phúc thẩm (theo thủ tục thông thường hoặc
thủ tục rút gọn), phiên họp phúc thẩm, Kiểm sát viên trình bày, phát biểu những
vấn đề sau đây:
a) Nội dung kháng nghị và căn cứ của việc
kháng nghị; xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có); phân tích để làm rõ
quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định sơ thẩm;
b) Trường hợp người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự, đương sự phát biểu về tính hợp pháp, tính có căn cứ
của kháng nghị thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề mà người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu;
c) Việc tuân theo pháp luật của người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở
giai đoạn phúc thẩm;
d) Quan điểm về việc giải quyết đối với
bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị.
2. Trường hợp chỉ có kháng cáo của
đương sự thì Kiểm sát viên phát biểu những vấn đề sau đây:
a) Tính có căn cứ và hợp pháp của kháng
cáo;
b) Các nội dung hướng dẫn tại điểm c
khoản 1 Điều này;
c) Quan điểm về việc giải quyết đối với
bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo.
3. Trường hợp vừa có kháng cáo của
đương sự, vừa có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát thì Kiểm sát viên
trình bày, phát biểu những vấn đề sau đây:
a) Về kháng cáo của đương sự theo hướng
dẫn tại điểm a khoản 2 Điều này;
b) Về kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều này;
c) Về những vấn đề mà người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu trong trường hợp tại điểm b
khoản 1 Điều này;
d) Về các nội dung hướng dẫn tại điểm c
khoản 1 Điều này;
đ) Quan điểm về việc giải quyết đối với
bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị.
4. Văn bản phát biểu ý kiến của Kiểm
sát viên phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp.
Điều 33. Trình
bày, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm
1. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát
kháng nghị thì tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày, phát biểu về những vấn đề
sau đây:
a) Nội dung kháng nghị và căn cứ của việc
kháng nghị; xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có); phân tích để làm rõ
quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật hoặc những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
b) Trường hợp đương sự, người đại diện
hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố
tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa trình bày ý kiến về kháng nghị
thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề mà đương sự, người đại diện
hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tham gia tố
tụng khác đã nêu;
c) Quan điểm về việc giải quyết vụ việc
dân sự. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã được thi hành một phần hoặc
toàn bộ thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về giải quyết hậu quả của việc thi
hành án.
2. Trường hợp Chánh án Tòa án kháng nghị
thì tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày, phát biểu về những vấn đề sau đây:
a) Tính có căn cứ và hợp pháp của kháng
nghị, nêu rõ lý do nhất trí hoặc không nhất trí với quan điểm kháng nghị của
Chánh án Tòa án;
b) Quan điểm về việc giải quyết vụ việc
dân sự. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã được thi hành một phần hoặc
toàn bộ thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về giải quyết hậu quả của việc thi
hành án.
3. Văn bản phát biểu ý kiến của Kiểm
sát viên phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Điều 34. Phát biểu
của Kiểm sát viên tại phiên họp xét đơn yêu cầu trong thủ tục công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài; không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Tại phiên họp xét đơn yêu cầu trong thủ
tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định
dân sự của Tòa án nước ngoài; không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Kiểm sát viên phát biểu quan
điểm của Viện kiểm sát và gửi bài phát biểu theo quy định tại Điều
30 Thông tư liên tịch này.
Điều 35. Kiểm sát
viên tham gia phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài; không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài
1. Kiểm sát viên phải tham gia phiên họp
xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị trong thủ tục công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài; không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có
yêu cầu thi hành tại Việt Nam; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết
của Trọng tài nước ngoài. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến
hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị.
2. Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến của Viện kiểm sát và gửi bài phát biểu theo quy định tại Điều
32 Thông tư liên tịch này.
Chương V
KIỂM
SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Điều 36. Quyền yêu
cầu của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án cùng cấp
và Tòa án cấp dưới ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định tại Chương XLI của BLTTDS khi thuộc một trong những trường hợp sau
đây:
a) Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại,
tố cáo về việc Tòa án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không
ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn quy định;
b) Viện kiểm sát có căn cứ xác định việc
Tòa án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không ra văn bản giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn quy định.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được yêu cầu của Viện kiểm sát trong trường hợp theo hướng dẫn tại điểm a và điểm
b khoản này, Tòa án được yêu cầu phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn
bản cho Viện kiểm sát đã yêu cầu biết. Trường hợp vụ việc phức tạp, cần có thêm
thời gian thì Tòa án phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết và
trả lời cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
2. Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án cùng cấp
kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án cấp mình và Tòa án cấp dưới
khi thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Viện kiểm sát nhận được yêu cầu của
cơ quan có thẩm quyền;
b) Viện kiểm sát nhận được đơn khiếu nại,
tố cáo về việc Tòa án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm
pháp luật trong khi giải quyết;
c) Viện kiểm sát có căn cứ xác định việc
Tòa án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo có dấu hiệu vi phạm
pháp luật trong khi giải quyết.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được yêu cầu của Viện kiểm sát trong trường hợp theo hướng dẫn tại các điểm a,
b và c khoản này, Tòa án được yêu cầu phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng
văn bản cho Viện kiểm sát đã yêu cầu biết. Trường hợp vụ việc phức tạp, cần có
thêm thời gian thì Tòa án phải có văn bản thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết
và trả lời cho Viện kiểm sát trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
3. Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án cùng cấp
và Tòa án cấp dưới cung cấp hồ sơ, tài liệu về việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo cho Viện kiểm sát khi thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Viện kiểm sát nhận được yêu cầu của
cơ quan có thẩm quyền;
b) Viện kiểm sát đã yêu cầu theo quy định
tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này mà Tòa án không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ yêu cầu của Viện kiểm sát;
c) Đã có quyết định giải quyết khiếu nại
lần hai nhưng người khiếu nại vẫn tiếp tục khiếu nại;
d) Khi Viện kiểm sát cần xem xét hồ sơ,
tài liệu để quyết định việc kiến nghị.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được yêu cầu của Viện kiểm sát trong trường hợp theo hướng dẫn tại các điểm a,
b, c và d khoản này, Tòa án gửi hồ sơ, tài liệu về việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo cho Viện kiểm sát đã yêu cầu.
Điều 37. Quyền kiến
nghị của Viện kiểm sát
1. Trường hợp có căn cứ xác định việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án, người có thẩm quyền không đúng pháp luật
thì Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án cùng cấp và Tòa án cấp dưới khắc phục vi
phạm pháp luật.
2. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu
theo quy định tại Điều 36 của Thông tư liên tịch này hoặc có
kiến nghị theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều này mà Tòa án không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát có quyền
kiến nghị với Tòa án cấp trên.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được kiến nghị của Viện kiểm sát theo hướng dẫn tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này, Tòa án phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho Viện kiểm sát đã kiến nghị
biết. Trường hợp vụ việc phức tạp, cần có thêm thời gian thì Tòa án có văn bản
thông báo lý do cho Viện kiểm sát biết và trả lời cho Viện kiểm sát trong thời
hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị.
Chương VI
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH
Điều 38. Hiệu lực
thi hành
Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2026, thay thế Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31 tháng 8 năm
2016 quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân
trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Điều 39. Tổ chức
thực hiện
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc thì các cơ quan, đơn vị phản ánh về
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, giải quyết./.
|
KT. CHÁNH ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN
Nguyễn Văn Tiến
|
KT. VIỆN TRƯỞNG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ VIỆN TRƯỞNG
Nguyễn Đức Thái
|
|
Nơi nhận:
- Ủy ban Thường vụ Quốc hội
(để báo cáo);
- Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội (để báo cáo);
- Ban Nội chính Trung ương;
- Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương;
- Văn phòng Chính phủ (02 bản);
- Văn phòng Quốc hội;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Công báo;
- Cổng thông tin điện tử của VKSNDTC, TANDTC;
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, Bộ Tư pháp;
- Lưu: VT (VKSNDTC, TANDTC), V14.
|
|