|
QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Nghị quyết số: 29/2026/QH16
|
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ ĐỂ XỬ LÝ VI
PHẠM PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN XẢY RA TRƯỚC KHI LUẬT ĐẤT ĐAI
NĂM 2024 CÓ HIỆU LỰC VÀ THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC CHO CÁC DỰ ÁN TỒN ĐỌNG, KÉO
DÀI
QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức Quốc
hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số
87/2025/QH15;
QUYẾT NGHỊ:
Chương
I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị quyết này quy định cơ
chế, chính sách đặc thù về:
1. Xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật về đất đai tại các dự án, công trình nhưng vì mục đích phát triển
kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh và không tham nhũng xảy
ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024;
2. Tiếp tục tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
1. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai tại các dự
án, công trình nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm
quốc phòng, an ninh và không tham nhũng quy định tại khoản 1 Điều
1 của Nghị quyết này.
2. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan đến các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại khoản
2 Điều 1 của Nghị quyết này.
Điều
3. Nguyên tắc thực hiện
1. Nguyên tắc chung:
a) Bảo đảm đúng thẩm quyền,
căn cứ, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý theo quy định tại Nghị quyết này, phù
hợp các nguyên tắc của pháp luật hiện hành, không trái với các điều ước quốc tế
mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Bảo đảm không hợp pháp
hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới; kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm
tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết này để tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che hành vi vi phạm;
c) Bảo đảm phù hợp với thực
tiễn khách quan, hoàn cảnh lịch sử cụ thể; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, lợi ích chính đáng của
bên thứ ba ngay tình trong lợi ích tổng thể của quốc gia theo quy định của pháp
luật; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
2. Việc áp dụng các quy định
tại Chương II của Nghị quyết này bảo đảm các nguyên tắc tại khoản 1 Điều này và
các nguyên tắc sau:
a) Xác định rõ vai trò, động
cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân vi phạm, nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt
hại, kết quả khắc phục hậu quả, tài liệu, chứng cứ để kết luận về hành vi tham
nhũng và hiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội của dự án, công trình; các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; khẩn trương kết luận, xử lý, không để kéo dài đối
với những vụ án, vụ việc có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quyết định
xử lý theo quy định của Nghị quyết này;
b) Phân định rõ việc xử lý
trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm với các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng
mắc, khắc phục hậu quả (nếu có) đối với từng dự án, công trình để sớm đưa đất
đai vào khai thác, sử dụng hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí;
c) Không áp dụng các quy định
trong Nghị quyết này để xem xét lại những quyết định xử lý kỷ luật, bản án hình
sự đã có hiệu lực đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra
trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.
3. Việc áp dụng các quy định
tại Chương III của Nghị quyết này bảo đảm các nguyên tắc tại khoản 1 Điều này
và các nguyên tắc sau:
a) Chỉ xem xét, xử lý,
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án quy định tại khoản 2 Điều
1 của Nghị quyết này trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án mà
nguyên nhân dẫn đến vi phạm, sai phạm do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước hoặc
do lỗi của cả cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư, chủ đầu tư. Việc tháo gỡ
vướng mắc cho các dự án hạn chế tối đa các khiếu kiện, nhất là các dự án có yếu
tố nước ngoài; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình;
b) Việc áp dụng chính sách
để tháo gỡ cho các dự án khó khăn, vướng mắc bảo đảm phù hợp với chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm nguyên tắc nhà đầu tư, chủ đầu
tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không ảnh hưởng tới
an ninh, quốc phòng; bảo đảm năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định
của pháp luật;
c) Cho phép xử lý tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc đồng thời với quá trình xử lý trách nhiệm theo các kết luận
thanh tra, kiểm tra, bản án, bảo đảm không làm phát sinh sai phạm mới và có
phương án khắc phục thiệt hại.
Điều
4. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị quyết này, các
từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Không tham nhũng
là việc không thực hiện các hành vi tham nhũng được quy định trong Luật Phòng,
chống tham nhũng, các tội phạm về tham nhũng được quy định trong Bộ luật Hình sự
và được cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác
theo quy định của pháp luật kết luận bằng văn bản.
2. Vì mục đích phát triển
kinh tế - xã hội là việc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện hoạt động,
ban hành chính sách hoặc quyết định nhằm phát triển kinh tế - xã hội địa
phương, đất nước, nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân.
3. Vì mục đích bảo đảm
quốc phòng, an ninh là việc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện hoạt động,
ban hành quyết định hoặc biện pháp nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã
hội và sự ổn định của Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.
4. Không có khiếu nại,
tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo theo quy định là không
phát sinh khiếu nại, tố cáo hợp lệ hoặc có phát sinh khiếu nại, tố cáo nhưng đã
được cơ quan có thẩm quyền ban hành thông báo chấm dứt thụ lý, giải quyết vụ việc
hoặc đã được giải quyết bằng văn bản giải quyết đã có hiệu lực thuộc lĩnh vực
tư pháp cho đến khi xem xét, xử lý vi phạm theo Nghị quyết này.
5. Hậu quả thiệt hại
do các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai gây ra là hậu quả vật chất.
6. Khắc phục hậu quả
thiệt hại là việc cá nhân vi phạm và tổ chức, cá nhân có lợi ích trực tiếp
từ hành vi vi phạm pháp luật về đất đai của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức,
người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân thực hiện bồi thường về vật chất nhằm bảo
đảm lợi ích của Nhà nước, các bên liên quan và bên thứ ba ngay tình; bảo đảm
hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân trong lợi
ích tổng thể của quốc gia.
7. Mang lại hiệu quả
kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
thu hút đầu tư, tạo việc làm, cải thiện hạ tầng kỹ thuật, nâng cao chất lượng đời
sống Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.
8. Vi phạm pháp luật về
đất đai là hành vi vi phạm trong quản lý đất đai, chuyển quyền sử dụng đất,
cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, lựa chọn nhà đầu
tư, quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng.
9. Giấy chứng nhận
không đúng quy định là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp mà trên đó ghi mục đích sử dụng đất là đất ở
(không hình thành đơn vị ở) hoặc đất ở (xây dựng và kinh doanh bất động sản, du
lịch) hoặc đất ở có thông tin khác không đúng quy định của pháp luật về đất đai.
Chương
II
XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT
VỀ ĐẤT ĐAI CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN XẢY RA TRƯỚC KHI LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024 CÓ HIỆU
LỰC
Điều
5. Không truy cứu trách nhiệm hình sự
Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau:
1. Không gây thất thoát,
lãng phí tài sản nhà nước thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Không tham nhũng;
b) Vì mục đích phát triển
kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh;
c) Dự án, công trình đã
hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước;
d) Không có khiếu nại, tố
cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố
cáo liên quan theo quy định.
2. Có gây thất thoát, lãng
phí tài sản nhà nước thì phải bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều
này và đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
Điều
6. Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự
Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để tổ chức, cá nhân
khắc phục hậu quả nếu bảo đảm đủ các điều kiện sau:
1. Có hành vi vi phạm
nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng,
an ninh;
2. Có gây thất thoát, lãng
phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng;
3. Các dự án, công trình
đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách
quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục, mang lại hiệu quả
kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, có cam kết của tổ chức, cá nhân liên
quan khắc phục hậu quả và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết.
Điều
7. Miễn trách nhiệm hình sự
Trong quá trình điều tra,
truy tố, xét xử, các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng miễn trách
nhiệm hình sự đối với các trường hợp quy định tại Điều 5 của Nghị
quyết này.
Điều
8. Không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ,
đình chỉ điều tra đối với bị can; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ,
đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và hoãn phiên tòa
1. Trong quá trình giải
quyết nguồn tin về tội phạm, nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều
5 của Nghị quyết này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định
không khởi tố vụ án hình sự.
Trường hợp có đủ căn cứ
quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này thì cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn tạm đình chỉ tối đa là 02 năm kể từ
ngày ra quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Trong giai đoạn điều
tra, truy tố, xét xử nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5, Điều
7 của Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra;
Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị
can, bị cáo.
Trường hợp có đủ căn cứ
quy định tại Điều 6 Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra
quyết định tạm đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ
án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án,
tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa.
Thời hạn tạm đình chỉ điều
tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình
chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa tối đa là 02 năm kể từ thời điểm
ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Hết thời hạn tạm đình
chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tạm đình chỉ điều
tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình
chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục
được toàn bộ hậu quả thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án
hình sự, đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án,
đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo;
b) Trường hợp không khắc
phục được toàn bộ hậu quả thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực
hiện các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ tỷ lệ khắc
phục hậu quả, hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Điều
9. Hoãn chấp hành hình phạt, miễn, giảm hình phạt và xóa án tích đối với trường
hợp đã có bản án
1. Trường hợp cá nhân đã
có bản án của Tòa án nhưng chưa có quyết định thi hành án mà có đủ căn cứ quy định
tại Điều 6 của Nghị quyết này thì Tòa án ra quyết định hoãn
chấp hành hình phạt.
Thời hạn hoãn chấp hành
hình phạt tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định, không tính vào
thời hiệu thi hành bản án và thời gian chấp hành hình phạt.
2. Hết thời hạn hoãn chấp
hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục
được toàn bộ hậu quả thì Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt;
b) Trường hợp không khắc
phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án; đồng
thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa
phương, đất nước để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp
hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt.
3. Đối với người có hành
vi vi phạm đáp ứng điều kiện thuộc các trường hợp quy định tại Điều
5 của Nghị quyết này mà đang chấp hành án hoặc đang được tạm đình chỉ thi
hành án thì được miễn chấp hành hình phạt còn lại; chưa chấp hành án hoặc đang
được hoãn thi hành án thì được miễn chấp hành hình phạt.
4. Đối với người đang chấp
hành hình phạt tù mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị
quyết này thì Tòa án quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Thời hạn
tạm đình chỉ án phạt tù tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định,
không tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
Hết thời hạn tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù quy định tại khoản này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục
được toàn bộ hậu quả thì Tòa án quyết định miễn chấp hành thời hạn chấp hành án
phạt còn lại;
b) Trường hợp không khắc
phục được toàn bộ hậu quả thì Tòa án ra quyết định tiếp tục thi hành án; đồng
thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa
phương, đất nước để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp
hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt. Sau khi đã chấp hành xong bản án theo
quy định, Tòa án xem xét quyết định giảm thời hạn để xóa án tích.
5. Đối với người vi phạm
đã chấp hành xong bản án và chưa xóa án tích mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này thì đương nhiên được xóa án tích và
miễn thời gian thử thách theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6. Đối với người đang chấp
hành án phạt tù có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 6 của Nghị quyết này nhưng không có điều kiện để khắc phục hậu quả
thì Tòa án xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Sau khi đã chấp hành
xong bản án theo quy định, Tòa án xem xét quyết định giảm thời hạn để xóa án
tích.
Điều
10. Quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng
vũ trang nhân dân
1. Cán bộ, công chức, viên
chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm kỷ luật theo quy định của
pháp luật nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc
phòng, an ninh, không tham nhũng, dự án, công trình đã hoàn thành, mang lại hiệu
quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, không có khiếu nại, tố cáo hoặc
có khiếu nại, tố cáo nhưng đã giải quyết dứt điểm theo quy định được miễn kỷ luật
nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau:
a) Không gây thất thoát,
lãng phí tài sản nhà nước;
b) Có gây thất thoát, lãng
phí tài sản nhà nước nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
2. Cán bộ, công chức, viên
chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm kỷ luật theo quy định của
pháp luật nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc
phòng, an ninh, có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham
nhũng, các dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được
hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện
khắc phục để mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, có
cam kết của tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục hậu quả và tích cực khắc phục
theo tiến độ, phương án đã cam kết thì xem xét chưa xử lý kỷ luật để khắc phục
hậu quả. Thời hạn chưa xem xét xử lý kỷ luật tối đa là 02 năm, không tính vào
thời hiệu xử lý kỷ luật.
3. Hết thời hạn quy định tại
khoản 2 Điều này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục
được toàn bộ hậu quả thì áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Trường hợp không khắc
phục được toàn bộ hậu quả thì cơ quan có thẩm quyền căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu
quả và hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm nhẹ
mức kỷ luật.
Chương
III
THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG
MẮC CHO CÁC DỰ ÁN TỒN ĐỌNG, KÉO DÀI
Điều
11. Xử lý dự án đã được cấp giấy chứng nhận không đúng quy định
Đối với dự án đã được cấp
giấy chứng nhận không đúng quy định thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các
quy hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn bảo đảm
tính độc lập, khách quan, minh bạch. Sau khi rà soát thì việc xử lý dự án được
thực hiện như sau:
1.
Trường hợp dự án phù hợp với quy hoạch có chức năng sử dụng đất để xây dựng nhà
ở:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án theo chính sách và giá đất tại
thời điểm được nhà nước điều chỉnh giấy chứng nhận không đúng quy định sang mục
đích là đất ở để xác định số tiền cần phải thu từ phần chênh lệch tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất tại thời điểm điều chỉnh giấy chứng nhận được cấp theo quy định
tại Nghị quyết này;
b) Nhà đầu tư, chủ đầu tư
thực hiện dự án hoàn thành nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước và bảo đảm
năng lực tiếp tục triển khai dự án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp nhà đầu tư, chủ
đầu tư không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với cơ quan nhà nước theo quy
định và không bảo đảm năng lực tiếp tục triển khai dự án thì xử lý theo quy định
tại khoản 2 Điều này;
c) Điều chỉnh mục đích sử
dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của nhà đầu tư, chủ đầu tư
hoặc Giấy chứng nhận không đúng quy định của người sử dụng đất đã nhận chuyển
quyền sử dụng đất trong dự án sang đất ở. Thời hạn sử dụng đất, chế độ sử dụng
đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với đất ở.
2. Đối với các dự án không
thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Điều chỉnh mục đích sử
dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của nhà đầu tư, chủ đầu tư
sang đất thương mại, dịch vụ;
Thời hạn sử dụng đất thực
hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, được tính từ thời điểm cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng công trình trên đất theo quy định của
pháp luật về xây dựng; trường hợp không phải cấp giấy phép xây dựng thì thời hạn
sử dụng đất được tính từ thời điểm bắt đầu xây dựng công trình do Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh xác định.
b) Điều chỉnh mục đích sử
dụng đất trong giấy chứng nhận không đúng quy định của người sử dụng đất đã nhận
chuyển quyền sử dụng đất trong dự án sang đất thương mại, dịch vụ. Thời hạn sử
dụng đất là 50 năm được tính từ thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
từ chủ đầu tư thực hiện dự án;
c) Trường hợp quy định tại
điểm a và điểm b khoản này mà nhà đầu tư, chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ tài chính tại thời điểm cấp giấy chứng nhận không đúng quy định thì
nhà đầu tư, chủ đầu tư phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện tại thời
điểm cấp giấy chứng nhận không đúng quy định trước khi điều chỉnh giấy chứng nhận
không đúng quy định.
Điều
12. Xử lý về việc tiếp tục giao đất, cho thuê đất đối với các dự án vi phạm về
lựa chọn nhà đầu tư, về quản lý, sử dụng đất
1. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh rà soát các dự án, đất đai vi phạm về lựa chọn nhà đầu
tư, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong kết luận
thanh tra, kiểm tra, bản án để áp dụng chính sách theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc
hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự
án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại thành phố Hồ Chí
Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa (sau đây gọi là Nghị quyết số 170/2024/QH15)
đối với các trường hợp sau đây:
a) Dự án đầu tư đã lựa chọn
nhà đầu tư (bao gồm cả cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam được
giao là chủ đầu tư) không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua
đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, chưa được cơ quan nhà nước ban hành quyết định
giao đất, cho thuê đất nhưng đã được triển khai thi công xây dựng trên đất;
b) Dự án đầu tư đã lựa chọn
nhà đầu tư không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, không thông qua đấu thầu
lựa chọn nhà đầu tư, đã được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho
thuê đất đối với một phần hoặc toàn bộ khu đất thực hiện dự án;
c) Dự án đã được cơ quan
nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất đối với toàn bộ hoặc một phần
khu đất thực hiện dự án và đã được triển khai thi công xây dựng trên đất nhưng
bị thu hồi quyết định giao đất, cho thuê đất;
d) Dự án mà nhà đầu tư đã ứng
một phần hoặc toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc thực hiện bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư để Nhà nước thu hồi đất đối với một phần hoặc toàn
bộ khu đất thực hiện dự án hoặc đã nộp tiền ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án
nhưng chưa được cơ quan nhà nước ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất;
đ) Dự án đầu tư xây dựng
nhà ở, khu đô thị, khu dân cư đã được chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư,
cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở trong trường hợp nhà đầu tư thỏa
thuận về nhận quyền sử dụng đất nhưng không có đất ở.
2. Đối với các trường hợp
dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định việc áp dụng quy định tại
Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định
tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này không phải thực hiện lại thủ tục đấu giá
quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư.
3. Đối
với các trường hợp dự án được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định việc
áp dụng quy định tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị quyết số
170/2024/QH15 theo quy định tại điểm c và điểm d khoản
1 Điều này mà chưa hoàn thành thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định
chủ trương đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư thì thực hiện thủ tục chấp thuận chủ
trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư để thực hiện dự án.
Trường hợp nhà đầu tư
không bảo đảm năng lực để tiếp tục thực hiện dự án thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
tổ chức lựa chọn nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh thực hiện việc hoàn trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà nhà đầu tư
đã ứng và chi phí xây dựng trên khu đất thực hiện dự án (nếu có) cho nhà đầu tư.
4. Việc
chấp thuận chủ trương đầu tư, điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của Điều
này phải bảo đảm không mở rộng diện tích sử dụng đất so với dự án đầu tư đã đề
xuất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.
5. Đối với các dự án được Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, quyết định áp dụng quy định tại Điều
4 và Điều 5 của Nghị quyết số 170/2024/QH15 theo quy định tại khoản 1 Điều
này tiếp tục được Nhà nước thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất đối với phần diện
tích chưa được ban hành quyết định giao đất, cho thuê đất theo quy định pháp luật
về đất đai tại thời điểm áp dụng Nghị quyết này.
Điều
13. Xử lý đối với dự án đầu tư trên khu đất mà Nhà nước đã thu hồi đất không
thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của pháp luật
Dự án đầu tư trên khu đất
mà Nhà nước đã thu hồi đất không thuộc trường hợp thu hồi đất theo quy định của
pháp luật mà chủ đầu tư dự án đã bỏ kinh phí để thực hiện thu hồi toàn bộ diện
tích đất của dự án thì xử lý như sau:
1. Chủ đầu tư được tiếp tục
thực hiện khi đáp ứng các điều kiện sau:
a) Nhà đầu tư đáp ứng năng
lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật, đang quản lý, sử dụng,
thực hiện đầu tư xây dựng trên khu đất được xác định có vi phạm về thu hồi đất,
trong đó có phần lỗi của Nhà nước theo kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án;
b) Dự án không có tranh chấp,
khiếu kiện hoặc đã giải quyết xong tranh chấp, khiếu kiện (nếu có);
c) Phù hợp với quy hoạch sử
dụng đất cấp huyện, kế hoạch sử dụng đất hằng năm cấp huyện đã được phê duyệt
trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 hoặc phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai của
quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch
đô thị và nông thôn.
2. Việc giao đất, cho thuê
đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thực hiện theo quy định hiện hành của
pháp luật đất đai.
3.
Trường hợp dự án không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này thì
Nhà nước chấm dứt thực hiện dự án và hoàn trả kinh phí Chủ đầu tư đã bỏ ra để
thu hồi đất theo quy định của Chính phủ.
Đối với tài sản là công
trình xây dựng (nếu có) gắn liền với đất trong trường hợp Nhà nước chấm dứt thực
hiện dự án thì chủ sở hữu tài sản được xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều
14. Xử lý các dự án đầu tư trong trường hợp có vi phạm về mục đích sử dụng đất
Trường hợp dự án đầu tư có
vi phạm về mục đích sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư,
phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất
quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh hoặc quy hoạch được lập theo quy định
của pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch
sử dụng đất quốc phòng, quy hoạch sử dụng đất an ninh thì thực hiện như sau:
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
rà soát, điều chỉnh mục tiêu dự án, điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất,
cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để tiếp tục thực hiện dự án theo quy định
của pháp luật. Nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai;
2. Nhà đầu tư vẫn bị xử phạt
hành chính nhưng không phải tháo dỡ đối với phần công trình phù hợp quy hoạch
đô thị và nông thôn; không buộc khôi phục tình trạng ban đầu của đất nhưng phải
nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm theo quy định
của pháp luật về đất đai, xây dựng.
Điều
15. Xử lý dự án đầu tư xây dựng lưới điện đang triển khai đầu tư xây dựng nhưng
chưa thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư
1. Đối với dự án đầu tư
xây dựng lưới điện thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương
đầu tư theo quy định của pháp luật đang triển khai đầu tư xây dựng nhưng chưa
thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư thì không phải thực hiện lại thủ
tục chấp thuận chủ trương đầu tư.
2. Quyết định phê duyệt dự
án đầu tư là căn cứ để thực hiện các thủ tục về đất đai, xây dựng và các thủ tục
có liên quan theo quy định của pháp luật.
Chương
IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
16. Điều khoản thi hành
1. Nghị quyết này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2026.
2. Các quy định về xử lý
vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân được quy định tại Nghị quyết
này được thực hiện đến hết ngày 01 tháng 5 năm 2029. Sau thời điểm ngày 01
tháng 5 năm 2029 mà quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối
với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn
phiên tòa, hoãn chấp hành hình phạt, chưa xem xét kỷ luật theo quy định tại Nghị
quyết này chưa hết thời hạn thì được tiếp tục thực hiện quy định của Nghị quyết
này đến khi kết thúc.
3.
Các quy định về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các
dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại Nghị quyết này được thực hiện đến hết ngày
01 tháng 5 năm 2031. Các cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc
cho các dự án tồn đọng, kéo dài đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định thực
hiện theo Nghị quyết này mà đến hết ngày 01 tháng 5 năm 2031 chưa kết thúc thì
được tiếp tục triển khai theo quyết định đã ban hành.
4. Sửa
đổi mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về Kỳ họp thứ 10
Quốc hội khoá XV như sau:
"14.
Cho phép mở rộng việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7 và Điều 8
của Nghị quyết số 170/2024/QH15 để tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai có tình huống pháp lý tương tự và được
xác định thời điểm sai phạm, vi phạm trước ngày 01 tháng 8 năm 2024 trong kết
luận thanh tra, kiểm tra, bản án. Việc thực hiện nội dung này phải bảo đảm tuân
thủ đầy đủ nguyên tắc quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số
170/2024/QH15 và các nguyên tắc khác đã được
Bộ Chính trị chỉ đạo.
Giao Bộ, cơ quan trung
ương và địa phương căn cứ vào các quan điểm, nguyên tắc đã được quy định cụ thể
tại các Kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết của Quốc hội đã ban hành, chịu
trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức triển khai tháo gỡ theo thẩm quyền. Kiểm toán nhà
nước có trách nhiệm thực hiện kiểm toán việc xác định giá đất, tính tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất đối với các dự án, đất đai áp dụng cơ chế, chính sách đặc
thù tại Nghị quyết này.
Trong quá trình áp dụng
quy định này mà các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có quy định thuận lợi
hơn thì được lựa chọn áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành".
5. Trong quá trình rà
soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trước thời điểm
Nghị quyết này được ban hành, trường hợp phát sinh các tình huống pháp lý chưa
được quy định tại Nghị quyết này và trong thời gian Quốc hội không họp, Chính
phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết có quy định khác với luật,
nghị quyết của Quốc hội, nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án và
báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Điều
17. Tổ chức thực hiện
1. Các quy định về xử lý
vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân được quy định tại Nghị quyết
này được tổ chức thực hiện như sau:
a) Giao Chính phủ, Tòa án
nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn ban hành quy định hướng dẫn thực hiện Nghị quyết này;
b) Giao Chính phủ, các Bộ,
ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh khẩn trương rà soát, lập danh sách, báo cáo
về các vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy
ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024. Người đứng đầu các cơ quan nêu trên chịu
trách nhiệm toàn diện trong việc đánh giá tính hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh của dự án, công trình đã triển khai, khả năng, phương án, điều
kiện để khắc phục và giám sát kết quả khắc phục hậu quả thiệt hại do các hành vi vi
phạm gây ra làm căn cứ để áp dụng các chính sách quy định tại Nghị quyết này;
c) Cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng các cấp khẩn trương rà soát, lập danh sách, báo cáo về các vụ
việc, vụ án, bản án có vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy
ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024 để thực hiện hiệu quả Nghị quyết này;
d) Thẩm quyền, trình tự,
thủ tục xử lý vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Điều 8
và Điều 9 của Nghị quyết này thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng
hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Các quy định về cơ chế,
chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài
quy định tại Nghị quyết này được tổ chức thực hiện như sau:
a) Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ có trách nhiệm sau đây:
a1) Trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn ban hành quy định hướng dẫn thực hiện Nghị quyết này;
a2) Chỉ đạo các Bộ, cơ
quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cao trách nhiệm, đặc biệt là trách
nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai, thanh tra,
kiểm tra việc thực hiện các quy định tại Nghị quyết này, bảo đảm công khai,
minh bạch, hiệu quả; không để trục lợi chính sách, thất thoát, lãng phí;
a3) Chỉ đạo các cơ quan
liên quan phối hợp với chính quyền địa phương cải cách thủ tục hành chính, rút
ngắn thời gian xử lý các vấn đề chưa phân cấp, phân quyền cho địa phương;
a4) Để bảo đảm lợi ích quốc
gia và ngăn chặn các yếu tố có thể đe dọa an ninh quốc gia, Thủ tướng Chính phủ
thực hiện các biện pháp khẩn cấp dừng hoặc tạm dừng thực hiện các cơ chế, chính
sách được quy định tại Nghị quyết này và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;
trong thời gian giữa hai kỳ họp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau đó báo
cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;
a5) Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết này;
b) Trong quá trình áp dụng
quy định tại Nghị quyết này, trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề
giữa Nghị quyết này với luật, nghị quyết khác của Quốc hội được ban hành trước
ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì áp dụng quy định của Nghị quyết
này. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau ngày Nghị quyết này có
hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn Nghị
quyết này thì việc áp dụng do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;
c) Người đứng đầu Bộ,
ngành, cơ quan Trung ương và địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị
quyết này; đồng thời khẩn trương rà soát kỹ các dự án, xác định vấn đề vướng mắc
cụ thể, thẩm quyền xử lý để chủ động giải quyết hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền
giải quyết theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Hội nghị lần
thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 05 năm
2026-2030, gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” và không
để xảy ra trường hợp còn có dự án tồn đọng nhưng không được tổng hợp, xem xét xử
lý, tháo gỡ.
3. Người đứng đầu cơ quan,
đơn vị, người tham gia xây dựng, thẩm định, thẩm tra Nghị quyết này và tham gia
triển khai thực hiện Nghị quyết này được loại trừ, miễn trách nhiệm trong trường
hợp đã tuân thủ các quy trình, quy định liên quan và không vụ lợi trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.
Các tổ chức, cá nhân có
thành tích trong xây dựng, thẩm định, thẩm tra, thực hiện Nghị quyết này được
khen thưởng theo quy định của pháp luật. Xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng,
trục lợi, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức trong quá trình triển khai thực hiện
Nghị quyết này.
4. Chính phủ báo cáo Quốc
hội kết quả thực hiện Nghị quyết này định kỳ hằng năm và kết quả tổng kết khi kết
thúc việc thực hiện Nghị quyết này.
5. Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội,
Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Nghị quyết này được Quốc
hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XVI, kỳ họp thứ Nhất thông qua
ngày 24 tháng 4 năm 2026.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|