TIÊU CHUẨN VIỆT
NAM
TCVN
7109 : 2002
QUI
PHẠM THỰC HÀNH ĐỐI VỚI TÔM HÙM
Recommended Code of
Practice for Lobsters
1. Phạm vi áp dụng
Quy phạm thực hành này áp dụng cho tôm hùm,
tôm hùm đá, tôm hùm gai, tôm hùm mũ ni (Slipper) trong giống Homarus thuộc họ Nephropidae
và họ Palinuridae, họ Scyllaridae dùng làm thực phẩm. Qui phạm thực hành này có
thể áp dụng cho những loài tương tự khác nhưng không áp dụng cho họ Nephrops.
Qui phạm này bao gồm các hướng dẫn kỹ thuật và các yêu cầu thiết yếu về vệ sinh
khi đánh bắt, chế biến và đóng gói sản phẩm tôm hùm trên tàu và trên cạn. Không
có sự phân biệt nào được nói tới giữa các vùng nghề. Kỹ thuật đóng hộp tôm hùm
không được đề cập trong qui phạm này.
2. Định nghĩa
Trong quy phạm này áp dụng các định nghĩa sau
đây:
- “đốm đen” (black spot) là những đám
sắc tố màu sẫm giữa các đốt trên thân tôm;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- “đầu ngực” (cephalothorax) là phần
cơ thể của loài giáp xác mà theo ngôn ngữ giải phẫu học là phần giữa cổ và
bụng;
- “làm lạnh” (chilling) là quá trình
làm lạnh tôm hùm đến nhiệt độ băng tan;
- “nước biển sạch” (clean sea water)
là nước biển đáp ứng các chỉ tiêu về vi sinh vật như nước uống và không chứa
các chất không mong muốn;
- “làm sạch” (cleaning) là loại bỏ các
chất không mong muốn ra khỏi bề mặt;
- “nhiễm bẩn” (contamination) là sự
xâm nhập trực tiếp hay gián tiếp của các chất không mong muốn vào sản phẩm;
- “bỏ ruột” (devein) là loại bỏ phần
nội tạng ra khỏi thân tôm;
- “khử trùng” (disinfection) là việc
sử dụng các hoá chất hoặc tác nhân vật lý và áp dụng các quá trình vệ sinh
thích hợp để loại bỏ các vi sinh vật trên bề mặt;
- “bong đầu” (droptail) là tình trạng
quan sát thấy khi luộc tôm hùm đã chết hoặc kém chất lượng trước khi chế biến.
Thân tôm không cuộn lại được và có lỗ hổng giữa phần thân và phần đầu ngực. Đốm
đen thường xuất hiện giữa các đoạn này;
- “phụ gia thực phẩm (food additive)”
là bất kỳ chất nào mà bản thân nó thông thường không được tiêu dùng như một thực
phẩm hoặc không được sử dụng như một thành phần đặc trưng của thực phẩm, cho dù
nó có hoặc không có giá trị dinh dưỡng, được bổ sung một cách có chủ đích vào
thực phẩm vì mục đích công nghệ (bao gồm cả việc tác động đến tính chất cảm
quan) trong khi sản xuất, chế biến, xử lý, bao gói, vận chuyển, bảo quản để
trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra kết quả mong muốn đối với một thực phẩm hay các
bán thành phẩm và những chất này trở thành một thành phần hoặc ảnh hưởng đến những
tính chất của thực phẩm đó. Thuật ngữ này không bao gồm chất nhiễm bẩn (contaminants)
hoặc những chất được thêm vào để duy trì hay cải thiện chất lượng dinh dưỡng
của thực phẩm;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- “ruột” (intestine) đường tiêu hoá
phía sau lưng tôm;
- “tôm hùm” (lobster) là loài thuộc
ngành giáp xác, thuộc giống Homarus, họ Nephropidae, họ Palinuridae và họ
Scyllaridae;
- “nhà máy hoặc xí nghiệp” (plant or
establishhment) là nơi sản xuất hoặc bảo quản thực phẩm;
- “nước uống” (potable) là nước sạch
thích hợp để dùng cho con người và có các chỉ tiêu chất lượng không thấp hơn các
mức quy định tương ứng nêu trong ấn bản "Tiêu chuẩn quốc tế về nước uống"
mới nhất của tổ chức y tế thế giới;
- “nước biển lạnh” (refrigerated sea
water) là nước biển sạch được làm lạnh bằng cách cho thêm đá lạnh làm từ nước
uống hoặc từ nước biển sạch và/hoặc bằng hệ thống làm lạnh thích hợp. Nồng độ
muối thường khoảng 3 %;
- “bóc vỏ” (shucking) là quá trình
tách phần thịt khỏi vỏ và các phần khác của tôm hùm;
- “vật liệu chống ăn mòn thích hợp”
(suitable corrosion-resistan material) là các vật liệu không thấm nước, không
lồi lõm, không nứt, không gỉ, không độc hại và không bị ảnh hưởng của nước
biển, nước đá, dịch nhớt của tôm hay bất cứ chất bào mòn nào khác. Bề mặt của
vật liệu chống ăn mòn phải nhẵn và dễ làm sạch bằng các chất tẩy rửa;
- “thân” (tail) là phần cơ thể từ giáp
đầu ngực đến đuôi;
- “tách thân” (tailing) là quá trình
tách phần thân tôm ra khỏi phần đầu ngực.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1 Yêu cầu chung
Tôm hùm sống là động vật rất nhạy cảm, cần
hết sức thận trọng trong suốt quá trình xử lý.
Môi trường tự nhiên của tôm hùm bị thay đổi
rất nhanh khi chúng bị đưa từ dưới đáy biển lên mặt biển. Tôm hùm khoẻ có thể
dần dần tự thích ứng với những sự thay đổi này, nhưng sức sống của tôm hùm bị
giảm đáng kể, do đó điều hết sức quan trọng khi xử lý tôm tại thời điểm này là
phải xử lý tôm một cách thận trọng nếu muốn tránh thiệt hại nặng. Không nên để
tôm hùm tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời hoặc bị khô do ảnh hưởng của
gió. Cần xếp tôm một cách cẩn thận vào sọt, thùng thưa hoặc túi lưới sạch và
thoáng, đồng thời bảo quản trong điều kiện râm mát như yêu cầu đối với các loài
khác. Bất cứ một sự bất cẩn nào trong quá trình xử lý cũng dẫn đến tỷ lệ tôm
chết cao và làm giảm giá trị của nguyên liệu tươi.
Ở những nơi cho phép tiến hành hoạt động đánh
bắt, tôm hùm nên được giữ trong trạng thái khoẻ mạnh đến lúc chế biến.
Tôm hùm sống được trong thùng chứa trong thời
gian khá dài nếu được lưu giữ trong điều kiện thích hợp. Thậm chí khi rời khỏi
môi trường nước chúng vẫn có thể sống được quá 24 giờ.
Tôm hùm sau khi chết bị hư hỏng nhanh hơn so
với hầu hết các loài cá và cách duy trì chất lượng tốt nhất là giữ chúng ở
trạng thái sống cho đến lúc chế biến. Nếu không thể giữ sống được thì nên chủ động
làm chết tôm, sau đó cẩn thận tách riêng và làm sạch phần thân trước khi cấp
đông hoặc làm lạnh. Các công đoạn này cần tiến hành càng nhanh càng tốt để ngăn
ngừa sự phân huỷ của vi sinh vật và sự hư hỏng nguyên liệu do hoạt động của các
enzim.
Khi đánh bắt hoặc thu hoạch tôm hùm sống, cần
tách riêng tất cả những con chết hoặc bị thương ra khỏi mẻ đánh bắt.
Nếu không tách riêng và loại bỏ những con tôm
chết hoặc bị thương thì sẽ ảnh hưởng chất lượng của cả mẻ lưới. Tôm yếu hoặc
chết nên được chế biến ngay, cần loại bỏ những con tôm chết đang bị phân huỷ
hoặc những con tôm có chứa độc tố hay các chất lạ. Những con vỏ mềm (đang trong
giai đoạn lột vỏ) nên được xử lý hết sức cẩn thận vì chúng sẽ chết rất nhanh ở
mật độ chứa quá dầy.
4. Xử lý tôm hùm ở
ngoài khơi - Yêu cầu đối với trang bị của tàu đánh bắt và đối với việc vận hành
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tàu đánh bắt nên được thiết kế để có thể xử
lý tôm hùm nhanh và hiệu quả nhất, dễ làm sạch và khử trùng, đồng thời cần được
làm bằng loại vật liệu có cấu trúc phù hợp nhằm giảm thiểu sự hư hỏng hoặc
nhiễm bẩn các mẻ tôm đánh bắt được.
Ngoài tính năng của tàu đánh bắt nói chung,
khi thiết kế tàu đánh bắt tôm hùm cần chú ý tới nhiều yếu tố khác nhằm tránh
không cho tôm hùm bị nhiễm bẩn do nước bẩn ở đáy tàu, nước cống, khói, nhiên
liệu, dầu, dầu nhờn và các chất có hại khác, đồng thời để bảo vệ tôm đánh bắt được
khỏi hư hại và tránh tiếp xúc trực tiếp với nhiệt độ cao hoặc bị khô do nắng và
gió.
Tàu sử dụng cho việc đánh bắt tôm hùm khác
nhau đáng kể về kích cỡ và tính năng tuỳ thuộc vào từng phương thức đánh bắt.
Tàu chỉ xử lý tôm hùm sống có những yêu cầu về cấu trúc và sự vận hành khác với
tàu chế biến và cấp đông thân tôm ngay trên tàu. Quy phạm này cố gắng đề cập
tất cả các thao tác thực hành được sử dụng trong việc xử lý tôm hùm ngoài khơi,
do đó chỉ có một vài điều dưới đây có thể có liên quan tới một nghề cá cụ thể.
Tàu chế biến tôm hùm cần đáp ứng các yêu cầu
giống như của các cơ sở trên bờ về thiết kế, cấu trúc, cách bố trí trang thiết
bị và quá trình chế biến cũng cần được thực hiện dưới các điều kiện hợp vệ sinh
tương tự như đối với các cơ sở trên bờ.
Bề mặt của tất cả những thiết bị, dụng cụ mà
tôm hùm có thể tiếp xúc cần được làm bằng các vật liệu chống ăn mòn thích hợp,
nhẵn và dễ làm sạch.
4.2 Thiết kế về vệ sinh và thiết kế về cấu
trúc tàu đánh bắt tôm hùm
Boong, các cột tàu, các khoang nhỏ và các
thùng chứa phải được làm bằng các vật liệu chống ăn mòn thích hợp. Chúng cần được
thiết kế thích ứng về chiều cao và số lượng tuỳ theo kích cỡ và dung tích của tàu
để tránh thiệt hại khi tôm hùm bắt được vượt quá tải trọng, không ảnh hưởng đến
khả năng chuyển động của tàu và đủ chứa mẻ lưới dự kiến.
Trên thực tế, gỗ vẫn được sử dụng làm ván tàu
và thép để làm cột và các bộ phận kết cấu khác. Khi đó, gỗ cần được xử lý để có
khả năng chống thấm và cần được phủ một lớp sơn màu sáng, bền, không độc hoặc
một lớp chất bao phủ bề mặt không độc, nhẵn, dễ làm sạch. Các dụng cụ bằng thép
cần được phủ một lớp sơn chống ăn mòn và không độc hại. Các vật liệu chống ăn
mòn thích hợp cần được sử dụng bất cứ khi nào có thể. Đối với các tàu đánh bắt
lưu giữ tôm hùm sống, chỉ các tàu có boong nhỏ là phải phân loại tôm và vận
chuyển cẩn thận về thùng chứa, khoang chứa hoặc túi chứa càng sớm càng tốt ngay
sau khi vớt lên mạn thuyền.
Các thùng bảo quản thân tôm hùm ướp đá ở trên
tàu phải được cách ly bằng một vật liệu thích hợp. Tất cả các đường ống, dây
xích hoặc dây cáp điện đi qua khoang chứa, nếu có thể, phải được đặt chìm hay
bọc kín và cách ly.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các đường nối của hầm hay thùng chứa phải
tuyệt đối không thấm nước, lớp cách ly phải có một lớp lót bảo vệ làm bằng kim
loại chống ăn mòn hoặc bằng các vật liệu chống ăn mòn thích hợp, không độc và
chống thấm khác.
Lớp cách ly nên được bao bọc bằng lớp kim
loại chống ăn mòn và chống thấm để đảm bảo không bị nhiễm bẩn.
Hầm hay thùng chứa bằng gỗ nên được phủ bằng
một vật liệu thích hợp.
Các mối ghép nối trong thùng chứa làm bằng gỗ
cũng phải thoả mãn các điều kiện như đã nêu ở 4.2. Chúng phải được bịt kín và
bao phủ bằng vật liệu chống thấm, không độc, đồng thời phải dễ làm sạch và sửa
chữa.
Thùng chứa không nên có các góc nhọn hay các
chỗ nhô ra vì chúng sẽ gây khó khăn cho việc làm sạch và có thể làm hư hỏng tôm
hùm.
Sự nhiễm bẩn do các mảnh vụn, dịch nhớt và
chất cặn bã sẽ nhanh chóng lan ra bề mặt, ở những góc cạnh và xung quanh những
chỗ nhô ra có bề mặt nhám và không thấm.
Tất cả những chỗ gờ hay chỗ nhô ra của đường
ống, dây xích hoặc dây cáp điện đi qua khoang chứa phải có kết cấu thích hợp để
giảm thiểu sự hư hại tôm hùm, dễ thoát nước và làm sạch.
Phải sử dụng các tấm ván lưu động làm bằng vật
liệu chống ăn mòn thích hợp hay bằng gỗ được sơn và xử lý chống thấm để làm giá
đỡ ngang và ván ngăn dọc trong hầm chứa.
Việc sử dụng các tấm ván lưu động và các cột
chống trong khoang một cách đồng bộ sẽ cho phép tháo rời các bộ phận kết cấu,
phân chia khoang chứa để làm sạch. Cần xử lý các tấm ván để có khả năng chống
thấm và phủ bên ngoài bằng một lớp sơn bền, không độc hoặc bằng các vật liệu
khác sao cho vẫn đảm bảo độ nhẵn của bề mặt tấm ván, đồng thời dễ làm sạch và
sửa chữa. Nếu có thể, ván để làm giá đỡ và các tấm ván sàn hay ván tạo kết cấu
khác của tàu nên có cùng kích cỡ để dễ đổi lẫn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Dòng nước đá chảy nhỏ giọt liên tục sẽ giúp
loại bỏ bớt các mảnh tôm vụn, chất nhớt và vi sinh vật có hại trên giá đỡ. Các
tấm ván có rãnh làm bằng vật liệu chống ăn mòn là thích hợp nhất trong trường
hợp này.
Giữa tầng thấp nhất và sàn của hầm chứa luôn
luôn phải có một khoảng trống hợp lý để nước thải thoát ra ngoài. Khoảng cách
này phải đủ lớn để đặt đường ống dẫn nước thải nối trực tiếp với một hoặc nhiều
bể hay thùng gom nước, được đặt ở vị trí sao cho chất thải ở trong thùng chứa luôn
được thải ra ngoài kịp thời. Máy bơm chất thải vào bể gom nước phải có một bộ
lọc thô.
Hệ thống thoát chất thải thích hợp có thể
ngăn ngừa sự tích tụ lượng nước đá tan, dịch nhớt và các mảnh tôm vụn. Nếu hệ
thống này không phù hợp, các lớp tôm phía dưới đáy hầm chứa có thể bị nhiễm bẩn
do các chất bẩn nói trên, đặc biệt khi tàu chuyển động nhanh. Phải tách riêng
chất bùn bẩn đáy khoang, nước bẩn đáy tàu và các chất bẩn khác từ hầm chứa với
chất thải từ hệ thống buồng máy để ngăn ngừa sự nhiễm bẩn.
Thùng hay khoang chứa sử dụng cho việc bảo
quản tôm hùm sống phải được đặt ở vị trí và có cấu trúc thích hợp để đảm bảo sự
sống của tôm hùm và bảo vệ tôm khỏi hư hại.
Trong thùng bảo quản tôm hùm sống cần có sự
đối lưu cưỡng bức bằng cách bơm nước biển sạch từ đáy lên bề mặt thùng. Việc
này phải được tiến hành sao cho không bỏ sót “vùng chết” trong thùng và có thể
kết hợp với việc sử dụng lưới kim loại đặt phía dưới đáy thùng. Thùng không nên
có kích thước quá lớn và khi đã chứa đầy tôm thì số lần thay nước ít nhất là
bốn lần trong một giờ. Thùng nên được chia ra thành từng ngăn để tách từng mẻ lưới
và cũng cần trang bị các giỏ làm bằng vật liệu chống mài mòn và chống thấm để
dễ xếp dỡ, vận chuyển. Các giỏ khoảng 1 m3 được coi là hợp lý nhưng việc xác
định mật độ tôm trong giỏ bằng thực nghiệm là cần thiết đối với mỗi nơi.
Khi sử dụng những khoang thông thuỷ để chứa
tôm, các lỗ hổng phải có kích thước đủ lớn để lưu thông nước một cách có hiệu
quả. Sự chuyển động của tàu là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới sự lưu thông, trừ
khi sử dụng các thiết bị phụ trợ như bơm. Nếu nước không được lưu thông, tôm
hùm sẽ chết.
Cần có bẫy lưới, giỏ bắt tôm hùm, lưới giăng
và các trang bị khác được thiết kế hợp lý để tránh làm hư hại tôm trong khi
đánh bắt.
Các dụng cụ này có thể để tôm có kích thước
nhỏ lọt lưới xuống biển ở những nơi quy định và cho phép giảm thiểu thiệt hại
về mặt thương mại của mẻ lưới. Chân và các phần khác trên cơ thể tôm hùm rất dễ
bị gẫy, do đó dễ gây mất dịch cơ thể và bị bệnh truyền nhiễm, làm tôm bị yếu
đi. Giá trị thương mại của tôm hùm do đó cũng bị giảm.
4.3 Thiết bị vệ sinh
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Kho chứa nhiên liệu, các sản phẩm dầu mỏ khác
hoặc các chất tẩy rửa nên sắp xếp sao cho không có khả năng gây nhiễm bẩn các
bề mặt tiếp xúc với tôm hùm.
Vòi nước ở trên boong tàu phải được cung cấp
nước biển sạch và cần có một máy bơm chuyên dùng bơm nước biển sạch có đủ công
suất để tạo áp lực nước cần thiết.
Phải luôn luôn đảm bảo cung cấp đủ nước biển
sạch với áp suất cần thiết.
Chỗ lấy nước biển cần phải nằm ở phía trước,
cách xa hoặc ở phía đối diện so với chỗ thoát nước làm mát máy và chất thải từ
khu vệ sinh trên tàu. Không được lấy nước biển khi tàu đang ở cảng hoặc đang ở
trong khu vực mà nguồn nước có nguy cơ ô nhiễm. Nước biển sạch phải được lấy
khi tàu đang ở ngoài khơi và đang chuyển động về phía trước.
ống dùng để vận chuyển nước biển sạch không được
nối thông với hệ thống chứa nước ngưng hay nước làm mát động cơ. ống phải được
thiết kế sao cho nước từ khu vệ sinh hay từ các bồn rửa không chảy ngược trở
lại.
Đá lạnh phải đựơc làm từ nước uống hoặc nước biển
sạch và không bị nhiễm bẩn trong quá trình sản xuất, xử lý và bảo quản.
Nếu đá không được sản xuất từ nước uống hay nước
biển sạch thì tôm hùm sẽ bị nhiễm bẩn do các vi sinh vật, các chất khong mong muốn
hoặc thậm chí các chất độc hại có trong nước. Sự nhiễm bẩn này dẫn đến làm giảm
chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời hạn sử dụng của sản phẩm và có thể gây ra sự
nguy hiểm nhất định cho sức khoẻ.
Kho chứa đá làm lạnh trên tàu phải được cách
ly và toàn bộ lượng đá không dùng đến còn lại cần được đổ đi mỗi khi chuyến
đánh bắt kết thúc.
Thiết bị trong nhà vệ sinh trên tàu, toàn bộ
hệ thống cấp nước và các đường dẫn chất thải phải được thiết kế sao cho không
làm nhiễm bẩn đến những mẻ tôm đánh bắt được.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu sử dụng mồi nhử tôm, thì cần bảo quản mồi
theo cách sao cho không làm nhiễm bẩn mẻ tôm đánh bắt được.
Khi tàu chở theo mồi nhử tôm, phải sử dụng
một vật chứa đặc biệt hoặc một khu vực cách ly có khả năng bảo quản mồi tốt và
để ngăn không cho mồi tiếp xúc với mẻ tôm đánh bắt được. Không được cho đá sử
dụng để bảo quản mồi câu tiếp xúc với sản phẩm đánh bắt được.
Tàu đánh bắt phải được trang bị bàn chải,
chổi lau, vòi nước, vòi sen và các dụng cụ làm sạch và thiết bị khử trùng thích
hợp khác.
Mặc dù trên thị trường hiện nay rất sẵn các
dụng cụ, thiết bị làm sạch và khử trùng với nhiều chủng loại khác nhau, nhưng
loại bàn chải cầm tay có chất lượng tốt với các kích cỡ và hình dạng khác nhau
vẫn là dụng cụ làm sạch kinh tế nhất và đa năng nhất. Sau mỗi lần làm sạch, bàn
chải phải được khử trùng (nên ngâm trong nước clo nồng độ 50 ppm) và cất giữ ở
nơi đảm bảo vệ sinh và nếu không sử dụng đến thì nên cất giữ chúng ở trạng thái
khô ráo.
Việc làm sạch sẽ rất hiệu quả nếu sử dụng
thiết bị phun chất tẩy rửa, thiết bị phun nước áp suất lớn hoặc thiết bị tạo
dòng nước dao động với tần số cao nhưng công việc này phải do một người có kinh
nghiệm thực hiện để không làm hỏng các bề mặt được sơn phủ.
Nếu trên tàu có chứa các chất độc hại, bao
gồm cả các chất dùng để làm sạch, chất khử trùng và thuốc trừ sinh vật gây hại
, chúng phải được cất giữ ở một khu vực biệt lập và phải có các dấu hiệu nhận
biết riêng.
Cần phải hết sức chú ý, tuyệt đối không để
các chất độc hại làm nhiễm bẩn tôm hùm đánh bắt được. Các chất này phải được ghi
nhãn rõ ràng và dễ thấy để không nhầm lẫn giữa chúng với nhau và với các chất
không độc khác được sử dụng trên tàu. Các khu vực lưu giữ các chất này phải được
khoá cẩn thận và việc xử lý, bảo quản chúng trong kho chỉ nên do người có
chuyên môn phụ trách.
4.4 Thiết bị và dụng cụ
Vật dùng để chứa tôm hùm ướp đá cần phải đồng
bộ, có kích thước phù hợp, dễ thao tác khi xếp dỡ và phải được làm bằng vật
liệu chống ăn mòn thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Không nên sử dụng các thùng bằng gỗ, nhưng
nếu sử dụng thì các thùng này phải có bề mặt nhẵn, bền và phải được phủ bên
ngoài bằng một lớp vật liệu chống thấm, không gây độc hại.
Không nên dùng giỏ để vận chuyển tôm hùm lên hay
xuống tàu vì việc làm sạch và khử trùng sẽ rất khó.
Tất cả các kho bảo quản tôm hùm, thiết bị,
vận chuyển, xử lý, chế biến và cấp đông tôm hùm ở trên tàu đánh bắt phải được
thiết kế sao cho có thể xử lý tôm một cách nhanh chóng và có hiệu quả, đồng
thời phải có cấu trúc thích hợp để dễ làm sạch và không làm nhiễm bẩn sản phẩm.
Khi lựa chọn thiết bị, cần ưu tiên xem xét
những thiết bị dễ dàng tháo lắp để làm sạch triệt để.
Thiết bị làm lạnh phải đáng tin cậy và thích
hợp cho việc làm lạnh tôm hùm.
Điều quan trọng nhất là toàn bộ quá trình làm
lạnh phải được thực hiện theo đúng cách thức đã định, sử dụng các thiết bị có
công suất đủ lớn và thích hợp đối với sản phẩm. Máy lạnh cần có bộ phận phá băng
và được thiết kế để dễ dàng làm sạch. Thiết bị làm lạnh phải đáng tin cậy và có
cấu trúc cứng, vững. Nó có khả năng hoạt động trong khoảng thời gian dài mà
không cần chú ý nhiều và phải có bộ phận tự động dừng hoạt động trong trường
hợp khẩn cấp.
4.5 Yêu cầu vệ sinh
Tất cả bồn, thùng chứa và các thiết bị, dụng
cụ khác sử dụng trong quá trình xử lý, tách thân, bỏ ruột, rửa và vận chuyển
phải được làm sạch triệt để, được khử trùng và được xối nước mỗi khi dùng xong.
Nếu để dịch nhớt, chất cặn bẩn hay các mảnh
tôm vụn khô đi và tích tụ trên các bề mặt thường xuyên tiếp xúc với tôm hùm,
thì sẽ rất khó loại bỏ chúng và do đó sẽ làm nhiễm bẩn mẻ tôm tiếp theo.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nước bẩn ở đáy tàu chứa nhiều dịch nhớt và
các mảnh tôm vụn, nếu không được tháo xả thường xuyên sẽ là môi trường thuận
lợi cho các vi sinh vật phát triển và do đó sẽ làm thùng chứa có mùi khó chịu.
Cần làm sạch và khử trùng bể chứa nước bẩn ở đáy tàu một cách thường xuyên.
Phải luôn quan tâm phòng ngừa để đảm bảo các
chất thải của người và các chất thải khác trên tàu đánh bắt thường xuyên được
xử lý kịp thời bằng phương pháp thích hợp để không gây ảnh hưởng tới sức khoẻ
cộng đồng và trở thành mối nguy về an toàn vệ sinh.
Việc bảo vệ môi trường ngày càng được quan
tâm. Luật của một số nước còn cấm tàu, thuyền xả chất thải ra vùng nước xung
quanh.
Ngư dân phải nhận thức đầy đủ trách nhiệm của
mình trong việc bảo vệ môi trường. Các tàu đánh bắt không được phép xả chất thải
của người, động vật và các chất thải khác xuống vùng nước gần nơi có người cư
trú hoặc xuống vùng nuôi trồng thuỷ sản.
Nước biển đã được sử dụng để làm lạnh động
cơ, thiết bị ngưng tụ và các thiết bị khác không được dùng để rửa tôm hùm, mặt
boong, thùng chứa và các dụng cụ, thiết bị khác tiếp xúc với tôm hùm.
Nước dùng để làm mát động cơ thường có nhiệt
độ cao hơn nước biển sạch tự nhiên và có thể bị nhiễm bẩn do lẫn xăng dầu hay
các sản phẩm dầu mỏ khác, đồng thời cũng có thể chứa các gỉ sắt hay các sản phẩm
tương tự của quá trình ăn mòn kim loại.
Do đó, việc dùng loại nước này để rửa sẽ đẩy
nhanh quá trình phân huỷ tôm hùm do làm tăng nhiệt độ cơ thể của chúng và dẫn
đến sự biến đổi không mong muốn về màu sắc, mùi, vị của tôm.
Thực hiện quá trình rửa và làm sạch khi tàu
đang ở cảng bằng nước uống hoặc nước biển sạch.
Nước biển sạch không chứa các nguồn gây nhiễm
bẩn ở mức nguy hiểm cho con người. Tổng số vi sinh vật trong nước biển sạch
thấp và không chứa các vi sinh vật gây hại đáng kể cho khoẻ cộng đồng. Sự nhiễm
bẩn tôm hùm do các loại vi sinh vật có hại trong nước và các chất không mong
muốn khác sẽ làm giảm chất lượng tôm và tạo ra mối nguy cho sức khoẻ con người.
Không được lấy nước ở cảng, ở gần nơi dân cư sinh sống, nơi có nhà máy công
nghiệp, có các cơ sở chế biến thuỷ sản, nơi có nhà máy đóng tàu để làm sạch vì
những vùng nước này thường bị ô nhiễm nặng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chất nhờn, nội tạng, các mảnh tôm vụn và các
chất khác còn lại trên tàu sẽ tạo điều kiện cho các vi sinh vật phát triển và
gây hại cho lần đánh bắt lần tiếp theo. Mặt khác, nếu các chất này khô đi, sẽ
rất khó loại bỏ chúng.
Điều quan trọng là phải luôn luôn làm sạch kỹ
trước khi khử trùng, đặc biệt khi sử dụng clo làm chất khử trùng. Bất cứ chất
hữu cơ nào không được loại bỏ khỏi các bề mặt khi làm sạch đều nhanh chóng kết
hợp và làm mất tác dụng khử trùng của clo cũng như của các chất khử trùng khác.
Sau mỗi chuyến đánh bắt, đá lạnh không sử
dụng đến phải bỏ đi.
Mặc dù đã thực hiện nhiều biện pháp phòng
ngừa ở trên, nhưng nếu không loại bỏ nước đá còn lại, thùng chứa sẽ bị nhiễm
bẩn và ảnh hưởng đến lần đánh bắt tiếp theo. Đối với các tàu phải mang theo đá
lạnh, mỗi lần bắt đầu chuyến đánh bắt chỉ nên lấy đá mới được làm từ nước biển
sạch.
Ngay sau khi tôm đánh bắt được chuyển lên bờ,
phải loại bỏ hết phần còn lại trong các thùng chứa tôm và bể chứa nước bẩn ở
đáy tàu. Toàn bộ bề mặt của thùng chứa, ván sàn, boong và hầm chứa nước bẩn
phải được làm sạch kỹ bằng các chất tẩy rửa thích hợp, phải được tẩy trùng và
xối lại bằng nước sạch.
Cần phải loại toàn bộ dịch nhớt, mảnh tôm vụn
và các chất khác còn bám dính lại ngay sau khi hải sản được đem lên bờ nhằm
tránh sự phát triển của các vi sinh vật, sự hình thành mùi khó chịu cũng như
không để chất bẩn khô đi, bám trên bề mặt của thùng chứa và các thiết bị, dụng
cụ khác. Quá trình làm sạch phải được hoàn thành trước khi đá sạch được chuyển
lên tàu để bắt đầu một chuyến đánh bắt mới.
Các quy trình rửa, làm vệ sinh và khử trùng
phải có hiệu quả.
Các chất tẩy rửa và chất khử trùng phải đáp
ứng các yêu cầu quy định của cơ quan có thẩm quyền và không được cho chúng tiếp
xúc với tôm hùm. Phải loại bỏ hoàn toàn phần dư lượng còn lại của chúng ở các
khu vực trên tàu, trên các bề mặt thiết bị, dụng cụ trước khi khu vực hay thiết
bị, dụng cụ đó được sử dụng tiếp để lưu giữ và xử lý tôm hùm bằng cách rửa và xối
kỹ lại bằng nước uống hay nước biển sạch.
Khi lựa chọn và sử dụng các loại chất tẩy rửa
và chất khử trùng cần phải hiểu rõ đặc tính và phạm vi sử dụng của chúng. Nhiều
chất chỉ có hiệu quả khi được chuẩn bị và sử dụng theo đúng hướng dẫn của nhà
sản xuất.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các thùng và hầm chứa khi không chứa tôm hùm
phải được thông gió.
Nếu không được thông gió, trong các thùng và
hầm chứa này sẽ có mùi khó chịu do nấm mốc, không khi ẩm tù đọng và sự phân huỷ
của những chất hữu cơ. Tất cả vật chứa, sau khi được rửa, làm sạch và khử trùng
cần phải được sắp xếp sao cho đảm bảo sự thông khí cần thiết.
Cần áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm bảo
vệ tàu đánh bắt khỏi côn trùng, loài gặm nhấm, chim và các loại vật gây hại
khác.
Loài gặm nhấm, chim và côn trùng có thể mang
theo nhiều mầm bệnh làm nhiễm bẩn, hư hỏng hải sản đánh bắt được và lây truyền
cho người. Cần thường xuyên kiểm tra tàu đánh bắt để phát hiện dấu hiệu về sự
xâm nhập, phá hoại của chúng và nếu cần thiết phải sử dụng các biện pháp kiểm
soát hữu hiệu.
Tất cả các loại thuốc diệt trừ loài gặm nhấm,
côn trùng, thuốc xông và các loại chất độc hại khác phải được sử dụng theo đúng
hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Khi tàu neo đậu trong bến nhiều hơn 2 giờ,
cần có các dụng cụ bảo vệ các dây neo tàu chống lại sự tấn công của loài gặm
nhấm.
Các dụng cụ bằng kim loại hình tròn, hình nón
đặt trên dây neo có tác dụng tích cực trong việc ngăn không cho loài gặm nhấm
xâm nhập từ bờ lên tàu qua đường dây neo.
Việc sử dụng các dụng cụ này được đặc biệt
khuyến nghị vào ban đêm do đặc tính tự nhiên của loài gặm nhấm là chuyên hoạt
động về đêm.
Cũng như vậy, đầu của cầu tàu và phần trên bờ
có diện tích khoảng 1 m2, xung quanh chỗ tiếp xúc giữa cầu tàu và bờ nên được
sơn trắng. Điều này sẽ ngăn ngừa sự thâm nhập lên tàu của loài gặm nhấm qua cầu
tàu vào ban đêm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để tránh nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng và
vì lý do mỹ quan, tất cả các bề mặt tiếp xúc với tôm hùm của tàu của thiết bị
trên tàu không được để tiếp xúc trực tiếp và bị nhiễm bẩn bởi lông và các chất
bài tiết của động vật.
Thực phẩm cung cấp cho bếp ăn của tàu hoặc
cung cấp trực tiếp cho những thuỷ thủ trên tàu không được cất giữ chung trong
thùng đá cùng với tôm hùm đánh bắt được.
Việc bảo quản thực phẩm trong đá dự định dùng
để ướp lạnh tôm hùm sẽ làm nhiễm bẩn đá và do đó cũng làm nhiễm bẩn tôm hùm.
4.6 Xử lý tôm hùm đánh bắt được trên tàu
4.6.1 Bảo quản tôm hùm sống
Bảo quản tôm hùm sống được đặc biệt khuyến
nghị để sản xuất sản phẩm có chất lượng cao.
Như đã đề cập ở phần trên, có thể lưu giữ tôm
hùm sống cả trên tàu và tại các cơ sở trên bờ trong các thùng chứa, bể ngầm,
hoặc các lồng thả trên biển. Chúng cũng có thể sống được trong thời gian ngắn
trên cạn trong các túi lưới. Việc bảo quản tôm sống không phải lúc nào cũng có
thể thực hiện được đối với tất cả các làng nghề, vì vậy cần xem xét những phương
pháp khác có liên quan đến quá trình sơ chế trên tàu, ví dụ tách thân và bảo
quản lạnh thân tôm. Những phương pháp này cần được sử dụng đối với nơi tôm hùm
bị chết trong quá trình đánh bắt bằng xiên hay bằng lưới rê.
Phải tách riêng các loài hải sản lẫn trong mẻ
lưới có thể gây tổn thương cho tôm hùm càng sớm càng tốt sau khi kéo lưới.
Cần tránh việc cắt bỏ cơ của càng và buộc các
chân chèo vào càng tôm vì làm như vậy tôm yếu đi và dễ bị nhiễm bệnh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Lưu giữ tôm hùm sống trong các thùng chứa được
coi là phương pháp bảo quản dài hạn tốt hơn khi để chúng trong khoang tàu. ở
một vài nơi đánh bắt, có thể giữ được tôm hùm sống trong các thùng chứa khoảng
6 tuần.
Trong cả hai phương pháp trên không nên buộc
tôm quá chặt. Đối với khoang tàu các vách ngăn nằm ngang cách nhau không dưới
70 cm. Mặt khác, cũng không nên buộc quá lỏng vì làm như vậy tôm hùm trong
thùng chứa hoặc trong khoang có thể làm hại lẫn nhau.
Tôm hùm sống được bảo quản trên cạn trong túi
lưới thì cần được lèn chặt để tránh sự vận động và gây hư hỏng. Khối lượng lớn
nhất của một túi chứa tôm phải được xác định đối với từng nơi.
Không nên sử dụng túi lưới để bảo quản tôm
hùm sống quá 24 giờ, nhưng nếu sử dụng chúng phải được làm sạch cẩn thận và có
kết cấu thoáng. Chất nhớt hoặc bùn bám trên các sợi lưới của túi sẽ làm tôm hùm
bị ngạt thở rất nhanh. Không nên bảo quản túi lưới chứa tôm hùm sống ở nơi có
độ ẩm cao và nên giữ cho túi khô để tránh sự vận động của tôm. Thích hợp hơn là
sử dụng túi sạch làm bằng vải bao bố hoặc bằng sợi đay, sợi gai để bảo quản tôm
hùm sống. Không nên dùng túi làm bằng vật liệu sợi tổng hợp vì tỷ lệ tôm chết
cao hơn.
Không nên để tôm hùm tiếp xúc trực tiếp với
nắng, gió hoặc nhiệt độ cao Để tôm ngoài nắng sẽ làm mang của chúng bị khô
nhanh. Khi mang khô thì tôm hùm không thở được và chết rất nhanh. Nhiệt độ
trong khoảng 4 oC - 10 oC (39 oF - 50 oF)
là thích hợp. Đối với những nơi đánh bắt ven bờ, các điều kiện này có thể đạt được
bằng cách bảo quản tôm trong các bể chứa có hệ thống tuần hoàn nước biển. Một số
nơi còn sử dụng vải bạt ướt để phủ lên tôm chứa trong những thùng thưa.
Cần có một trật tự sắp xếp cho hải sản đánh
bắt được ở trên tàu lưu giữ tôm hùm sống trong thời gian nhiều hơn một hoặc hai
ngày.
Nếu có một trật tự sắp xếp hợp lý, các mẻ
đánh bắt được của các ngày khác nhau sẽ được bảo quản riêng rẽ và dễ dàng phân
biệt khi xếp dỡ. Tôm hùm đánh bắt được trong những ngày khác nhau sẽ không bao
giờ bị xếp lẫn với nhau.
Tôm hùm cần được xếp dỡ cẩn thận, tất cả
những con yếu hoặc bị chết phải được tách riêng và loại bỏ.
Yêu cầu này cần được thực hiện cả khi vận
chuyển tôm hùm trên tàu và từ tàu lên bờ. Nếu xử lý quá lâu cũng làm tôm bị
chết nhiều.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sau khi đánh bắt lên, nếu tôm hùm không còn sống
phải tách riêng phần thân và phần đầu ngực.
Việc này phải thực hiện ngay sau khi tôm hùm
được đưa từ mặt biển lên trên boong tàu. Số tôm đã chết hoặc bị giết sẽ hỏng
rất nhanh. Có thể phân biệt được chúng một cách dễ dàng, thậm chí cả sau khi
luộc chín, bằng sự biến màu nâu, thịt phần thân phía đầu mềm, sự hình thành các
đốm đen giữa các đoạn thân và tình trạng “bong đầu”.
Tôm hùm phải được bảo quản hay chế biến càng
sớm càng tốt sau khi đánh bắt
Đường tiêu hoá của tôm hùm nguyên con không được
xử lý nhiệt sẽ bị vỡ trong vòng 1 giờ sau khi tôm chết và giải phóng ra các
enzim có khả năng phân huỷ trên khắp phần thân phía đầu tôm làm cho sự tự phân
xảy ra nhanh.
Việc tách thân tôm cần được thực hiện theo
cách nêu ở 5.4.1 của quy phạm này.
Tỷ lệ hỏng của thân tôm khi được làm sạch và
bỏ ruột đúng cách thấp hơn đáng kể so với khi tôm chết để nguyên con.
4.6.3 Cấp đông ở trên tàu khai thác ngoài
khơi
Thân tôm hùm phải được cấp đông ngay
Chất lượng tối ưu của tôm có thể duy trì được
bằng cách làm lạnh đông ngay sau khi tách thân. Điều này có thể thực hiện trên
tàu được thiết kế thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Yêu cầu vệ sinh trên tàu thường cao hơn ở
những cơ sở chế biến trên bờ.
Mẻ tôm hùm đánh bắt trước phải được cấp đông
trước
Trình tự vận hành phải đảm bảo để tôm hùm được
đánh bắt và chế biến ở lần trước không bị chất đống trong khi tôm hùm đánh bắt
được ở mẻ lưới sau đang được cấp đông.
Máy lạnh và kho cấp đông phải phù hợp với
công suất đánh bắt trung bình của tàu để tôm hùm đánh bắt được không phải chờ
quá lâu trước khi được cấp đông.
Tốt nhất là tôm hùm được cấp đông sớm sau khi
đánh bắt. Việc duy trì nguyên liệu chưa chế biến trong điều kiện lạnh trước khi
cấp đông là rất quan trọng. Việc cấp đông chậm sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến
chất lượng và dạng bên ngoài sản phẩm khi làm tan giá.
Thời gian cấp đông cho sản phẩm tôm hùm cần được
xác định một cách chính xác.
Thời gian cấp đông yêu cầu đối với những sản
phẩm khác nhau không giống nhau và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, ví dụ như hình
dạng, kích cỡ, diện tích bề mặt tiếp xúc môi trường được làm lạnh, môi trường
làm lạnh và nhiệt độ của tác nhân lạnh. Thời gian cấp đông được tính trước chỉ
có vai trò như một hướng dẫn sơ bộ khi lập kế hoạch sản xuất. Khi một sản phẩm
mới được cấp đông trong một máy làm lạnh, cần xác định chính xác thời gian cấp
đông bằng cách đo và theo dõi trực tiếp nhiệt độ sản phẩm trong suốt quá trình
cấp đông. ở nhiều quốc gia, có thể nhận được cách đo chính xác nhiệt độ sản
phẩm bằng thực nghiệm từ các tổ chức nghiên cứu thuỷ sản.
Quá trình cấp đông phải tiến hành nhanh và
phải có sự giảm nhiệt độ thích hợp để tránh làm giảm chất lượng của tôm hùm
đông lạnh.
Cấp đông chậm, cấp đông không triệt để và cấp
đông không đạt nhiệt độ thấp cần thiết sẽ ảnh hưởng xấu đến kết cấu thịt, mùi
và thời hạn bảo quản tôm. Vì việc cấp đông nhanh và làm giảm nhanh nhiệt độ sản
phẩm xuống nhiệt độ bảo quản đông lạnh làm giảm thiểu những biến đổi bất lợi,
nên điều cần thiết để sản xuất sản phẩm đông lạnh có chất lượng cao là máy làm
lạnh phải có khả năng cấp đông thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Toàn bộ quá trình cấp đông phải được thực
hiện trong thiết bị làm lạnh cho phép hoạt động liên tục đối với mỗi chu trình.
Nhà sản xuất thiết bị làm lạnh cần cung cấp
tất cả những thông tin cần thiết cho việc vận hành đúng thiết bị, kể cả thời
gian yêu cầu cho mỗi chu trình cấp đông. Nếu thiết bị thực hiện tốt chức năng
và quá trình xếp dỡ được thực hiện theo đúng hướng dẫn, thì tôm hùm khi cấp
đông xong sẽ đạt yêu cầu. Cần tránh hiện tượng rút bớt thời gian cấp đông trong
quá trình hoặc sản phẩm quá đầy kho khi mẻ lưới đánh bắt được lớn. Nếu thời
gian cấp đông quá ngắn, tâm sản phẩm sẽ không đạt được trạng thái đông lạnh,
mặc dù bề mặt của chúng có thể đã đông cứng. Nếu bảo quản nhiều sản phẩm cấp
đông không triệt để, nhiệt độ trong kho bảo quản đông lạnh sẽ tăng lên, thiết
bị làm lạnh phải sinh thêm công để bù đắp và sẽ làm cho nhiệt độ dao động, điều
này gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của toàn bộ sản phẩm trong kho.
Mặt khác, lưu giữ tôm hùm lâu trong phòng cấp
đông sau khi chúng đã được cấp đông triệt để sẽ lãng phí năng lực thiết bị và
gây ra sự trì hoãn không cần thiết cho việc cấp đông các mẻ tôm tiếp theo. Trường
hợp luồng không khí lạnh yếu hoặc máy lạnh không đủ công suất để làm lạnh đông
nhanh, chất lượng sản phẩm sẽ giảm vì có sự mất nước trên bề mặt tôm hùm.
Phải thường xuyên kiểm tra áp suất và nhiệt
độ của hệ thống thiết bị làm lạnh để đảm bảo hệ thống được vận hành tốt.
Nếu thực hiện việc kiểm tra thường xuyên và lưu
giữ biên bản kiểm tra để theo dõi thì tình trạng nhiệt độ máy lạnh lên quá cao
hay thiết bị gặp sự cố ít khi xẩy ra. Mọi sai sót, sự cố cần được khắc phục
ngay. Cần quan sát dụng cụ đo nhiệt độ quá nhiệt ở phía đầu ra của máy nén và
dụng cụ đo nhiệt độ quá lạnh của chất lỏng đặt trước các van giảm áp. Đôi khi
việc đọc nhiệt độ tại hai vị trí này cho phép phát hiện sự rò rỉ tác nhân lạnh
trước khi công suất làm lạnh bị suy giảm nghiêm trọng.
Cần lưu giữ hồ sơ về tất cả các thao tác vận
hành trong quá trình cấp đông.
Sự ghi chép chính xác thời gian chất hàng và
dỡ hàng đối với máy cấp đông, lượng tôm hùm đông lạnh về kích cỡ và loài sẽ hỗ
trợ rất nhiều cho việc quản lý và kiểm soát quá trình cấp đông.
Cần bảo quản tôm hùm và sản phẩm tôm hùm đông
lạnh trên tàu ở nhiệt độ thích hợp với từng loài và thích hợp với thành phẩm.
Trong khi thời gian bảo quản tôm hùm đông
lạnh trên thuyền tương đối ngắn, thì thời gian bảo quản chúng trên bờ lại rất
dài. Sự phân hủy trong thời gian đầu bảo quản trên tàu không thể khắc phục được
bằng việc bảo quản ở nhiệt độ thấp hơn sau đó. Vì vậy phải bảo quản tôm hùm
trên tàu ở nhiệt độ cần thiết để duy trì chất lượng vốn có của sản phẩm trong
thời gian bảo quản dự tính, nhiệt độ bảo quản phải là - 18 oC (0 oF)
hoặc thấp hơn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu không thể cấp đông trên tàu, thân tôm
phải được làm lạnh nhanh đến nhiệt độ băng tan và duy trì trong điều kiện lạnh
này cho tới khi chúng được đưa tới cơ sở chế biến hay tới thị trường. Nhiệt độ
là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự duy trì chất lượng của tôm hùm tươi.
Sự tăng nhiệt độ gây ra những tác động luỹ
tiến, thời gian bảo quản bị rút ngắn nhiều lần so với khoảng thời gian mỗi khi
nhiệt độ của tôm hùm tăng lên. Mức độ bị rút ngắn phụ thuộc vào độ tăng của
nhiệt độ và độ dài của thời gian tôm giữ ở nhiệt độ cao.
Tôm hùm ướp đá phải được xếp theo các lớp
mỏng.
Trong thùng ướp đá, tôm hùm phải được trộn
đều với đá nhỏ hoặc được ướp đá theo từng lớp dầy không quá 1 mét (3 feet). Cần
sử dụng hầm chứa có chia ngăn, bể kín có mái che hoặc các vật chứa thích hợp để
ướp lạnh tôm hùm.
Tôm hùm phải được bao bọc xung quanh bằng lượng
đá thích hợp. Việc ướp lạnh tôm trong thùng chứa bằng cách chỉ phủ đá lên trên
bề mặt thùng là không đủ.
Đá không chỉ làm lạnh tôm hùm mà còn duy trì
điều kiện lạnh để bảo quản tôm. Do đó phải có đủ lượng đá cần thiết để bù đắp lại
phần nhiệt truyền vào phòng ướp lạnh qua các lỗ rò. Lượng đá được coi không đủ
để sử dụng nếu cuối chuyến đánh bắt không còn đá để bao bọc quanh tôm hùm. Khó
xác định chính xác lượng đá cần sử dụng nhưng cần mang theo khối lượng đá nặng
hơn so với phần tải trọng của các ngăn bên mạn tàu hoặc của các khoang có vách
ngăn. ở vùng nước ấm hơn, thì lượng đá sẽ cần sử dụng sẽ nhiều hơn so với vùng
có khí hậu lạnh, đồng thời nó cũng phụ thuộc vào sự cách nhiệt của thùng chứa
tôm ướp đá. Lượng đá đủ để sử dụng cần được xác định bằng thực nghiệm cho mỗi
tàu đánh bắt và sự điều chỉnh sai số sau mỗi lần thử nghiệm.
Phải sử dụng đá có kích thước nhỏ.
Đá có kích thước nhỏ sẽ tiếp xúc với tôm hùm
tốt hơn, hạn chế được sự hư hỏng của tôm do tác động cơ học và cho phép làm
lạnh nhanh.
Khi sử dụng các loại hộp để chứa thân tôm ướp
đá, phải xếp đá trong hộp đúng cách và không quá đầy.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các mẻ tôm đánh bắt được trong mỗi ngày cũng
có thể được phân biệt dễ hơn. Vì các hộp được xếp chồng lên nhau trong hầm chứa
nên nếu xếp tôm trong hộp quá đầy, tôm trong các hộp phía dưới sẽ bị hư hỏng.
Để việc ướp lạnh trong mỗi thùng đạt yêu cầu, cần có một lớp đá lót ở đáy trước
khi đến lớp tôm trộn lẫn đá và sau cùng phủ một lớp đá lên trên. Không nên sử
dụng đồng thời phương pháp bảo quản tôm ướp lạnh bằng các hộp cùng với các phương
pháp khác trong cùng một chuyến đánh bắt.
Không nên bảo quản thân tôm hùm trong nước
biển lạnh.
Tình trạng quá nhiều muối thẩm thấu vào thịt
tôm xảy ra một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, có thể sử dụng hệ thống xử lý bằng
nước biển lạnh để làm lạnh nhanh sơ bộ trước khi cấp đông hoặc ướp đá.
4.6.5 Phụ gia thực phẩm
Nếu sử dụng phụ gia thực phẩm, phải được sự
cho phép của cơ quan có thẩm quyền và cần có sự tư vấn của các chuyên gia công
nghệ thực phẩm.
Không được sử dụng phụ gia thực phẩm một cách
tuỳ tiện. Một số loại chỉ có tác dụng đối với các loại thực phẩm nhất định và
trong mọi trường hợp, hàm lượng và thời gian tiếp xúc của phụ gia thực phẩm
phải được kiểm soát một cách chặt chẽ theo sự tư vấn của các chuyên gia và phù
hợp với quy định của các cơ quan có thẩm quyền. Luật thực phẩm có sự khác nhau
giữa các nước nên cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia trước khi sử dụng một
loại phụ gia thực phẩm, cho cả sản phẩm được tiêu thụ trong nước hoặc để xuất
khẩu.
4.7 Xếp dỡ và vận chuyển tôm hùm đánh bắt
được
Phải có khu vực cập bến thích hợp.
Việc cập bến và xếp dỡ tôm hùm đánh bắt được
trực tiếp xuống bãi biển hoặc khu vực không được kiểm soát có thể dẫn tới sự
nhiễm bẩn. Tốt nhất là phải có bến tàu hoặc cầu cảng cho tàu cập bến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thực hiện việc giao nhận và xử lý nhiên liệu,
dầu nhờn hay các vật liệu khác có thể gây nhiễm bẩn cho sản phẩm đánh bắt được
tại các khu vực riêng, tách biệt với khu vực xếp dỡ sản phẩm đánh bắt được. Cần
có một người chuyên phụ trách vệ sinh cho khu vực xếp dỡ sản phẩm đánh bắt được.
Cần có các trang thiết bị xếp dỡ hàng ở cầu
cảng hoặc kèm theo tàu đánh bắt.
Các trang thiết bị này giúp cho việc xếp dỡ
tôm hùm trên cầu tàu thuận lợi và không gây ra sự hư hỏng.
Các vật chứa dùng để xếp dỡ tôm hùm phải được
làm bằng vật liệu chống ăn mòn thích hợp. Chúng phải được làm sạch để tránh gây
nhiễm bẩn tôm và phải có kết cấu cứng vững đủ để ngăn chặn sự hư hỏng của tôm
do các tác động cơ học trong khi vận chuyển. Không nên sử dụng giỏ mây và hộp
gỗ.
Tôm hùm sống được xếp đầy chặt trong toàn bộ
không gian của vật chứa và chân của chúng thường thò ra ngoài. Do đó, khi xếp
dỡ các vật chứa này hoặc khi lấy tôm ra khỏi vật chứa, phải thận trọng để tránh
làm hư hỏng tôm. Nếu thân tôm được ướp đá trong các hộp thì các hộp này phải đủ
lớn để chứa được lượng đá cần thiết cho việc duy trì chất lượng thân tôm.
Sau khi được xếp dỡ từ tàu lên bờ, tôm hùm phải
được chuyển ngay lên các phương tiện vận chuyển.
Sau khi được xếp dỡ từ tàu lên bờ, tôm hùm
phải được chuyển trực tiếp đến các nhà máy chế biến hoặc đôi khi được vận
chuyển bằng xe tải, tàu hoả hoặc máy bay.
Bề mặt của các phương tiện vận chuyển phải được
cách nhiệt hoặc tốt hơn là được làm lạnh để duy trì nhiệt độ thấp cho tôm.
Đối với tôm hùm sống được bảo quản trong túi
hoặc trong lồng, nhiệt độ thích hợp nhất để duy trì sự sống là 4 oC -7
oC (39 oF - 45 oF). Tôm hùm đã được tách thân
hoặc ướp đá trên tàu cần được giữ ở nhiệt độ gần nhiệt độ băng tan hoặc có thể
tái ướp lạnh lại trong khi vận chuyển nếu cần. Không được để thân tôm, đã được
cấp đông trên tàu, tan đá trong thời gian vận chuyển. Có thể cho phép nhiệt độ
của sản phẩm tăng lên -15 oC (5 oF) trong khi vận chuyển
giữa các kho đông lạnh do những tình huống không lường trước được. Tuy nhiên,
khi nhiệt độ sản phẩm tăng cao hơn -18 oC (0 oF) thì phải
làm giảm ngay nhiệt độ xuống bằng hoặc thấp hơn nhiệt độ này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mặc dù vận chuyển bằng đường không đắt tiền
hơn, nhưng chi phí phát sinh so với các phương thức vận chuyển khác có thể được
bù đắp đối với những sản phẩm có giá trị cao; ngược lại cũng có thể gặp khó
khăn về mặt bằng vận chuyển do khoảng cách hoặc địa bàn hoạt động. Tuy nhiên,
vì bị hạn chế về trọng lượng nên có thể không thực hiện được việc ướp đá và làm
lạnh sản phẩm khi vận chuyển bằng đường không. Vì vậy phải sắp xếp lịch trình
để quá trình vận chuyển được thực hiện nhanh nhất và thời gian sản phẩm tiếp
xúc với nhiệt độ cao ngắn nhất. ở một số nơi, việc vận chuyển tôm hùm sống
trong hộp xốp bằng polystyren theo đường không là khả thi về mặt kinh tế và cho
hiệu quả cao. Tuy nhiên, các hộp này không được tái sử dụng.
Tôm hùm sống phải được bảo quản trong điều
kiện cho phép ngăn ngừa sự thiệt hại do tôm chết và nhiễm bệnh.
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về ngoại
hình, ngư dân thường giữ tôm hùm trong sọt cho đến khi bán cho người mua gom,
sau đó tôm có thể tiếp tục được lưu giữ tại điểm thu gom trên đất liền cho đến
khi có đủ số lượng cần thiết cho việc chuyển tới các kho lớn một cách kinh tế,
nơi có điều kiện bảo quản và trang bị cho việc vận chuyển tốt hơn.
Nơi bảo quản tôm hùm sống dài ngày phải được
bảo vệ, phòng chống bão và phải có sự tuần hoàn nước tốt để cung cấp đủ oxy. Nước
cần có nhiệt độ thích hợp vào mùa hè nhưng không được đóng băng vào mùa đông và
phải duy trì nồng độ muối ổn định ở khoảng 3 %. Đối với việc bảo quản trong
thời gian ngắn, tôm hùm cần được chứa trong các sọt thông thường, trong lồng
bằng gỗ đóng thưa nổi trên biển hoặc trong bể chứa trên bờ được cung cấp nước
biển liên tục. Khi sử dụng những dụng cụ, thiết bị bảo quản tạm thời này, phải
cố gắng để đảm bảo cường độ ánh sáng thích hợp, tránh ánh nắng trực tiếp. Bảo
quản tôm hùm dài hạn trong vòng 6 tháng trở lên thường bị hạn chế bởi chế độ
thuỷ triều.
Khi lựa chọn vị trí lắp đặt trang thiết bị
bảo quản tôm hùm sống phải thận trọng để tránh các mầm bệnh.
Vi khuẩn gaffkaemia gây bệnh nhiễm trùng máu
chỉ xâm nhập vào cơ thể tôm hùm qua các vết thương và có khi làm chết tôm, đặc
biệt là vào mùa hè khi nhiệt độ nước cao.
4.8 Chương trình kiểm soát vệ sinh
Mỗi tàu đánh bắt phải xây dựng cho mình chương
trình kiểm soát vệ sinh riêng mà toàn bộ thuỷ thủ trên tàu đều phải tham gia và
bằng cách phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong việc làm sạch và
khử trùng trên tàu.
Phải lập ra một kế hoạch làm sạch và khử
trùng dài hạn để đảm bảo tất cả các phần của tàu và các thiết bị trên tàu được làm
sạch ở mức độ thích hợp và thường xuyên.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5. Xử lý tôm hùm trên
bờ - Yêu cầu đối với trang bị của nhà máy chế biến và đối với việc vận hành
5.1 Sơ đồ bố trí và cấu trúc nhà máy
5.1.1 Sự xem xét chung
Nhà máy chế biến tôm hùm phải được thiết kế
đặc biệt thích hợp với mục đích sử dụng.
Thịt tôm hùm thậm chí bị hỏng nhanh hơn cá vì
có hàm lượng thành phần nitơ phi protein cao. Do đó, việc thực hiện quá trình
chế biến một cách nhanh chóng trong nhà máy được thiết kế để xử lý tôm hùm là
rất cần thiết và không nên để xảy ra tình trạng các sản phẩm chỉ được chế biến
từng phần.
5.1.2 Thiết kế về vệ sinh và thiết kế cấu
trúc nhà máy
Nhà máy và khu vực phụ cận phải không bị ảnh
hưởng bởi các mùi không mong muốn, khói, bụi, và các chất gây nhiễm bẩn khác vượt
quá mức độ cho phép. Nhà xưởng phải có kích thước phù hợp cho việc bố trí thiết
bị, mật độ nhân viên, phải có cấu trúc cứng vững và luôn đảm bảo khả năng sử
dụng tốt. Chúng phải được thiết kế và xây dựng để bảo đảm tránh được sự xâm
nhập và phá hoại của côn trùng, các loài chim thú khác và thuận tiện cho việc
làm sạch.
Vị trí, thiết kế, cấu trúc, sơ đồ bố trí và
các thiết bị của khu vực phân xưởng chế biến phải được dự kiến, xem xét chi tiết
với sự nhấn mạnh cần thiết về khía cạnh vệ sinh, trang bị làm sạch và kiểm soát
chất lượng.
Cần có sự tư vấn và tham khảo ý kiến của các
cơ quan có thẩm quyền về các quy phạm trong xây dựng, yêu cầu vệ sinh của quá
trình hoạt động và việc xử lý các chất thải của nhà máy.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khu vực xử lý thực phẩm phải được tách biệt
hoàn toàn với khu vực sinh hoạt của cán bộ, công nhân.
Mặt sàn nhà xưởng phải cứng, không hấp thụ và
thoát nước tốt.
Mặt sàn phải làm bằng vật liệu bền, không hấp
thụ, không thấm nước, không độc và phải được xây dựng sao cho dễ làm sạch và
khử trùng. Mặt sàn cũng phải không trơn, không có vết rạn nứt và có độ dốc đều
đủ để chất lỏng thoát đến các cửa thoát nước có lắp đặt lưới chắn rác có thể tháo
rời.
Nếu mặt sàn có những đường gờ đắp nổi hoặc
các khe rãnh để chống trơn trượt thì hướng của chúng phải luôn hướng về phía
các rãnh thoát nước.
Phần tiếp giáp giữa sàn và tường cũng không được
thấm nước và nếu có thể thì nên che phủ hoặc làm nhẵn để dễ làm sạch.
Khi sử dụng mặt sàn bằng bê tông không được
hoàn thiện đúng cách, các lỗ nhỏ trên bề mặt bê tông có thể bị nhiễm bẩn bởi mỡ
động vật, nước muối nồng độ cao, các chất tẩy rửa và chất khử trùng. Nếu được
sử dụng, bê tông phải đặc, có chất lượng cao và có bề mặt được xử lý chống thấm
nước tốt.
Cống, rãnh thoát nước phải có kích thước,
hình dáng thích hợp, được lắp lưới chắn rác có thể tháo rời để thuận tiện cho
việc làm sạch.
Hệ thống cống rãnh đầy đủ và thích hợp rất
cần thiết cho việc loại bỏ nước thải và các chất thải dạng bán lỏng ra khỏi nhà
máy. Không để nước đọng thành vũng ở bất cứ chỗ nào trên sàn nhà. Rãnh thoát
phải được xây dựng bằng các vật liệu chống thấm và trơn nhẵn và phải được thiết
kế để có khả năng tải được lượng nước thải lớn nhất mà không bị tràn hay gây
úng ngập. Hệ thống các cửa thu gom nước thải từ các rãnh phải được lắp đặt
những lưới chắn rác và phải nằm ở những vị trí thích hợp và thuận lợi cho việc
làm sạch.
Các đường cống ngầm, ngoại trừ rãnh lộ thiên,
phải được thông hơi và có đường kính trong tối thiểu là 10 cm (4 inch). Nếu
cần, các đường ống này phải chảy qua một hố ga để chắn các chất thải rắn. Hố ga
phải đặt bên ngoài khu vực sản xuất và được xây dựng bằng bê tông chống thấm
hoặc bằng các vật liệu tương tự đáp ứng các yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các vật liệu có thể sử dụng để hoàn thiện bề
bên trong tường là xi măng, gạch men công nghiệp và các loại hợp kim chống ăn
mòn dạng tấm khác nhau như thép không gỉ hay hợp kim nhôm hoặc các tấm phi kim
có chất lượng bề mặt tốt, có khả năng chống được mài mòn thích hợp và dễ sửa
chữa, thay thế.
Tất cả những vết ghép nối giữa các tấm trên tường
phải được gắn kín bằng matit hoặc các hợp chất khác chịu được nước nóng và ở
những chỗ cần thiết phải bao phủ bằng vật liệu thích hợp.
Các chỗ tiếp giáp giữa tường với tường, tường
với sàn phải được che phủ hoặc làm nhẵn để dễ làm sạch.
Tường phải phẳng, tất cả các đường ống, dây
cáp phải đặt chìm trong tường hoặc nằm gọn trong các hộp kín gắn trên tường
hoặc được đặt trong các hộp kín và treo cách tường ít nhất 10 cm (4 inch) để
thuận lợi cho việc làm sạch triệt để và ngăn chặn được sự cư trú của côn trùng,
Các khung cửa sổ phải giữ kích thước tối
thiểu, có độ dốc ít nhất là 45o vào phía trong và cách sàn nhà ít nhất là 1 m (3
feet).
Ngưỡng và khung cửa sổ phải được làm từ các
vật liệu chống thấm, trơn nhẵn và nếu làm bằng gỗ thì phải có lớp sơn phủ tốt.
Ngưỡng cửa phía trong phải dốc để ngăn ngừa sự bám dính, tích tụ bụi, các tạp
chất bẩn và phải có cấu trúc thích hợp để dễ làm sạch.
Các cửa sổ phải lắp các cánh cửa kính và có
các tấm lưới chắn khi mở. Lưới chắn phải có cấu tạo sao cho dễ tháo lắp để làm
sạch và phải làm bằng vật liệu chống ăn mòn thích hợp.
Tất cả các cửa dùng để vận chuyển tôm hùm
hoặc các sản phẩm của chúng phải có kích thước đủ lớn, có cấu trúc thích hợp, được
làm bằng vật liệu phù hợp và nên là cửa tự đóng.
Cửa dùng để vận chuyển tôm hùm hay sản phẩm
của tôm hùm phải được bao bọc hoặc làm bằng kim loại chống ăn mòn hay các vật
liệu thích hợp khác có khả năng chịu tác động cơ học tốt, trừ khi được lắp đặt
các màng lọc không khí, và nên là cửa tự động.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bề mặt các cửa không dùng để vận chuyển sản
phẩm như cửa ra vào của công nhân cũng phải được xử lý một cách thích hợp, ít
nhất là ở phía khu vực chế biến, để dễ làm sạch.
Trần nhà phải được thiết kế, xây dựng và hoàn
thiện để không bám bụi, giảm thiểu sự ngưng tụ hơi nước, sự phát triển của nấm
mốc và dễ làm sạch.
Tốt nhất là trần phải cao 3 m, trơn nhẵn,
không có vết rạn nứt hay khe hở, không thấm nước và phải có màu sáng.
Trong những nhà xưởng có dầm, kèo, các đường
ống hoặc các bộ phận kết cấu khác, cần có thêm một trần phụ ở ngay phía dưới
chúng.
Khi không thể che phủ dầm, kèo đỡ mái thì mặt
bên dưới của mái nhà phải có cấu trúc như một trần nhà với các mối ghép hay các
chỗ tiếp giáp được bịt kín, các kết cấu phụ trợ phải trơn nhẵn, được sơn phủ
hoàn toàn, có bề mặt màu sáng, dễ làm sạch và ngăn không cho bụi bẩn rơi xuống
sản phẩm được chế biến.
Nhà xưởng phải được thông gió để tránh giữ nhiệt,
ngăn ngừa sự ngưng tụ của hơi nước, sự nhiễm bẩn do khói, bụi và sự tích tụ
những mùi khó chịu.
Phải đặc biệt chú ý đến việc thông gió những
khu vực sản xuất và các thiết bị sinh nhiệt, hơi nước, thải khí, khói có mùi
khó chịu hay các khí gây ô nhiễm. Luồng không khí lưu thông trong nhà xưởng
phải chuyển động từ khu vực sạch hơn đến khu vực có điều kiện vệ sinh kém hơn.
Thông gió tốt sẽ ngăn ngừa được sự ngưng tụ hơi nước và sự phát triển nấm mốc ở
các bộ phận kết cấu phía trên của nhà xưởng. Các cửa thông gió tự nhiên phải có
lưới chắn và có thể gắn thiết bị lọc không khí thích hợp, nếu cần. Cửa sổ dùng
để thông gió cũng phải có lưới chắn. Các lưới chắn này phải dễ tháo lắp để làm
sạch và phải được làm từ các vật liệu chống ăn mòn thích hợp.
Cường độ ánh sáng tối thiểu trong các khu vực
làm việc nói chung là 220 Lux và không thấp hơn 540 Lux ở những khu vực kiểm
tra sản phẩm, đồng thời ánh sáng phải không đổi màu.
Bóng đèn và các vật treo cố định phía trên
những khu vực xử lý tôm hùm phải là loại an toàn hoặc phải được bảo vệ để không
làm nhiễm bẩn thực phẩm khi bị vỡ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.1.3 Phương pháp vệ sinh
Khu vực tiếp nhận hoặc bảo quản tôm hùm phải
tách biệt so với khu vực thực hiện quá trình chuẩn bị hay đóng gói thành phẩm
để ngăn ngừa làm nhiễm bẩn thành phẩm.
Các phòng biệt lập hay các khu vực giới hạn
phải có kích thước vừa đủ để đáp ứng việc tiếp nhận và nhập kho các nguyên liệu
thô và các hoạt động như rửa sạch, xử lý nhiệt, bóc vỏ hay các công đoạn khác
kể cả đóng gói.
Khu vực xử lý và chế biến các sản phẩm thực
phẩm phải dễ nhận thấy và tách biệt hoàn toàn với những khu vực khu vực xử lý
và chế biến các sản phẩm không dùng cho người.
Khu vực xử lý thực phẩm phải tách biệt hoàn
toàn với khu vực sinh hoạt của cán bộ, công nhân.
Khu vực tiếp nhận và bảo quản nguyên liệu
phải được làm sạch và dễ có khả năng duy trì điều kiện vệ sinh tốt, đồng thời
phải bảo vệ được tôm hùm không bị hỏng hoặc nhiễm bẩn.
Ở nơi chuẩn bị mồi nhử tôm, việc xử lý và bảo
quản mồi phải được thực hiện sao cho không không làm nhiễm bẩn sản phẩm hoặc
nhà xưởng.
Mồi nhử phải được xử lý sao cho không có nguy
cơ gây nhiễm bẩn tôm, các sản phẩm tôm hùm và nhà xưởng. Mồi nhử có nguồn gốc
từ cá phải được xử lý tại các nhà xưởng của khu vực dành cho nguyên liệu đã được
đảm bảo các điều kiện vệ sinh thích hợp, hoặc tại các khu vực tách biệt hoàn
toàn với khu vực chế biến tôm hùm và các sản phẩm tôm hùm. Cũng có thể để mồi
nhử cùng phòng với tôm hùm hay sản phẩm tôm hùm đã được bao gói nếu mồi được
chứa trong các bao bì sạch, kín và không có nguy cơ làm nhiễm bẩn hay gây mùi
khó chịu cho những sản phẩm đã bao gói khác và cho nhà xưởng.
Trong các nhà xưởng phải có phòng riêng để
chứa phế thải hay các thiết bị lưu giữ chất thải thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phế thải đựng trong các thùng hay vật chứa
kín nước phải được lưu giữ trong các phòng riêng. Trần, tường, sàn của các
phòng này và khu vực bên dưới các thùng chứa phế thải phải được làm bằng các
vật liệu chống ăn mòn và dễ làm sạch.
Các chất thải và phế liệu đựng trong vật chứa
bên ngoài cơ sở sản xuất phải được đậy kín. Cần có các thùng chứa riêng để bảo
quản chúng và tạo thuận lợi cho các phương tiện vận chuyển phế thải khi bốc dỡ.
Chân hay giá đỡ của các thùng chứa này phải làm bằng vật liệu cứng vững, chống
ngấm, dễ làm sạch và không dính ướt. Cần có một bộ phận được cơ giới hoá để rửa
thùng chứa phế thải hàng ngày, nếu chúng được sử dụng với số lượng lớn. Các
thùng chứa phế thải phải bền, có khả năng sử dụng và làm sạch nhiều lần.
Phòng để chứa phế thải và các thiết bị lưu giữ
chất thải khác phải được làm sạch và khử trùng thường xuyên.
Tất cả các phân xưởng sản xuất sản phẩm phụ
phải tách biệt hoàn toàn với phân xưởng chế biến tôm hùm dùng cho người.
Việc chế biến sản những sản phẩm không phải
là thuỷ sản hoặc những sản phẩm phụ không dùng cho người phải được thực hiện
tại các nhà xưởng riêng hoặc khu vực tách biệt để không có khả năng gây nhiễm
bẩn cho các sản phẩm tôm hùm.
Phải luôn luôn cung cấp đầy đủ nước uống và/
hoặc nước biển sạch nóng và lạnh, có áp suất thích hợp tại nhiều điểm trên toàn
bộ phạm vi nhà xưởng trong suốt thời gian làm việc.
Nước sử dụng trong cơ sở sản xuất, tại các
nơi tôm hùm được tiếp nhận, bảo quản, chế biến, bao gói và lưu kho phải là nước
uống hay nước biển sạch và phải được cung cấp ở áp suất không thấp hơn 1,4
kg/cm2.
Phải luôn cung cấp đủ lượng nước nóng uống được
trong suốt thời gian làm việc.
Phải có các trang thiết bị cần thiết để đảm
bảo luôn cung cấp đủ lượng nước uống có nhiệt độ thấp nhất là 65 oC
(149 oF) trong suốt quá trình làm việc, khi cần. Ngoài ra cần cung
cấp nước sạch có nhiệt độ thấp hơn để dùng cho các mục đích khác như để rửa
tay.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nước dùng để rửa hoặc vận chuyển các vật liệu
chưa chế biến không được tái sử dụng, trừ khi được xử lý để đáp ứng các mức
chất lượng của nước uống.
Khi sử dụng nước chứa clo để khử trùng trong
nhà xưởng, dư lượng clo tự do không được lớn hơn mức nhỏ nhất cho phép đối với
mục đích sử dụng.
Không sử dụng hệ thống khử trùng bằng clo để
giải quyết mọi vấn đề về vệ sinh. Việc sử dụng clo một cách tuỳ tiện cũng không
thể đảm bảo các điều kiện vệ sinh trong một nhà máy chế biến. Nước đã tiếp xúc
với cá hoặc tôm hùm không được tái sử dụng để tránh nhiễm bẩn.
Đá phải được làm từ nước uống hoặc nước biển
sạnh, đồng thời phải được sản xuất, xử lý và bảo quản sao cho không bị nhiễm
bẩn.
Đá sử dụng trong các cơ sở chế biến tôm hùm
phải được làm từ nước uống hoặc nước biển sạch.
Phải có một phòng riêng, hoặc các thiết bị
bảo quản thích hợp, để bảo vệ đá không bị nhiễm bẩn và không bị tan nhiều. Bụi,
mảnh sơn tróc, mẩu gỗ vụn, mùn cưa, rơm rạ và gỉ sắt là những chất bẩn thường gặp
nhất lẫn trong đá dẫn tới làm nhiễm bẩn thành phẩm. Phải hạn chế sự đi lại trong
khu vực này.
Phải thận trọng để đảm bảo đá được sử dụng
cho việc ướp lạnh tôm hùm hoặc các sản phẩm của tôm hùm không làm nhiễm bẩn
chúng.
Khi sử dụng nguồn nước phụ có chất lượng vệ
sinh thấp hơn nước sinh hoạt, thì phải lưu giữ lượng nước này nước trong các
thùng chứa riêng biệt và vận chuyển bằng các đường ống riêng, được nhận biết
bằng các màu tương phản và nhãn kèm theo, không được nối thông với hệ thống đường
ống vận chuyển nước uống hoặc nước biển sạnh.
Nước có chất lượng vệ sinh thấp hơn nước uống
sử dụng cho các mục đích khác nhau như sản xuất hơi nước, làm mát thiết bị trao
đổi nhiệt và phòng chống cháy.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Toàn bộ đường ống thoát nước thải, kể cả hệ
thống cống rãnh, phải có kích thước đủ lớn để đảm bảo tải lượng lúc cao điểm và
phải được xây dựng một cách thích hợp.
Tất cả các đường ống phải kín nước, có các lưới
chắn rác, bẫy cản mùi và ống thông khí thích hợp. Việc loại bỏ các chất thải phải
được thực hiện sao cho không gây nhiễm bẩn nguồn nước uống và nước biển sạch.
Các hầm chứa và các bẫy lưới chắn chất thải
rắn của hệ thống cống rãnh thoát nước thải tốt nhất nên đặt ở ngoài khu vực chế
biến và phải được thiết kế để cho phép thoát hết nước và làm sạch chúng một
cách triệt để khi kết thúc ngày làm việc hoặc thường xuyên hơn.
Khi hệ thống dẫn và thoát chất thải được lắp
đặt phía trên các phòng chế biến để phục vụ cho những tầng trên thì việc lắp
đặt và vị trí của hệ thống này phải đảm bảo ngăn ngừa mọi khả năng gây nhiễm
bẩn tới các đường ống dùng cho sản xuất.
Hệ thống đường ống dẫn nước thải và phương
thức loại bỏ chất thải phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
Phải cung cấp đầy đủ các trang bị làm sạch và
khử trùng thiết bị.
Cơ sở chế biến tôm hùm phải có những trang
thiết bị này để làm sạch và khử trùng các khay, bàn cắt lưu động, thùng chứa và
các thiết bị tương tự cũng như các dụng cụ, phương tiện làm việc khác. Những
trang thiết bị này phải được đặt ở phòng tách biệt hoặc khu vực được thiết kế
dành riêng cho chúng trong phòng chế biến, nơi được cung cấp đủ nước uống nóng
và lạnh, có áp suất thích hợp, đồng thời phải thoát nước tốt.
Phải rửa và làm sạch các thùng hay thiết bị
dùng chứa phế thải và những vật liệu gây nhiễm bẩn khác ở khu vực riêng, tách
biệt với khu vực dùng để chế biến các sản phẩm dùng cho người.
Phải có đủ các trang bị vệ sinh, số nhà vệ
sinh thích hợp và ở vị trí thuận tiện.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bề mặt tường, trần của nhà vệ sinh phải
phẳng, dễ làm sạch, có màu sáng. Sàn nhà vệ sinh phải được làm bằng vật liệu
chống thấm và dễ làm sạch. Các cửa dẫn tới các khu vệ sinh nên là loại cửa tự
động và không được mở thông trực tiếp với khu chế biến tôm hùm.
Có thể sử dụng các công thức dưới đây như các
hướng dẫn trong việc xác định số nhà vệ sinh thích hợp với số nhân viên:
1 – 9 người = 1 nhà vệ sinh
10 – 24 người = 2 nhà vệ sinh
25 – 49 người = 3 nhà vệ sinh
50 – 100 người = 5 nhà vệ sinh
Khi trên 100 người thì cứ thêm 30 người phải
có thêm 1 nhà vệ sinh.
Chú thích – Các thiết bị vệ sinh lưu động có
thể thay thế cho nhà vệ sinh,nhưng không được vượt quá 1/3 tổng số nhà vệ sinh.
Trang bị, dụng cụ vệ sinh để công nhân rửa và
làm khô tay, khử trùng găng tay phải sẵn có ở những khu vực chế biến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phải cung cấp các tiện nghi cá nhân trong phòng
ăn trưa, phòng thay quần áo, phòng tắm, phòng rửa tay.
Nếu nhân viên có cả nam và nữ thì phải trang
bị các tiện nghi riêng cho mỗi giới, ngoại trừ nhà ăn trưa có thể sử dụng chung.
Theo quy định chung, nhà ăn phải đầy đủ chỗ ngồi cho toàn bộ nhân viên. Phòng
thay quần áo phải đủ rộng, có ngăn riêng và tủ khoá cho mỗi nhân viên, tránh
tình trạng quá tải về mật độ. Không được lưu giữ quần áo, giầy dép thông thường
ở bất cứ chỗ nào trong khu vực chế biến.
Phải luôn đảm bảo tình trạng khô ráo cho các
thiết bị, kho bảo quản vật liệu bao gói.
Phải cung cấp các thiết bị, kho riêng để bảo
quản thùng cáctông, bao bì giấy và các vật liệu bao gói khác để bảo vệ chúng
chống lại hơi ẩm, bụi và các chất gây nhiễm bẩn.
Phải bảo quản các vật liệu độc hại, bao gồm
cả các hợp chất dùng để làm sạch, chất khử trùng, thuốc trừ sinh vật gây hại ,
trong các phòng được thiết kế riêng và có các dấu hiệu nhận biết đặc biệt cho
mục đích này.
Tất cả các vật liệu này phải được ghi nhãn rõ
ràng và ở vị trí dễ thấy để có thể dễ dàng nhận biết được chúng. Phòng chứa các
nguyên liệu này phải có khoá và chỉ những người đã được đào tạo về chuyên môn
mới được phép tiếp xúc và sử dụng chúng.
5.2 Thiết bị, dụng cụ và bề mặt làm việc
Toàn bộ các bề mặt, thiết bị và dụng cụ sử
dụng trong khu vực xử lý thực phẩm và có thể tiếp xúc với thực phẩm phải được
làm từ các vật liệu không chứa các chất độc hại, các chất có mùi, vị khó chịu,
chống thấm, chống ăn mòn và có khả năng làm sạch và khử trùng nhiều lần. Các bề
mặt phải nhẵn và không có vết rạn nứt hoặc xẻ rãnh. Không được sử dụng gỗ hay
các vật liệu khác không thể làm sạch và khử trùng để đảm bảo vệ sinh đến mức
cần thiết, chúng chỉ có thể được sử dụng khi đảm bảo chắc chắn không phải là
nguồn gây nhiễm bẩn. Cần tránh việc sử dụng các vật liệu dễ mài mòn.
Sự nhiễm bẩn tôm hùm trong quá trình chế biến
có thể có nguyên nhân từ việc tiếp xúc với các bề mặt không đảm bảo vệ sinh.
Tất cả bề mặt tiếp xúc với tôm hùm phải nhẵn, không có vết rạn nứt hoặc xẻ
rãnh, không có cặn bẩn và các chất gây hại cho sức khoẻ con người, không bị ảnh
hưởng do muối, chất dịch từ thuỷ sản hay các thành phần khác được sử dụng trong
chế biến, đồng thời phải có khả năng làm sạch và khử trùng nhiều lần. Có thể
dùng gỗ làm các bề mặt cắt nhưng chỉ trong trường hợp không có các vật liệu
thích hợp khác. Máy và thiết bị cần được thiết kế sao cho dễ tháo rời để thuận
lợi cho việc làm sạch và khử trùng triệt để.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các thiết bị cố định cũng phải được lắp đặt
sao cho dễ tiếp cận, dễ làm sạch và khử trùng triệt để.
Các bể rửa tôm hùm phải được thiết kế sao cho
dễ làm sạch, có chỗ dự phòng để thoát nước và đảm bảo lượng nước trong bể không
đổi nhưng được lưu thông liên tục.
Các thiết bị và dụng cụ sử dụng để xử lý vật
liệu nhiễm bẩn hoặc phế thải phải được phân biệt và không được sử dụng để xử lý
tôm hùm và các sản phẩm dùng cho người.
Nhà máy chế biến phải có đủ các trang thiết
bị cần thiết và luôn trong tình trạng hoạt động tốt, sẵn sàng để bảo quản tôm
hùm sống hay các sản phẩm của chúng ở điều kiện lạnh. Các trang thiết bị này
phải có đủ năng lực để bảo quản ngay các sản phẩm đã qua xử lý nhiệt, sản phẩm
không qua xử lý nhiệt và tôm hùm sống mà không mất thời gian chờ.
Khi tôm hùm không được chế biến kịp thời lúc
tầu cập bến hay khi thành phẩm không thể phân phối ngay sau khi đóng gói, phải
có đủ các thiết bị thích hợp để bảo quản lạnh tôm hùm sống hay các sản phẩm của
chúng. Không sử dụng các phòng lạnh để làm lạnh các sản phẩm tôm hùm mà chỉ
dùng để bảo quản chúng sau khi đã được ướp đá hay làm lạnh bằng các phương tiện
khác.
Vì lý do nêu trên, phải làm lạnh các sản phẩm
tôm hùm một cách triệt để đến nhiệt độ băng tan trước khi xếp chúng vào các
phòng bảo quản lạnh với số lượng lớn.
Phòng bảo quản lạnh phải được trang bị nhiệt
kế tự ghi và bộ kiểm soát nhiệt độ tự động, đồng thời phải được thiết kế sao
cho luôn đảm bảo điều kiện vệ sinh tốt. Phòng lạnh cũng phải được trang bị hệ
thống báo động tự động để báo cho các nhân viên phụ trách khi nhiệt độ bảo quản
sản phẩm tôm hùm giảm xuống dưới 0 oC (32 oF), hoặc khi
nhiệt độ bảo quản tôm hùm sống giảm xuống dưới 4 oC (39 oF)
hay tăng lên trên 10 oC (50 oF). Vì yêu cầu nhiệt độ bảo quản lạnh
đối với tôm hùm sống và sản phẩm tôm hùm khác nhau, nên phải có các phòng lạnh
riêng để bảo quản từng loại.
Khuyến khích sử dụng hệ thống bể chứa có lưu
thông nước biển sạch, lạnh và có trang bị máy sục khí để bảo quản tôm hùm sống
trong thời gian ngắn cả ở trong nhà hay ngoài trời nhưng phải được che phủ để
tránh ánh nắng mặt trời.
Vồ đập và tấm kê phải làm bằng vật liệu chống
thấm không nứt, vỡ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bàn dùng để xử lý tôm hùm phải có cấu tạo sao
cho dễ làm sạch mặt bàn và khu vực dưới gầm bàn.
Bàn phải được thiết kế sao cho bất cứ vị trí
nào cũng có tiếp cận để làm sạch và không bị bỏ sót các vị trí đó khi vệ sinh
cơ sở sản xuất. Chỗ đứng của công nhân dọc theo dây chuyền chế biến phải làm
bằng kim loại, có cấu trúc cứng vững, có thể di động được, đồng thời cũng phải
được thiết kế sao cho có thể làm sạch chúng và phần mặt sàn phía dưới một cách
triệt để.
Các thiết bị làm lạnh và cấp đông phải được
thiết kế và có cấu tạo thích hợp, đồng thời phải đảm bảo đủ công suất yêu cầu.
Thiết bị cấp đông phải được thiết kế và vận
hành theo yêu cầu quy định trong “Quy phạm thực hành quốc tế đối với cá đông
lạnh” (Ref.No. CAC/RCP 9 - 1976), để việc cấp đông tôm hùm được thực hiện một
cách nhanh chóng.
Tất cả các máy làm lạnh và thiết bị bảo quản
lạnh phải thích hợp với yêu cầu của sản xuất và tương thích với các bộ điều
khiển nhiệt độ tự động và các thiết bị tự ghi.
Để tránh làm giảm chất lượng đáng kể, tôm hùm
và các sản phẩm tôm hùm đông lạnh phải được bảo quản ở nhiệt độ thấp như nhau.
Kho đông lạnh phải có khả năng duy trì nhiệt độ ở -29 oC (-20 oF).
Nhiệt kế hoặc các thiết bị ghi nhiệt độ khác phải có khả năng dễ đọc chính xác
đến hai độ.
Kho đông lạnh phải thích hợp với kế hoạch sản
xuất, thời gian và nhiệt độ bảo quản, đồng thời phải do các chuyên gia thiết kế
và phải được đội ngũ thợ lành nghề và có kinh nghiệm chuyên môn xây dựng và lắp
đặt.
Kho đông lạnh phải được thiết kế thích hợp
với dự kiến sản xuất, chủng loại tôm hùm và sản phẩm tôm hùm, thời gian lưu kho
dự kiến và nhiệt độ tối ưu yêu cầu.
Việc thiết kế và chọn vị trí kho bảo quản
lạnh đông cần hoà hợp với cảnh quan chung của toàn bộ cơ sở sản xuất và sự hoạt
động của kho phải có sự thống nhất với sơ đồ hoạt động chung. Tầu đánh bắt và xe
tải có máy làm lạnh phải có khả năng vận chuyển tôm hùm đông lạnh tới những kho
đông lạnh ở trên bờ với điều kiện giảm thiểu được thời gian tiếp xúc với nhiệt
độ môi trường bên ngoài và hạn chế việc xử lý chúng tới mức thấp nhất. Quá
trình xếp dỡ tôm hùm đông lạnh đối với các phương tiện vận chuyển đường bộ và đường
sắt có trang bị máy làm lạnh cũng phải đáp ứng những yêu cầu này.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Điều tối quan trọng là phải có một hàng rào
ngăn cản sự thoát hơi nước một cách có hiệu quả bao bọc toàn bộ bề mặt phía
ngoài của lớp cách nhiệt của tường, trần và sàn kho đông lạnh. Nếu không có lớp
hàng rào bao bọc này, hơi nước từ không khí bên ngoài có nhiệt độ cao hơn sẽ
khuyếch tán vào trong lớp vật liệu cách nhiệt và đóng băng tại vùng tiếp giáp
khi đạt nhiệt độ 0 oC (32 oF). Quá trình cấp đông theo kiểu này sẽ dần dần hình
thành nước đá trong lớp cách nhiệt, do đó làm giảm hiệu quả cách nhiệt và cuối cùng
dẫn đến làm hư hỏng nghiêm trọng toàn bộ cấu trúc của kho.
Phải hạn chế đến mức tối đa luồng không khí từ
bên ngoài xâm nhập vào kho đông lạnh. ở những khu vực cửa kho đông lạnh phải mở
thường xuyên, luồng không khí đi qua cửa phải được hạn chế bằng cách sử dụng
phòng đệm kín khí, màn chắn không khí lạnh, các cửa tự đóng hay các thiết bị tương
tự khác.
Khi cửa kho đông lạnh mở thông trực tiếp với
không khí bên ngoài, sự trao đổi nhiệt giữa không khí nóng ở bên ngoài và không
khí lạnh trong kho xẩy ra rất nhanh do hiện tượng đối lưu giữa hai dòng không
khí này xảy ra mạnh. Sự trao đổi nhiệt này làm tăng đáng kể nhiệt độ của kho
đông lạnh và làm cho máy lạnh phải sinh thêm công để bù đắp. Hơi nước có trong
không khí từ ngoài đi vào cũng đóng băng trên bề mặt trong của kho đông lạnh và
làm giảm hiệu quả cách nhiệt. Nếu kho đông lạnh có nhiều lối vào thì tại mỗi
thời điểm chỉ nên mở một cửa; ngược lại, việc mở một lúc nhiều cửa sẽ làm một lượng
lớn không khí nóng từ bên ngoài tràn vào kho.
Việc lắp đặt và sử dụng hợp lý phòng đệm kín
khí, màn chắn không khí lạnh, các cửa tự đóng hay các thiết bị tương tự khác
làm giảm đáng kể luồng không khí nóng từ bên ngoài tràn vào kho đông lạnh trong
thời gian thực hiện quá trình xếp dỡ.
Độ ẩm tương đối bên trong kho đông lạnh càng
cao càng tốt và tránh việc lưu thông không khí quá nhiều.
Sự chênh lệnh giữa nhiệt độ kho đông lạnh và
nhiệt độ sản phẩm càng lớn thì sự mất nước trên bề mặt sản phẩm xảy ra càng
nhanh. Tuy nhiên, quá trình làm khô sản phẩm trong kho đông lạnh là vấn đề phức
tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự lưu thông không khí, độ ẩm của không khí
trong kho, lượng nhiệt tràn vào kho qua các chỗ rò rỉ (thường xảy ra khi mở
cửa), sự dao động nhiệt độ trong kho, tình trạng mạ băng và vật liệu bao gói sử
dụng cho sản phẩm bảo quản lạnh. Thậm chí, ngay cả trong điều kiện bảo quản và
bao gói tốt nhất, sản phẩm được bảo quản đông lạnh vẫn bị khô dần đi nếu thời
gian bảo quản quá dài.
Phải thực hiện việc phá lớp băng tuyết bám trên
bề mặt trong của kho đông lạnh một cách thường xuyên và có hiệu quả.
Phải thực hiện việc phá băng thường xuyên
trên toàn bộ bề mặt trong của kho đông lạnh để ngăn ngừa sự hình thành quá
nhiều băng hoặc tuyết bám trên các bề mặt kho. Lớp băng tuyết này ảnh hưởng rất
lớn đến đến hiệu quả của hệ thống làm lạnh và có thể dẫn tới sự quá tải không
cần thiết của các thiết bị làm lạnh.
Việc phá băng ở các nhà máy chế biến hiện đại
được thực hiện một cách tự động, còn ở một số nơi lạc hậu hơn có thể sử dụng
nhiệt hoặc chà sát, nạo vét bằng tay để phá băng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tất cả các kho đông lạnh phải được lắp thiết
bị báo động điều khiển được từ bên trong để người bị mắc kẹt trong kho có thể
nhanh chóng nhận được sự trợ giúp.
Các cửa của kho đông lạnh phải luôn luôn có
khả năng mở được từ bên trong. Tuy nhiên, vẫn rất cần có một hệ thống báo động
hiệu quả để trợ giúp người mắc kẹt bên trong kho đông lạnh. Tín hiệu báo động
phải lan truyền tới những khu vực trong nhà máy luôn có người trực hoặc làm
việc. Công nhân không được vào kho đông lạnh một mình nếu không báo cho người
khác biết.
Cửa dẫn tới kho đông lạnh tốt nhất nên là
loại cửa trượt, đóng mở cơ học và có miếng đệm để thuận lợi cho việc mở cửa.
Các phương tiện vận chuyển phải được thiết kế
để đảm bảo không làm tăng nhiệt độ của tôm hùm đông lạnh trong quá trình vận
chuyển, đồng thời phải có cấu trúc và làm bằng những vật liệu dễ làm sạch và
cho phép làm sạch triệt để.
Phương tiện dùng để chuyên chở tôm hùm và sản
phẩm tôm hùm phải được thiết kế để có khả năng áp dụng một số phương thức làm lạnh
và phải có cấu trúc để đảm bảo chống được sự nhiễm bẩn sản phẩm do bụi và bảo
vệ được sản phẩm không bị khô do tác động của nắng và gió một cách ổn định.
Thậm chí khi đá ướp lạnh rất rẻ và thời gian hoặc khoảng cách vận chuyển tương
đối ngắn, thì việc sử dụng phương tiện vận chuyển có cách nhiệt cũng vẫn cần
thiết để tăng cường sự đảm bảo khi việc ướp lạnh không đạt yêu cầu hoặc để
phòng tránh sự chậm trễ không lường trước được. Thành, nóc và sàn của phương
tiện vận chuyển cũng phải được cách nhiệt. Độ dầy của lớp cách nhiệt phụ thuộc
vào nhiệt độ thường gặp bên ngoài. Cần lưu ý là lớp cách nhiệt này không thể
giúp làm lạnh tôm hùm mà chỉ giúp duy trì nhiệt độ của chúng như khi được
chuyển lên phương tiện vận chuyển.
Phương tiện dùng để vận chuyển tôm hùm đông
lạnh phải có khẳ năng duy trì được nhiệt độ sản phẩm ở nhiệt độ -18 oC
(0 oF) hoặc thấp hơn.
Để thuận lợi cho việc làm sạch, lớp lót của
thành, nóc và sàn phương tiện vận chuyển tôm hùm đông lạnh phải làm bằng vật
liệu chống ăn mòn, thích hợp, có bề mặt nhẵn và không thấm nước. Sàn của phương
tiện vận chuyển phải dễ thoát nước.
5.3 Yêu cầu thực hành vệ sinh
Toàn bộ cầu tầu, cầu cảng, chợ hay các khu
vực tương tự khác, nơi xếp dỡ hoặc bày bán tôm hùm phải được giữ sạch và khử
trùng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nhà xưởng, thiết bị, dụng cụ và các phương
tiện vật chất khác của nhà máy phải được giữ vệ sinh, đảm bảo tình trạng sử
dụng tốt và phải được duy trì ở điều kiện vệ sinh tốt.
Tất cả các bề mặt tiếp xúc với tôm hùm hoặc
các sản phẩm tôm hùm phải được rửa sạch bằng nước uống hoặc nước biển sạch,
lạnh càng thường xuyên càng tốt để đảm bảo tình trạng hợp vệ sinh. Điều quan trọng
là phương pháp làm sạch được sử dụng phải loại bỏ được toàn bộ các chất cặn bẩn
và phương pháp khử trùng phải làm giảm số lượng vi sinh vật trên bề mặt được
làm sạch. Khuyến nghị thực hiện việc xối rửa ban đầu bằng nước uống hoặc nước
biển sạch, lạnh, sau đó rửa lại bằng nước có nhiệt độ thích hợp với yêu cầu
hiệu quả làm sạch. Yêu cầu đầu tiên là phải cung cấp một lượng dư nước uống hay
nước biển sạch với áp suất thích hợp. Việc làm sạch trở nên dễ hơn rất nhiều
nếu được thực hiện ngay, đồng thời không được để các bề mặt khô đi.
Chỉ sử dụng nước uống hay nước biển sạch nóng
hoặc lạnh để làm sạch sẽ không đủ để đạt được kết quả yêu cầu. Việc bổ sung
thêm các chất tẩy rửa hay khử trùng thích hợp vào nước dùng để làm sạch, kết
hợp với việc sử dụng bàn chải sẽ giúp tăng cường hiệu quả làm sạch. Sau khi
dùng chất tẩy rửa và chất khử trùng, phải rửa lại các bề mặt tiếp xúc với tôm
hùm bằng nước uống hoặc nước biển sạch trước khi sử dụng các bề mặt này.
Các chất làm sạch và chất khử trùng được dùng
phải đáp ứng các yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và thích hợp với mục đích sử
dụng, đồng thời phải được sử dụng sao cho không có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ
cộng đồng. Không được sử dụng bọt biển, khăn hoặc vải thấm nước để làm sạch mặt
bàn hoặc bề mặt các vật chứa sẽ tiếp xúc với tôm hùm.
Dụng cụ và các bề mặt của thiết bị tiếp xúc
với tôm hùm và các sản phẩm tôm hùm phải được bảo vệ, chống nhiễm bẩn.
Phải để các dụng cụ, thiết bị đã được làm
sạch và khử trùng ở những nơi khô ráo, trên sàn sạch. Khu vực chứa các dụng cụ,
thiết bị này phải có không gian và trang bị thích hợp để bảo vệ các bề mặt tiếp
xúc với tôm hùm và sản phẩm tôm hùm không bị nhiễm bẩn do bụi, nước bắn vào và
các chất bẩn khác.
Các yêu cầu nêu trên cũng được áp dụng cho
các bề mặt tiếp xúc với tôm hùm và sản phẩm tôm hùm không được che phủ của các
thiết bị lắp đặt cố định.
Các dụng cụ phải được làm khô ngoài không khí
trước khi bảo quản và phải được bảo quản ở những nơi có khả năng tự làm ráo nước,
trên các móc treo hay các giá làm bằng vật liệu chống ăn mòn. Nếu được bảo quản
bằng cách ngâm trong các dung dịch bảo vệ, thì chúng phải được làm sạch, khử
trùng và tráng rửa lại trước khi tái sử dụng. Nếu có thể, cần úp ngược vật chứa
và dụng cụ sạch được bảo quản, đồng thời che phủ chúng.
Tất cả các máy sử dụng để phân loại, rửa,
tách thân, xử lý nhiệt, làm lạnh hay các thiết bị chế biến khác sử dụng trong
các công đoạn tương tự phải được làm sạch, khử trùng và rửa tráng lại trong
thời gian nghỉ, trong giờ ăn hoặc trước khi tiếp tục sản xuất trở lại, sau thời
gian ngừng hoạt động.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phải kiểm tra mức độ làm sạch và sự lắp ráp của
tất cả các máy, thiết bị trước khi bắt đầu sản xuất.
Các chất bẩn, chất làm sạch, chất khử trùng
còn lại trên các bề mặt do không loại bỏ được khi tráng rửa lại bằng nước sạch
sẽ làm nhiễm bẩn sản phẩm. Việc rửa lại các bề mặt tiếp xúc với tôm hùm và sản
phẩm tôm hùm tốt hơn so với việc giữ nguyên trạng thái khô của các bề mặt đã được
làm sạch này khi bắt đầu vận hành các máy và thiết bị.
Phải thường xuyên kiểm tra các thiết bị được
cơ giới hoá hoặc tự động hoá để đề phòng sự cố.
Chỉ được dùng nước uống và nước biển sạch để rửa,
xử lý nhiệt, làm lạnh và vận chuyển tôm hùm.
Tôm hùm đã chế biến nhiệt có thể sử dụng trực
tiếp để làm thực phẩm mà không phải tiếp tục xử lý nhiệt, do đó sự có mặt của
các vi sinh vật trong sản phẩm này có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ người tiêu
dùng hoặc làm giảm thời hạn sử dụng của sản phẩm.
Phải dùng nước và/hoặc các thiết bị làm sạch
thích hợp khác để loại bỏ chất thải dạng rắn, lỏng hay bán lỏng ra khỏi khu vực
chế biến, xếp dỡ hoặc bảo quản tôm hùm một cách liên tục hoặc định kỳ nhằm giữ
sạch những khu vực này và loại trừ nguy cơ gây nhiễm bẩn cho sản phẩm.
Tất cả các vật liệu phế thải của quá trình
sản xuất trong nhà máy chế biến phải được xử lý càng sớm càng tốt sao cho chúng
không thể lẫn vào nguyên liệu được sử dụng làm thực phẩm và bằng các phương
pháp đảm bảo không làm nhiễm bẩn thực phẩm, nguồn nước, đồng thời không tạo chỗ
trú ngụ hoặc cung cấp nguồn thức ăn cho loài gặm nhấm, côn trùng và các loài
chim thú gây hại khác.
Các vật chứa, máng dẫn nước, băng tải, thùng
chứa chất thải, kho bãi dùng để thu thập, chứa hay bảo quản phế liệu và các
chất thải khác phải được làm sạch thường xuyên bằng nước uống hay nước biển
sạch có chứa hàm lượng clo tự do cần thiết hoặc các chất khử trùng thích hợp
khác.
Toàn bộ chất thải từ các thùng chứa và các phương
tiện vận chuyển phải được loại bỏ bằng các phương pháp sao cho không gây ra bất
cứ sự nhiễm bẩn nào cũng như không gây ra những ảnh hưởng khác cho môi trường.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phải thực thi các biện pháp hữu hiệu để ngăn
ngừa sự xâm nhập và trú ngụ của loài gặm nhấm, côn trùng và các loài chim thú
gây hại khác trong nhà xưởng.
Phải duy trì liên tục và thực hiện có hiệu
quả chương trình kiểm soát loài gặm nhấm, côn trùng và các loài chim thú gây
hại khác trong phạm vi cơ sở chế biến. Nhà máy và khu vực phụ cận phải được
kiểm tra thường xuyên để phát hiện các dấu hiệu phá hoại của chúng. Khi cần
thực thi các biện pháp kiểm soát, thì quá trình xử lý phải đặt dưới sự giám sát
trực tiếp những người có chuyên môn, có khả năng nhận thức đầy đủ về những mối
nguy có liên quan bao gồm cả nguy cơ tích tụ dư lượng các chất có hại cho sức
khoẻ trong tôm hùm và sản phẩm tôm hùm. Các tác nhân vật lý, sinh học và hoá
học được sử dụng phải đáp ứng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Không nên sử dụng thuốc trừ sinh vật gây hại
trong thời gian nhà máy đang hoạt động mà không thực hiện việc thu nhặt xác côn
trùng. Thay vào đó, khuyến khích sử dụng bẫy dính côn trùng hoặc đèn bẫy côn trùng
sử dụng tia cực tím không nhìn thấy hiệu năng cao, có khay chứa xác côn trùng đi
kèm. Không đặt bẫy côn trùng trực tiếp trong khu vực chế biến và phải đặt xa
cửa sổ hay cửa ra vào.
Thuốc diệt trừ loài gặm nhấm, côn trùng,
thuốc xông và các chất độc hại khác phải là những loại đã được cơ quan có thẩm
quyền cho phép sử dụng và phải được bảo quản trong các phòng riêng biệt, có
khoá hoặc trong các tủ chuyên dùng, đồng thời chỉ những người đã được đào tạo
về chuyên môn mới được phép tiếp xúc và sử dụng.
Không được để chó, mèo và các động vật khác
đến gần khu vực tiếp nhận, xử lý, chế biến hoặc bảo quản tôm hùm.
Chó, mèo và các động vật khác thường có nguy
cơ mang các mầm bệnh tiềm tàng, do đó không được để chúng tiếp xúc hoặc sống
trong các phòng hay những khu vực dùng để xử lý, chuẩn bị, chế biến, bảo quản
tôm hùm và sản phẩm tôm hùm.
Tất cả những người làm việc trong nhà máy chế
biến tôm hùm phải hết sức giữ gìn vệ sinh cá nhân trong khi làm việc và phải thực
hiện đầy đủ các biện pháp đề phòng cần thiết để ngăn ngừa sự nhiễm bẩn cho tôm
hùm và sản phẩm tôm hùm cũng như các thành phần khác do các tạp chất từ bên
ngoài.
Toàn bộ nhân viên phải mặc quần áo bảo hộ lao
động sáng mầu, sạch và thích hợp với bản chất công việc, phải có ủng và mũ đội.
Những trang phục bảo hộ này phải là loại có thể giặt được hoặc chỉ sử dụng một
lần. Khuyến khích sử dụng tạp dề không thấm nước ở những nơi thích hợp. Quần áo
bảo hộ phải có mầu sáng để dễ quan sát và phát hiện các vết bẩn nếu có. Tay áo
của trang phục bảo hộ không được dài quá khuỷu tay, ngoại trừ trường hợp công
nhân làm việc ở kho đông lạnh hay trong các phòng lạnh, hoặc khi sử dụng tay áo
chống thấm nước để bao phủ và bảo vệ cánh tay.
Găng tay dùng để xử lý tôm hùm phải được duy
trì tình trạng sạch sẽ, hợp vệ sinh và phải được làm bằng vật liệu không thấm nước,
trừ khi việc sử dụng găng tay không thấm nước không thích hợp với công việc có
liên quan. Phải rửa sạch tay bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa khác và nước
ấm trước khi bắt đầu công việc, hoặc sau mỗi lần khi đi vệ sinh hay bất cứ lúc
nào thấy cần thiết. Những nhân viên sử dụng găng tay vẫn phải rửa tay kỹ và
sạch.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tất cả những người đã hoặc nghi ngờ bị mắc
bệnh, những người mang những bệnh có thể lây truyền qua thực phẩm, những người đang
có vết thương nhiễm trùng hay những vết thương không được băng bó kín không được
tham gia chuẩn bị, xử lý hoặc vận chuyển tôm hùm và sản phẩm tôm hùm.
Phải quản lý chặt để đảm bảo tất cả những người
đã hoặc nghi ngờ bị mắc bệnh, những người mang những bệnh có thể lây truyền qua
thực phẩm, những người đang có vết thương nhiễm trùng, những người mắc các bệnh
ngoài da, các chứng lở loét hoặc đang bị tiêu chảy không được phép làm việc
trong mọi khu vực xử lý tôm hùm, trong mọi khu vực mà những người này có khả
năng trực tiếp hoặc gián tiếp làm lây nhiễm vi sinh vật gây bệnh vào tôm hùm và
sản phẩm tôm hùm. Bất cứ người nào làm việc trong nhà máy chế biến bị ốm hoặc
bị mắc bệnh đều phải báo ngay cho ban quản lý biết.
Tất cả những người bị thương, bị cắt vào các
phần cơ thể trong khi làm việc không được tiếp tục xử lý tôm hùm và sản phẩm
tôm hùm hoặc tiếp tục làm việc với các bề mặt tiếp xúc với tôm hùm và sản phẩm
tôm hùm cho tới khi vết thương được băng bó một cách chắc chắn bằng lớp băng y
tế không thấm nước, có mầu dễ thấy, bao phủ kín hoàn toàn vết thương. Phải có
đủ các trang bị sơ cứu ban đầu.
Túi, thùng chứa và tất cả các hộp có thể sử
dụng lại phải được làm sạch kỹ, sau đó xử lý bằng chất khử trùng ngay sau khi
sử dụng.
Khuyến khích sử dụng các máy rửa có thiết kế
thích hợp.
Việc rửa bằng tay cũng có thể cho kết quả tốt
khi kết hợp sử dụng bàn chải cứng và nước có bổ sung chất tẩy rửa được phun dưới
dạng tia với áp suất cao.
5.4 Yêu cầu sản xuất và thao tác thực hành
5.4.1 Yêu cầu chung
Chỉ những nguyên liệu tươi có chất lượng tốt
mới được dùng để chế biến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tôm hùm phải được xử lý và chế biến một cách
thận trọng với thời gian nhanh nhất.
Tôm hùm sống phải được bảo quản cho đến khi
chúng được vận chuyển đến nơi bán hoặc chế biến.
Thời gian sống của tôm hùm phụ thuộc vào các
điều kiện chúng được bảo quản. Nếu để ở trong nước biển, thì thời gian sống của
chúng phụ thuộc vào các yếu tố thay đổi theo mùa như nhiệt độ, độ mặn, hàm lượng
oxi và cách xếp dỡ.
Để bảo quản ngắn hạn, tôm hùm sống được giữ
trong giỏ hoặc trong thùng có lưu thông nước biển. Việc bảo quản tôm hùm dài
hạn đến 6 tháng luôn bị hạn chế bởi mức thuỷ triều mà thông thường được
điều chỉnh bằng cách tạo ra các đập ngăn nước
tự nhiên. Nếu nước không được lưu thông thì lượng oxi trong nước phải được kiểm
soát bằng diện tích bề mặt và nhiệt độ của nước.
Các nhà máy phải điều tiết được lượng nguyên
liệu tôm nhập vào hay trữ để việc cung cấp tôm không bị quá tải cho chế biến và
đảm bảo tôm vẫn ở trong tình trạng tốt nhất.
Thời gian lưu giữ tôm nguyên liệu ở nhà máy
trước khi chế biến sẽ phụ thuộc vào độ dài thời gian từ khi đánh bắt và sự thận
trọng khi vận chuyển tới nhà máy.
Khi lượng tôm nguyên liệu phục vụ cho chế
biến không ổn định thì có thể xử lý nhiệt, bóc vỏ, cấp đông và dự trữ lượng tôm
thừa để đóng gói khi thiếu nguyên liệu.
Nếu sử dụng phụ gia thực phẩm thì nên theo sự
tư vấn của các nhà công nghệ thực phẩm và phải được cơ quan có thẩm quyền chấp
nhận.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.4.2 Công đoạn chuẩn bị
Các công đoạn chuẩn bị để bảo quản như: phân
loại, xử lý nhiệt, làm mát, bóc vỏ và rửa phải được thực hiện theo các phương
pháp hợp vệ sinh và phải được tiến hành một cách thận trọng để tránh làm giảm
chất lượng sản phẩm và/ hoặc lãng phí nguyên liệu.
Thời gian đối với khâu chuẩn bị để hoàn chỉnh
sản phẩm phải được tính toán để có thể xử lý nhanh các đơn vị sản phẩm liên tục
trong quá trình sản xuất ở các điều kiện cho phép ngăn ngừa sự nhiễm bẩn, hư hỏng,
thối rữa hay sự phát triển, lây lan của các vi sinh vật có hại Việc bóc vỏ,
rửa, bỏ ruột, phải được thực hiện rất cẩn thận sao cho không còn nội tạng, tiết
đông hay những mẩu vỏ vụn còn sót lại dẫn đến làm hỏng trạng thái bên ngoài
hoặc ảnh hưởng đến mùi của thành phẩm.
Toàn bộ tôm hùm phải được kiểm tra trước khi
bắt đầu chế biến.
Trong các cơ sở chế biến tôm hùm sống, bất kỳ
con nào đã chết đều phải được loại bỏ. Tại nơi thân tôm ướp đá được chế biến
cần loại bỏ tất cả những phần bị khuyết tật hay bị hư hỏng như thân tôm có
nhiều vết đen, vàng hay sự đổi màu khác, có mùi, bị hỏng và bị dập nát.
5.4.2.1 Tách thân
Việc tách thân phải được thực hiện một cách
thận trọng để nhát cắt đúng vị trí và sao cho đạt được sản lượng lớn nhất.
Có sẵn nhiều kiểu dao tách thân nhưng tất cả
các loại được sử dụng đều phải được làm từ các vật liệu chống ăn mòn và không
có vết xước để tiết và chất cặn bẩn có thể bám dính, tích tụ.
Ruột phải được loại bỏ ngay
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Toàn bộ bề mặt thân tôm hùm phải được rửa
sạch
Cần chú ý để loại hết máu ra khỏi thân tôm vì
nếu không nó sẽ đông lại và làm thịt tôm biến mầu xanh. Cát và các mảnh tôm vụn
có thể mắc lại giữa các đốt. Việc làm sạch có hiệu quả nhất là bằng thiết bị
rửa có khuấy trộn.
Việc làm sạch có hiệu quả phải đảm bảo không
để ruột tôm hoặc các bộ phận của nội tạng còn sót lại vì chúng ảnh hưởng đến
dạng bên ngoài của thịt tôm, đồng thời dẫn đến làm giảm chất lượng thịt tôm do hoạt
động của các vi khuẩn hoặc enzim.
Phải có thùng ướp lạnh làm bằng vật liệu
chống thấm, chống ăn mòn để làm lạnh nhanh.
Thùng ướp lạnh phải được kiểm tra và làm sạch
thường xuyên trong quá trình sử dụng. Đá dạng tuyết và nước lạnh là môi trường ướp
lạnh có hiệu quả. Việc ướp lạnh ngay sẽ duy trì được chất lượng sản phẩm và làm
tăng sản lượng một cách đáng kể.
Thời gian từ khi tách thân đến khi cấp đông
càng ngắn càng tốt.
Nếu quá trình xử lý chậm, chất lượng và sản lượng
sẽ giảm.
5.4.2.2 Xử lý nhiệt
Phương pháp này áp dụng cho công đoạn chuẩn
bị tôm hùm xử lý nhiệt dùng để tiêu thụ trực tiếp trên thị trường hoặc dùng để
chế biến tiếp theo, đồng thời là phương pháp được chọn để mang lại tác dụng
mong muốn với thời gian xử lý ngắn nhất và giảm thiểu thời gian chờ xử lý.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Việc xử lý nhiệt tôm hùm được thực hiện bằng
nước sôi hoặc bằng hơi nước.
Điều bất lợi của việc xử lý nhiệt bằng nước
sôi là nước (nước uống với 3 % đến 4 % muối được thêm vào hoặc là nước biển
sạch) sẽ nhanh chóng bị bẩn và không phù hợp cho việc sử dụng tiếp cũng như ảnh
hưởng tới mùi vị. Không nên sử dụng cùng một nồi nước sôi để xử lý quá hai mẻ.
Nếu lượng tôm hùm chiếm quá nửa nồi thì sẽ dẫn đến tình trạng số tôm dưới đáy
nồi thì quá chín trong khi tôm ở phía trên lại chưa chín.
Hấp là phương pháp xử lý nhiệt sạch hơn nhưng
lại khó kiểm soát độ chín đều. Tôm hùm được xếp trong rổ thưa và đặt trong nồi
hấp. Nồi hấp phải không đọng nước bẩn, không bị tổn thất nhiệt do trào nước
sôi, dễ xử lý và dễ làm sạch. Khi hấp xong mẻ trước thì có thể hấp tiếp mẻ sau
mà không mất thời gian chờ.
Việc xử lý nhiệt tôm hùm phải kết thúc vào
thời điểm thích hợp để cho công nhân có đủ thời gian đóng gói toàn bộ lượng tôm
đã chín trước khi kết thúc công việc. Không nên để tôm đã xử lý nhiệt qua đêm.
Việc xử lý nhiệt tôm phải được kiểm soát để
thích hợp với sản phẩm được chế biến
Việc xử lý nhiệt làm co ngót các mô tế bào
tôm và giải phóng dịch bào làm cho thịt tôm rắn chắc lại. Mức độ co ngót và rắn
chắc của thịt tôm phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ xử lý. Nếu tôm hùm không được
gia nhiệt đầy đủ thì sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn, nhưng nếu quá nhiệt
thì sẽ làm giảm sản lượng và chất lượng sản phẩm.
Tại các nhà máy đóng gói tôm hùm với nhiều
kích thước khác nhau, việc phân loại tôm theo kích thước sẽ thuận lợi nếu được
thực hiện đồng thời với công đoạn kiểm tra tôm chết và tôm yếu. Tôm phải được xử
lý nhiệt với các khoảng thời gian khác nhau tuỳ kích thước của tôm.
Tôm hùm phải được xử lý nhiệt cho đến khi vỏ
chúng chuyển màu đỏ đều và nếu cần thì cho đến khi thịt dễ róc vỏ. Nếu xử lý
nhiệt quá kỹ, thịt tôm sẽ co ngót nhiều nhưng nếu xử lý nhiệt không đủ thì khó
bóc vỏ.
Khó có thể qui định rõ thời gian gia nhiệt ở
quy mô công nghiệp, vì thời gian này phụ thuộc vào kích thước tôm và các yếu tố
khác trong đó bao gồm cả điều kiện vật lý, nhưng việc xử lý nhiệt tôm hùm phải được
thực hiện một cách liên tục cho đến khi kết thúc. Thời gian gia nhiệt phải được
thiết lập cho từng loại tôm. Ví dụ tôm hùm có trọng lượng khoảng 500 gam thì
cần gia nhiệt trong khoảng 10 phút.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Việc làm nguội tôm đã chín phải thực hiện
nhanh mà không làm nhiễm bẩn sản phẩm.
Thực tế, tôm hùm vừa gia nhiệt không còn chứa
vi sinh vật nhưng trong phần lớn thời gian của quá trình làm mát, dải nhiệt độ
của sản phẩm tạo điều kiện cho bất cứ loại vi sinh vật nào có mặt cũng có khả
năng phát triển rất nhanh và do đó gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng.
Vì vậy, thời gian làm nguội càng ngắn càng
tốt và cố gắng để tránh nhiễm bẩn sản phẩm trong công đoạn này.
Nơi bảo quản tôm sau khi làm nguội phải là
khu vực được thiết kế đặc biệt, sạch, không bụi và có lưu thông không khí tốt, đồng
thời ngăn ngừa được các loài chim, thú gây hại cũng như các nguồn gây nhiễm bẩn
khác.
Kinh nghiệm cho thấy việc làm nguội là quan
trọng nhất trong các công đoạn đóng hộp tôm hùm và đóng gói thịt tôm hùm. Nước
dùng để làm nguội tôm phải là nước uống và không được sử dụng lại để làm nguội
mẻ tiếp theo.
Việc làm nguội tôm hùm là để kết thúc sự gia
nhiệt một cách đồng đều trong toàn bộ mẻ gia nhiệt và để tránh giữ tôm ở nhiệt
độ thích hợp cho sự phát triển vi khuẩn. Tôm đã chín phải được chuyển từ thiết
bị gia nhiệt sang thiết bị làm nguội chứa nước uống hoặc nước biển sạch càng
nhanh càng tốt.
Thùng để làm chết tôm, xử lý nhiệt và làm
nguội phải được đặt kề nhau và phải có cầu trục hoặc khung cẩu phía trên để
chuyển các giỏ tôm từ thùng này sang thùng khác.
Điều này cho phép thực hiện các công đoạn làm
chết, gia nhiệt và làm mát tôm hùm cùng một giỏ.
Sau khi nguội, tôm hùm phải được đưa ra khỏi
thùng chứa và toàn bộ protein đông tụ bám dính phải được loại bỏ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sau khi rửa sạch, tôm hùm phải được để ráo nước
ở khu vực dành riêng cho mục đích này.
Trên cơ thể của một số loài tôm hùm có những
lỗ, hốc có thể chứa một lượng nước đáng kể. Mặc dù việc làm ráo nước là quan
trọng nhưng không được để ráo nước quá lâu đến mức không cần thiết.
5.4.2.4 Bóc vỏ và bỏ ruột
Việc bóc vỏ và bỏ ruột tôm hùm đã xử lý nhiệt
dùng để chế biến tiếp phải được thực hiện nhanh và thận trọng.
Các thao tác trong quá trình chế biến phải được
kiểm soát chặt chẽ để có được sản phẩm hấp dẫn và ngăn ngừa các vi sinh vật
phân huỷ.
Sau khi làm nguội, tôm hùm phải qua bàn xử lý
để tách riêng càng, đuôi, thân và mỗi phần này được chuyển vào các thùng chứa
riêng rẽ để phục vụ cho các công đoạn chế biến tiếp theo.
Thịt thân tôm phải được tách ra nguyên dạng
bằng dĩa có ngạnh đôi làm bằng thép không gỉ. Thân tôm được xẻ dọc và loại bỏ
ruột ra. Chú ý không cắt quá sâu để không làm ảnh hưởng đến dạng bên ngoài của
thịt tôm.
5.4.2.5 Rửa
Toàn bộ bề mặt thịt tôm hùm phải được rửa kỹ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mục đích chính của việc rửa thịt tôm là để
loại bỏ tất cả các mảnh tôm vụn bám dính trong quá trình tách thân và bóc vỏ
tôm đã xử lý nhiệt đặc biệt là “gan xanh”, ruột và dịch trắng hay xanh .
5.4.3 Tập kết tôm hùm
Khu vực tập kết tôm trước khi phân phối, cấp
đông hay chế biến tiếp phải được làm lạnh. Thịt tôm hùm đã xử lý nhiệt để tiêu
thụ trực tiếp, chế biến phải được xử lý và lưu kho bằng phương thức sao cho hạn
chế được sự giảm chất lượng của sản phẩm.
Không nên trì hoãn hoặc làm gián đoạn việc đưa
tôm vào chế biến khi thời gian bảo quản kết thúc. Đối với thành phẩm là thịt
tôm đông lạnh của tôm hùm đã xử lý nhiệt còn vỏ hay đã bóc vỏ thì phải được làm
lạnh đến nhiệt độ băng tan và phải tiêu thụ trong vòng 18 giờ.
5.4.4 Đóng gói
Vật liệu bao gói phải được cơ quan có thẩm
quyền chấp nhận, phải sạch và được bảo quản hợp vệ sinh. Việc đóng gói phải được
tiến hành ở các điều kiện ngăn ngừa được sự nhiễm bẩn sản phẩm.
Tất cả vật liệu bao gói phải được bảo quản
sạch và hợp vệ sinh. Các vật liệu phải thích hợp với sản phẩm được đóng gói và
đáp ứng các điều kiện của kho và không truyền các chất không mong muốn cho sản
phẩm. Vật liệu đóng gói phải tốt và bảo vệ được sản phẩm không bị nhiễm bẩn.
Hộp kim loại được sử dụng để đóng gói tôm hùm
cấp đông hoặc thanh trùng. Các hộp rỗng cần phải loại bỏ khỏi phòng đóng hộp và
dây chuyền dẫn tới máy đóng hộp trước khi nhà máy được làm vệ sinh để tránh gây
ồn và nước bẩn hay rác rưởi bám dính vào.
Không để xảy ra tình trạng tích tụ nguyên liệu
hay sản phẩm sơ chế trong quá trình chế biến.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Không được để thùng cactông, giấy gói và các
vật liệu bao gói khác trong khu vực chế biến
Việc phân phối vật liệu bao gói phải được
thực hiện ngoài khu vực chế biến và chỉ những thứ thật cần thiết, cần sử dụng
ngay sau mỗi công đoạn nhỏ mới được để trong khu vực chế biến.
Tôm hùm và sản phẩm tôm hùm phải được kiểm
tra về chất lượng cũng như tay nghề của người đóng gói tại thời điểm đóng gói.
Việc kiểm tra này được tiến hành ngay trước
khi đóng gói. Năng lực làm việc của mỗi công nhân đóng gói cũng phải được kiểm tra
thường xuyên để chỉnh sửa lỗi và qua đó nâng cao tay nghề cho công nhân.
Các bao gói tôm hùm thành phẩm phải được đánh
dấu nhận biết của lô hàng tương ứng sao cho không thể tẩy xoá được.
Điều này rất có ý nghĩa trong thực tế sản
xuất kinh doanh vì nhà sản xuất có thể thu hồi được những sản phẩm bị khuyết
tật khi cần.
Nên đóng gói chân không thịt tôm hùm đông
lạnh đã xử lý nhiệt để tăng tuổi thọ sản phẩm.
Đóng gói chân không trong hộp hoặc các bao
gói không định hình thích hợp làm bằng vật liệu không thấm nước và kín khí cho
phép kéo dài thời gian bảo quản. Nếu sử dụng, phải chú ý duy trì độ chân không
và tình trạng đông lạnh của sản phẩm cho đến khi sử dụng. Chỉ sử dụng vật liệu
bao gói bằng polyetylen là không thích hợp đối với sản phẩm đóng gói chân
không.
5.4.5 Cấp đông, lưu kho và phân phối sản phẩm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tập quán sản xuất hàng hóa, phục vụ thương
mại tốt và thiết bị thích hợp là những yếu tố cơ bản quyết định chất lượng tôm
hùm đông lạnh kể cả tôm hùm đã được cấp đông ngay trên tàu hay trên bờ. Các
khuyến cáo nêu ở 4.6.3 cũng được áp dụng cho các công đoạn ở trên bờ. Một số
điều quan trọng cần chú ý khi cấp đông tôm hùm là:
1. Việc cấp đông phải tiến hành nhanh để tránh
những ảnh hưởng không tốt đến chất lượng sản phẩm;
2. Tủ làm lạnh bằng cách thổi không khí lạnh
phải có đủ công suất và sản phẩm phải được sắp xếp sao cho luôn có đủ luồng
không khí lạnh quanh sản phẩm;
3. Không được làm quá tải đối với tủ cấp đông
nhanh;
4. Nếu cấp đông bằng nước mặn, phải có sự lưu
thông nhanh môi trường làm lạnh và tỷ lệ ngấm mặn của tôm hùm phải được kiểm
soát nghiêm ngặt;
5. Quá trình cấp đông phải được thực hiện đủ
thời gian đã qui định để đảm bảo hoàn thành việc cấp đông một cách triệt để;
6. Thường xuyên kiểm tra nhiệt độ và áp suất
của bộ phận làm lạnh và phải lưu giữ các bản ghi một cách chính xác diễn biến
quá trình.
Trong quá trình cấp đông, nhiệt độ sản phẩm
phải thấp hơn khoảng nhiệt độ sau khi cân bằng nhiệt, nhiệt độ bên ngoài sản
phẩm cần đạt tới nhiệt độ kho lạnh hay thấp hơn.
Không đặt các sản phẩm vào trong kho khi
nhiệt độ của sản phẩm chưa đạt tới nhiệt độ của kho lạnh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Việc cấp đông phải được thực hiện trong vòng
1 giờ sau khi đóng gói.
Sự phân huỷ thịt tôm trong các thùng chứa có
thể diễn ra nhanh ở nhiệt độ thường.
Do đó thịt tôm phải được làm lạnh càng nhanh
càng tốt để ngăn ngừa các vi sinh vật phân huỷ.
Sử dụng luồng hơi lạnh để cấp đông tôm nguyên
con hay tôm đã bỏ đầu có chất lượng cao.
Việc cấp đông bằng luồng không khí lạnh là phương
pháp tốt nhất để sản xuất các sản phẩm đóng gói chất lượng cao. Vì vỏ tôm rất cứng,
sản phẩm tôm hùm không thể đóng gói chặt được nên không thuận lợi cho việc dùng
máy lạnh kiểu bản mỏng. Rất khó đóng gói những con tôm hùm được cấp đông nhanh
riêng rẽ trong cùng một hộp cactông mà không bị ảnh hưởng đến dạng bên ngoài.
Có thể sử dụng máy cấp đông sử dụng nước mặn đối với tôm nguyên con nhưng dễ
làm tôm bị ngấm mặn. Khi đóng gói, dạng bên ngoài của tôm hùm đông lạnh nhanh
rất dễ ảnh hưởng, trừ khi tôm được bao gói trong giỏ thép có kích thước giống
như kích thước hộp cactông.
Không nên cấp đông và bảo quản tôm chưa xử lý
nhiệt còn nguyên con.
Trong quá trình cấp đông đường tiêu hoá bị vỡ
và khi rã đông tôm hùm, các enzim tiêu hoá sẽ ngay lập tức xúc tác cho quá
trình phân huỷ thịt tôm gây ra hiện tượng tự phân, bốc mùi và tạo màu nâu không
mong muốn. Do đó cần tránh cấp đông và bảo quản tôm chưa xử lý nhiệt còn nguyên
con.
Nếu sản phẩm đã rã đông một phần được nhập
kho để bảo quản đông lạnh thì chúng phải được tái cấp đông bằng những thiết bị
làm lạnh thích hợp trước khi đưa vào kho lạnh.
Trong một số trường hợp, sản phẩm đông lạnh
có thể bị rã đông một phần trong khi vận chuyển hoặc nhập cảng. Nếu các sản
phẩm này còn được coi là có chất lượng chấp nhận được thì chúng phải được tái
cấp đông bằng thiết bị thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một số sự biến chất của sản phẩm tôm hùm đông
lạnh tự nhiên xảy ra trong quá trình bảo quản lạnh là không thể tránh khỏi nhưng
nếu duy trì được các điều kiện và nhiệt độ thích hợp thì sự thay đổi này là
không đáng kể, thậm chí sau một thời gian bảo quản dài.
Trong quá trình bảo quản, nhiệt độ là yếu tố
quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm. Nhiệt độ thấp sẽ làm
chậm sự biến đổi không tốt đối với chất lượng sản phẩm. Nói cách khác, sự tổn
thất của chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian bảo quản. Phải
giảm thiểu sự dao động của nhiệt độ trong quá trình bảo quản.
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến việc chọn nhiệt
độ bảo quản là khả năng giữ ẩm của không khí lạnh. Nhiệt độ càng cao thì khả
năng bão hoà ẩm của không khí lạnh càng lớn. Do đó, khi nhiệt độ càng cao thì
sự chuyển hơi nước từ bề mặt sản phẩm đến bề mặt làm lạnh càng nhanh và do đó
hiện tượng mất nước của sản phẩm xảy ra mạnh hơn.
Nhiệt độ kho lạnh phải được kiểm soát chặt
chẽ để tránh sự dao động.
Cần tránh sự dao động quá mức của nhiệt độ
sản phẩm. Không được để nhiệt độ kho lạnh dao động quá 2 oC (4 oF).
Hơi ẩm từ sản phẩm chuyển vào các bề mặt kho lạnh nhanh hơn do chênh lệch nhiệt
độ tăng. Vì vậy, các dao động nhiệt độ trong bảo quản lạnh sẽ làm tăng sự mất nước
của sản phẩm được bảo quản. Tốc độ không khí trong kho lạnh phải được kiểm soát
và khống chế không được cao hơn mức cần thiết để đạt được sự đồng đều về nhiệt
độ trong toàn bộ không gian của kho.
Nhiệt độ kho bảo quản lạnh phải được kiểm tra
thường xuyên, tốt nhất là bằng cách sử dụng thiết bị tự ghi nhiệt độ và các bản
ghi nhiệt độ phải được lưu giữ.
Kiểm tra nhiệt độ kho thường xuyên để có
những hoạt động khắc phục kịp thời những sự cố. Phải có các thiết bị làm lạnh
phụ trợ có đủ công suất để khi gặp sự cố, có thể lập tức điều chỉnh nhiệt độ
kho đến nhiệt độ yêu cầu.
Việc đo và ghi lại chính xác nhiệt độ bằng
dụng cụ tự ghi nhiệt độ sẽ chỉ rõ tình trạng đang được duy trì một cách nhanh
chóng. Cần chọn vị trí đặt bộ phận cảm ứng của bộ ghi để giá trị thông số thu được
phản ánh chính xác nhiệt độ của kho lạnh. Thường cần phải đặt một số bộ phận và
bộ ghi như vậy để thu được số liệu chính xác hơn.
Các sản phẩm được xếp thành chồng trong kho
lạnh sao cho luôn có khoảng trống để không khí lạnh lưu thông dọc theo thành và
trần.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sản phẩm nào được bảo quản trước thì phải được
phân phối trước.
Sản phẩm được bảo quản trong kho lạnh phải được
nhận biết rõ và việc ghi chép, theo dõi phải được duy trì thường xuyên để tránh
việc lưu kho quá lâu làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, trong khi những sản
phẩm mới hơn lại được mang ra phân phối trước. Phải thực hiện theo nguyên tắc
nhập trước xuất trước.
Tất cả xe chuyên chở sản phẩm tôm hùm đông
lạnh phải duy trì được ở nhiệt độ thấp để bảo đảm chất lượng sản phẩm.
Ở các điều kiện lý tưởng, trong suốt quá
trình vận chuyển, nhiệt độ của tôm đông lạnh phải bằng nhiệt độ trong kho lạnh.
Các xe vận chuyển lạnh phải có khả năng duy trì ở nhiệt độ -18 oC (0
oF) hoặc thấp hơn bằng các hệ thống làm lạnh cơ học, nước đá khô hay
khí hoá lỏng.
Sản phẩm đông lạnh không được xếp chồng trực
tiếp trên sàn, thành hay sát trần của xe chuyên chở trừ khi thùng xe có lớp vỏ
bọc bên ngoài, nhưng có thể xếp sản phẩm thành đống sao cho hơi lạnh có thể lưu
thông xung quanh để có thể hấp thụ được nhiệt lọt vào qua khe hở. Khoảng cách
tối thiểu giữa khối sản phẩm và sàn, nóc hay thành xe là 5 cm (2 inch).
Việc phân phối từ tổng kho đến các cửa hàng
hoặc đến các nhà hàng với nhiều điểm dừng có thể gặp phải những trở ngại hoàn
toàn khác với sự vận chuyển đường dài từ bờ biển đến các kho đông lạnh trên đất
liền. Nếu có sẵn máy làm lạnh, có thể sử dụng thùng cách nhiệt có đá để giữ cho
nhiệt độ sản phẩm không tăng lên. Cần có phương án xếp dỡ sản phẩm lên, xuống xe
phù hợp với lộ trình vận chuyển khi nhiều điểm phân phối. Cần hạn chế đến mức
tối đa thời gian mở cửa xe để giảm sự thất thoát không khí lạnh. Có thể hạn chế
sự thất thoát này bằng cách sử dụng cửa tự đóng ở phía trong.
Có thể đóng gói trước sản phẩm thành những
đơn vị bao gói riêng trong kho lạnh để tiện phân phối và giao hàng cho những
đơn đặt hàng.
Không để sản phẩm tôm hùm đông lạnh tiếp xúc
trực tiếp với nhiệt độ cao trong quá trình xếp dỡ.
Nhiệt độ của tôm hùm đông lạnh tăng lên rất
nhanh do những ảnh hưởng của sự dao động nhiệt độ khi xếp dỡ, thậm chí trong
thời gian rất ngắn, làm ảnh hưởng đến chất lượng tôm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Gần đây, một số kho lạnh được thiết kế có
những khoang chứa với nhiệt độ thấp và có đường tải nối thích ứng trực tiếp tới
cửa xe.
Sự hoạt động của các thiết bị làm lạnh trên
xe phải được kiểm tra thường xuyên trong quá trình vận chuyển.
Có thể cho phép nhiệt độ sản phẩm tăng lên
đến -15 oC (5 oF) trong quá trình vận chuyển từ kho lạnh
này tới kho lạnh khác vì những tình huống không lường trước được. Tuy nhiên,
khi nhiệt độ tăng cao hơn -18 oC (0 oF) thì phải làm giảm
ngay nhiệt độ xuống nhiệt độ này hoặc thấp hơn.
Mỗi một xe chuyên chở hàng đông lạnh đều phải
trang bị một nhiệt kế để kiểm tra được nhiệt độ hàng hoá trên xe mà không nhất
thiết phải mở cửa xe và các thông số ghi được phải giữ lại để tham khảo cho lần
vận chuyển tiếp theo. Phải định kỳ thực hiện việc kiểm định dụng cụ đo, thông
thường là hai năm một lần.
Sự phù hợp của tải trọng xe chở hàng đông
lạnh và lượng hàng chuyên chở trên xe đã thực hiện và duy trì phải được kiểm
tra bằng cách đo nhiệt độ của sản phẩm ở thời điểm bắt đầu và kết thúc việc
chuyên chở.
Trong khi xe đang xếp hàng và dỡ hàng, thỉnh
thoảng phải kiểm tra bằng cách đo nhiệt độ của sản phẩm ở đáy, các bên và ở
đỉnh của lô hàng. Nếu thấy nhiệt độ ấm lên thì phải xác định nguyên nhân và
khắc phục ngay.
Có thể sử dụng nhiệt kế được thiết kế đặc
biệt chuyên sử dụng cho mục đích này.
5.5 Chương trình kiểm tra vệ sinh
Trên thực tế, mỗi nhà máy chế biến tôm hùm
cần qui phân công cụ thể cho các cá nhân, tốt nhất là những người độc lập với sản
xuất, chuyên chịu trách nhiệm về công tác vệ sinh trong nhà máy.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.6 Phòng kiểm tra chất lượng
Ngoài việc kiểm soát của cơ quan có thẩm
quyền, tốt nhất là mỗi nhà máy chế biến tôm hùm phải có một phòng thử nghiệm để
kiểm tra chất lượng và vệ sinh của sản phẩm đã chế biến và kiểm soát vệ sinh
của quá trình chế biến.
Quy mô và hình thức kiểm tra thay đổi tuỳ
theo sản phẩm tôm hùm cũng như yêu cầu quản lý. Việc kiểm tra này phải loại bỏ được
tất cả những con tôm hùm có chất lượng không thích hợp để dùng cho người.
Các qui trình phân tích được sử dụng phải phù
hợp với các phương pháp tiêu chuẩn đã được chấp nhận để dễ đọc và hiểu các kết
quả thu được.
6. Các quy định của
sản phẩm cuối cùng
Nên sử dụng các phương pháp thích hợp để lấy
mẫu và kiểm tra để xác định sự phù hợp với các qui định sau đây:
1. Tôm hùm hoặc các sản phẩm tôm hùm không được
chứa các vi sinh vật với lượng gây hại cho sức khoẻ con người, không chứa các
ký sinh trùng có hại cho con người và không chứa bất kỳ chất nào có nguồn gốc
từ các vi sinh vật với lượng có thể gây hại cho sức khoẻ con người.
2. Tôm hùm hoặc các sản phẩm tôm hùm không được
chứa các hoá chất nhiễm bẩn với lượng có hại cho sức khoẻ con người.
3. Tôm hùm hoặc các sản phẩm tôm hùm nên được
sản xuất theo thực hành sản xuất tốt và không được chứa các chất không mong
muốn khác cũng như không được chứa các ký sinh trùng gây hại đến sức khoẻ con
người.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
PHỤ
LỤC 1
SƠ
ĐỒ QUY TRÌNH XỬ LÝ TÔM HÙM
|
Bảo quản trong không khí ... ... ... Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN. Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66 
PHỤ
LỤC 2 (Quy định) LÀM
SẠCH VÀ KHỬ TRÙNG 1. Nguyên tắc chung Vệ sinh tốt đòi hỏi phải thực hiện việc làm
sạch một cách thường xuyên và có hiệu quả đối với cơ sở sản xuất, các thiết bị
và phương tiện vận chuyển để loại bỏ phần thực phẩm còn sót lại và các chất
bẩn. Chúng chứa các vi sinh vật sinh độc tố gây ngộ độc thực phẩm, vi sinh vật
sinh làm hỏng thực phẩm và được coi là một nguồn gây nhiễm bẩn thực phẩm. ở
những nơi cần thiết, có thể kết hợp khử trùng đồng thời hoặc sau khi thực hiện
quá trình làm sạch để làm giảm số lượng của các loại vi sinh vật còn sót lại
sau khi làm sạch tới mức không gây ra sự nhiễm bẩn có hại cho sức khoẻ của thực
phẩm. Đôi khi hai công đoạn làm sạch và khử trùng được kết hợp bằng cách sử
dụng hỗn hợp các chất khử trùng và chất khử trùng, mặc dù nói chung việc này được
coi là kém hiệu quả hơn so với khi thực hiện riêng hai công đoạn này trong một
quá trình. Các phương pháp làm sạch và khử trùng sử dụng
phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Quy trình làm sạch và khử trùng phải do các
chuyên gia vệ sinh thiết lập một cách hợp lý sau khi đã tham khảo ý kiến của
giám đốc phụ trách sản xuất, các kỹ sư trong nhà máy và các nhà sản xuất chất
tẩy rửa, chất khử trùng. Quy trình làm sạch và khử trùng phải được thiết lập để
đáp ứng yêu cầu của từng sản phẩm và từng công đoạn chế biến có liên quan, đồng
thời phải được đặt thành văn bản dưới dạng kế hoạch hoặc hướng dẫn sẵn có để
nhân viên và nhà quản lý thực hiện. Quy trình này không chỉ được thiết lập cho
việc làm sạch và khử trùng nhà xưởng, thiết bị, các phương tiện vận chuyển mà
còn phải được thiết lập để làm sạch bản thân các thiết bị, dụng cụ dùng để làm
sạch và khử trùng, ví dụ như giẻ lau sàn, xô múc nước v.v. Phải có sự theo dõi,
giám sát thường xuyên của nhà quản lý để đảm bảo quy trình đề ra được thực hiện
một cách có hiệu quả và vào những khoảng thời gian quy định. Phải bổ nhiệm hay phân công một cá nhân, tốt
nhất là một thành viên của đội ngũ cán bộ quản lý của cơ sở sản xuất và có
nhiệm vụ độc lập với khâu sản xuất, chuyên chịu trách nhiệm theo dõi và giám
sát việc thực hiện quy trình làm sạch và khử trùng. ... ... ... Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN. Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66 2. Làm sạch 2.1 Quy trình làm sạch Yêu cầu của quy trình làm sạch: Làm sạch các mảnh tôm vụn có mùi khó chịu
trên các bề mặt bằng bàn chải, lực hút chân không, nạo vét hoặc bằng các phương
pháp khác. ở những chỗ cần thiết có thể rửa lại bằng nước có chất lượng phù hợp
như quy định ở 7.3 của “Quy phạm thực hành quốc tế – nguyên tắc chung về vệ
sinh thực phẩm” (CAC/RCP 1-1969, Rev 1). Nhiệt độ nước sử dụng phụ thuộc vào
loại chất bẩn cần loại bỏ. Sử dụng dung dịch chất tẩy rửa để làm bong
các chất bẩn, màng vi khuẩn và giữ chúng trong dung dịch hoặc dịch huyền phù. Rửa xối lại bằng nước có chất lượng như quy
định ở 7.3 của Quy phạm thực hành quốc tế - nguyên tắc chung về vệ sinh thực
phẩm để loại bỏ chất bẩn đã bong ra khỏi các bề mặt và dung dịch chất tẩy rửa
còn sót lại. Phải thận trọng khi sử dụng các dụng cụ làm
sạch làm bằng vật liệu dễ mài mòn để không làm biến đổi đặc tính của thực phẩm
khi tiếp xúc với các bề mặt được làm sạch và đảm bảo để các mảnh vụn của bàn
chải, dụng cụ nạo vét hay các vật liệu làm sạch khác không làm nhiễm bẩn thực
phẩm. Khi các yêu cầu trên được đáp ứng thì tiếp
tục thực hiện quá trình khử trùng (xem điều 3 - khử trùng). 2.2 Phương pháp làm sạch ... ... ... Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN. Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66 Tuỳ tình huống cụ thể mà phải sử dụng một
hoặc một vài phương pháp dưới đây: Làm sạch bằng tay: Phương pháp loại bỏ các
chất bẩn bằng bàn chải kết hợp với dung dịch chất tẩy rửa. Phương pháp này dùng
để làm sạch các bộ phận có thể tháo rời của máy móc, các đơn nguyên nhỏ của
thiết bị. Có thể ngâm các chi tiết cần rửa trong dung dịch chất tẩy rửa đựng
trong các vật chứa riêng biệt để làm bong các chất bẩn trước khi cọ rửa. Làm sạch tại chỗ: Phương pháp sử dụng nước và
dung dịch chất tẩy rửa để làm sạch thiết bị, kể cả các đường ống dẫn kèm theo,
mà không cần tháo rời thiết bị hoặc mạng ống. Phương pháp này chỉ dùng cho
những thiết bị được thiết kế thích hợp. Cần có dòng nước ở chế độ chảy rối và
có vận tốc nhỏ nhất là 1,5 mét/giây (5 feet/s) để việc làm sạch mạng ống đạt
hiệu quả. Tất cả những bộ phận của thiết bị không thể làm sạch bằng phương pháp
này cần được phân biệt và loại trừ để xử lý bằng phương pháp thích hợp. Nếu
không, phải tháo rời những chi tiết hoặc bộ phận đó để làm sạch nhằm ngăn ngừa
nguy cơ gây nhiễm bẩn (Nguyên tắc chung về vệ sinh thực phẩm, 4.5). Phun nước rửa với thể tích lớn ở áp suất
thấp: Phương pháp sử dụng nhiều nước sạch hoặc dung dịch chất tẩy rửa để phun với
áp suất khoảng 6,8 bar (100 psi). Phun nước rửa với thể tích nhỏ ở áp suất cao:
Phương pháp sử dụng một lượng nhỏ nước sạch hoặc dung dịch chất tẩy rửa để phun
với áp suất cao, ví dụ tới 68 bar (1000 psi). Làm sạch bằng cách tạo bọt: Phương pháp làm
sạch sử dụng chất tẩy rửa dưới dạng bọt hoặc tạo bọt bền khoảng 15 phút ữ
20phút, sau đó phun nước để xối sạch. Sử dụng máy làm sạch: Một số vật chứa, bao bì
và thiết bị sử dụng trong chế biến thực phẩm có thể được làm sạch bằng máy
chuyên dùng. Các máy này thực hiện quy trình làm sạch như đã được thiết lập ở
phần trên và có thêm công đoạn khử trùng bằng cách phun nước nóng khi kết thúc
mỗi chu trình làm sạch. Phải thường xuyên duy tu, bảo dưỡng máy và thiết bị làm
sạch để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả và hiệu lực, từ đó cho kết quả tốt khi
sử dụng chúng để làm sạch . 2.3 Chất tẩy rửa Chất tẩy rửa phải có tính thấm ướt tốt, có
khả năng loại bỏ các chất bẩn bám trên bề mặt và lưu giữ chúng trong dịch huyền
phù. Chúng cũng phải dễ rửa trôi hay không bám dính để dễ loại bỏ phần dư lượng
chất bẩn và chất tẩy rửa còn lại trên thiết bị. Vì có rất nhiều loại chất tẩy
rửa, nên phải lựa chọn chúng sao cho thích hợp với từng tình huống cụ thể để
đảm bảo loại bỏ được chất bẩn khỏi quá trình chế biến thực phẩm tương ứng, đồng
thời sử dụng chúng với nồng độ và nhiệt độ thích hợp. Chất tẩy rửa được sử dụng
phải không ăn mòn, đồng thời phải tương hợp với các vật liệu khác kể cả chất
khử trùng sử dụng trong chương trình vệ sinh. Dung dịch chất tẩy rửa lạnh có
thể có hiệu quả trong một số trường hợp, nhưng việc loại bỏ chất béo tồn dư lại
đòi hỏi phải sử dụng dịch chất tẩy rửa có nhiệt độ cao. Sự kết tinh của các
muối khoáng trên thiết bị có thể hình thành lớp vảy cứng “như đá”, đặc biệt là
khi có sự tham gia của chất béo và protein. Trong trường hợp này có thể cần sử
dụng chất tẩy rửa có tính axit hoặc kiềm hoặc cả hai loại một cách liên tiếp để
loại bỏ các chất kết tủa nói trên. Lớp chất kết tủa này có thể là nguồn chủ yếu
gây nhiễm vi khuẩn cho thực phẩm. Có thể dễ dàng phát hiện ra các chất kết tủa
này bằng sự phát huỳnh quang dưới ánh đèn cực tím, trong khi các biện pháp kiểm
tra bằng mắt thường không thể thấy được. ... ... ... Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN. Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66 Nếu sau khi làm sạch thiết bị còn ướt thì vi
sinh vật có thể phát triển trên các màng nước mỏng bám dính trên thiết bị. Do
vậy, phải làm khô thiết bị càng sớm càng tốt sau khi làm sạch và ở những chỗ có
thể, cần để thiết bị được làm khô bằng không khí một cách tự nhiên. Có thể dùng
khăn, giấy hay vật liệu hút ẩm để làm khô, nhưng chỉ được sử dụng một lần và
loại bỏ. Phải có các chỗ thoát nước thích hợp cho
những thiết bị không thể tháo rời để làm sạch và phải có các giá khô để đặt
những bộ phận nhỏ không thể tháo rời và các linh kiện của các bộ phận nhỏ có
thể tháo rời của thiết bị sau khi làm sạch. Mọi thiết bị không thể làm khô được hoặc phải
duy trì ở trạng thái ướt trong một khoảng thời gian mà vi sinh vật có thể phát
triển một cách đáng kể thì phải khử trùng ngay trước khi sử dụng. 3. Khử trùng 3.1 Sự xem xét chung Mặc dù việc khử trùng làm giảm số lượng vi
sinh vật sống nhưng thường không tiêu diệt được các bào tử của chúng. Khử trùng
có hiệu quả không nhất thiết phải tiêu diệt hết vi sinh vật hiện có nhưng phải
làm giảm số lượng của chúng xuống mức độ không có nguy cơ gây hại sức khoẻ con
người. Không có quy trình khử trùng nào có thể phát huy hết tác dụng tích cực
của nó nếu không làm sạch một cách triệt để trước đó. Việc lựa chọn các chất
khử trùng phải căn cứ vào loại vi sinh vật cần tiêu diệt, loại thực phẩm được
chế biến, bản chất vật liệu tạo nên bề mặt tiếp xúc với thực phẩm và, nếu cần,
còn phải dựa trên các chuẩn cứ khác nêu ở 3.4 của phụ lục này. Việc lựa chọn
chất khử trùng còn bị ảnh hưởng bởi tính chất của nước và phương pháp làm sạch
được sử dụng. Việc sử dụng liên tục một loại chất khử trùng hoá học có thể làm
cho vi sinh vật có khả năng kháng lại chất đó. Chất khử trùng hoá học nên được
sử dụng ở những nơi không có các nguồn nhiệt. Các phương pháp làm sạch nêu ở
2.2 của phụ lục này cũng có thể được sử dụng để chuẩn bị cho việc khử trùng 3.2 Khử trùng nhiệt Việc sử dụng sức nóng ướt để làm tăng nhiệt
độ bề mặt lên ít nhất là 70 oC (160 oF) là phương pháp khử trùng thông dụng và
hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, nhiệt độ cao sẽ làm biến tính và làm chín phần
protein còn tồn dư trên bề mặt thiết bị chế biến thực phẩm. Do đó, phải loại bỏ
tất cả các vật liệu như thực phẩm còn sót lại trên thiết bị bằng cách làm sạch
kỹ trước khi khử trùng bằng nhiệt. 3.2.1 Khử trùng bằng nước nóng ... ... ... Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN. Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66 3.2.2 Khử trùng bằng hơi nước Phương pháp này sử dụng hơi nước để nâng
nhiệt độ các bề mặt cần khử trùng lên đến nhiệt độ khử trùng trong khoảng thời
gian thích hợp. Khó có thể có sẵn hơi nước ở tất cả các nơi trong nhà xưởng để
khử trùng. Vòi phun hơi nước có tác dụng tích cực trong việc khử trùng bề mặt
của máy, thiết bị và những bề mặt khác khó làm sạch được bằng tay, hoặc bền mặt
phải được khử trùng trên sàn của nhà máy chế biến. Nhiệt lượng tích tụ ở bề mặt
thiết bị trong quá trình khử trùng bằng hơi nước có nhiệt độ cao sẽ giúp làm
khô bề mặt thiết bị sau khi khử trùng. Việc sử dụng hơi nước để khử trùng có nhược
điểm là gây ra sự ngưng tụ hơi nước trên các thiết bị khác hoặc các bộ phận kết
cấu khác của nhà xưởng. áp suất cao của hơi nước sẽ làm bong các lớp sơn trên
bề mặt đươc sơn phủ và hạn chế tác dụng bôi trơn các bộ phận hoạt động trong
thiết bị của dầu nhờn. Thêm vào đó, một số loại vật liệu, như chất dẻo, không
thích hợp với việc xử lý bằng hơi nước trực tiếp. Chỉ những người đã được đào
tạo về chuyên môn mới được thực hiện việc phun hơi nước để khử trùng vì công
việc này rất dễ gây nguy hiểm cho người vận hành. 3.3 Khử trùng hoá học Những yếu tố sau đây ảnh hưởng đến hiệu lực
của chất khử trùng hoá học: 3.3.1 Sự mất hoạt tính do mức độ nhiễm bẩn Hiệu lực của tất cả các chất khử trùng hoá
học đều bị giảm khi có mặt các chất cặn bẩn và các chất thải khác. Chất khử
trùng sẽ không thể hiện hoạt tính tại những nơi có nhiều chất bẩn. Do đó, việc
khử trùng bằng hoá chất phải được thực hiện đồng thời hoặc sau khi đã tiến hành
quá trình làm sạch. 3.3.2 Nhiệt độ của dung dịch Nói chung, nhiệt độ càng cao thì hiệu quả khử
trùng càng lớn. Vì vậy, sử dụng dung dịch chất khử trùng nóng hoặc ấm tốt hơn
so với dung dịch ở nhiệt độ thường. Tuy nhiên, phải tuân theo hướng dẫn của nhà
sản xuất về giới hạn nhiệt độ của hoá chất khử trùng. Hợp chất mang iôt sẽ giải
phóng ra iốt ở nhiệt độ trên 43 oC (110 oF) và gây ra sự
biến màu vật liệu Phản ứng ăn mòn sẽ xảy ra mạnh hơn khi sử dụng dung dịch
hypoclorit nóng. 3.3.3 Thời gian ... ... ... Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN. Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66 3.3.4 Nồng độ Nồng độ yêu cầu của dung dịch chất khử trùng
hoá học được sử dụng thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện sử dụng và phải phù hợp
với mục đích cụ thể cũng như môi trường trong đó chúng được sử dụng. Do đó, khi
sử dụng các dung dịch này phải tuyệt đối tuân thủ đúng theo hướng dẫn của nhà
sản xuất. 3.3.5 Độ bền Dung dịch của tất cả các chất khử trùng hoá
học đều phải được pha chế mới trước khi sử dụng trong những dụng cụ sạch. Chuẩn
bị trước dung dịch chất khử trùng bằng cách pha loãng dung dịch có sẵn hoặc bảo
quản dài ngày dung dịch pha loãng để sử dụng ngay có thể làm mất hoạt tính của
dung dịch hoặc tạo điều kiện để các sinh vật kháng lại chất khử trùng. Chất khử
trùng có thể mất hoạt tính khi trộn lẫn với các chất tẩy rửa hoặc chất khử trùng
khác. Hiệu quả khử trùng cần được kiểm tra thường xuyên, đặc biệt khi sử dụng
các dụng dịch pha loãng của chất khử trùng. Hiện trên thị trường có sẵn các
loại kit thử dễ sử dụng và giá không đắt dùng cho mục đích này. 3.4 Hợp chất hoá học thích hợp để khử trùng
trong nhà xưởng chế biến thực phẩm Không nên sử dụng các chất khử trùng hoá học có
thể làm hỏng thực phẩm như các hợp chất của phenol để khử trùng trong nhà xưởng
hay phương tiện vận chuyển thực phẩm. Phải thận trọng khi sử dụng các hợp chất
này để tránh gây hại cho sức khỏe con người và tránh gây tổn hại đến động vật
khi chúng được sử dụng ở nơi nhốt giữ hay vận chuyển động vật, như ở các trạm
nhốt giữ chung chuyển hoặc các phương tiện vận chuyển. Trong số các hợp chất
khử trùng hoá học, những chất được liệt kê dưới đây thường sử dụng trong công
nghiệp thực phẩm. Sau thời gian tiếp xúc thích hợp với chất khử
trùng, bề mặt được khử trùng phải được làm sạch lại lần cuối cùng bằng nước có
chất lượng phù hợp với 7.3 của Nguyên tắc chung về vệ sinh thực phẩm. 3.4.1 Clo và các sản phẩm dẫn xuất của clo kể
cả hợp chất hypoclorit Nếu được sử dụng đúng, các chất này là một
trong số chất khử trùng thích hợp nhất cho nhà máy chế biến và phương tiện vận
chuyển thực phẩm. Có thể nhận được hiệu quả khử trùng khi sử dụng dung dịch
hypoclorit lỏng với nồng độ clo có hoạt tính từ 100 000 mg/l ữ120 000mg/l, hoặc
có thể sử dụng kết hợp với chất tẩy rửa dưới dạng tinh thể được clo hoá. Các
chất này có tác dụng tiêu diệt vi sinh vật nhanh, phổ tác dụng rộng và giá tương
đối rẻ. Chúng thích hợp để sử dụng cho mục đích khử trùng thông thường trong
các nhà xưởng chế biến thực phẩm. Khi đó cần sử dụng các chất khử trùng này với
nồng độ clo có hoạt tính từ 100 mg/l ữ 250 mg/l. Nhóm chất khử trùng nói trên
ăn mòn kim loại và có hoạt tính tẩy màu. Vì vậy, bắt buộc phải làm sạch lại bề
mặt được khử trùng càng sớm càng tốt sau thời gian khử trùng cần thiết. Trừ clo
dioxit, các chất khử trùng clo dễ bị mất hoạt tính khi có mặt chất bẩn hữu cơ. ... ... ... Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN. Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66 Các chất này luôn luôn được trộn với một chất
tẩy rửa trong môi trường axít, do vậy chúng đặc biệt thích hợp trong những trường
hợp làm sạch bằng axit. Chúng có hoạt tính chống vi sinh vật với tác dụng nhanh
và phổ tác dụng rộng. Để khử trùng các bề mặt đã được làm sạch, phải sử dụng
dung dịch có nồng độ 25 mg/l - 50 mg/l iốt dễ chuyển hoá ở pH < 4. Chúng dễ
bị mất tính do chất hữu cơ. Có thể quan sát được hiệu quả tác dụng của hợp chất
mang iốt vì chúng bị mất màu khi nhỏ phần iốt dư còn lại xuống bề mặt có mức độ
nhiễm bẩn thấp hơn mức có tác dụng của chúng. Chúng không độc khi sử dụng ở
nồng độ thông thường, nhưng có thể bổ sung một lượng iốt vào khẩu phần. Chúng
có hầu như không có mùi và vị nhưng có thể kết hợp với các chất trong thực phẩm
và làm hỏng thực phẩm. Hợp chất mang iốt có thể tạo phản ứng ăn mòn kim loại,
mức độ ăn mòn phụ thuộc vào công thức của hợp chất mang iốt và bản chất của bề
mặt sẽ sử dụng hợp chất này để khử trùng. Vì vậy, phải làm sạch kỹ hợp chất này
sau khi sử dụng để khử trùng. 3.4.3 Hợp chất amoni bậc bốn Tất cả hợp chất amoni bậc bốn đều có tính
chất tẩy rửa tốt. Chúng không màu, không độc và hầu như không ăn mòn kim loại,
nhưng có thể có vị hơi đắng. Hiệu quả khử trùng của nó đối với vi khuẩn Gram âm
kém hơn so với clo, các dẫn xuất của clo và iốt. Dung dịch của các hợp chất này
có xu hướng bám dính vào các bề mặt, do vậy phải rửa sạch một cách cẩn thận sau
khi khử trùng. Chúng nên được sử dụng ở nồng độ khoảng 200 mg/l ữ 1200 mg/l.
Cần có nồng độ cao hơn khi sử dụng chúng cùng với nước cứng. Chúng không tương
thích với xà phòng và chất tẩy rửa anion. 3.4.4 Chất có hoạt tính bề mặt lưỡng tính Đây là loại khử trùng tương đối mới, thành
phần bao gồm chất hoạt động bề mặt, chất tẩy rửa và chất sát trùng. Chúng có độ
độc thấp, hầu như không gây hiện tượng ăn mòn, không mùi, không vị và có tác
dụng tẩy trùng tốt khi được sử dụng theo đúng chỉ dẫn của nhà sản xuất. Chúng
mất hoạt tính khi tiếp xúc với các chất hữu cơ. 3.4.5 Axít và kiềm mạnh Ngoài tính chất tẩy rửa, axít và kiềm mạnh
còn có hoạt tính chống vi sinh vật khá mạnh. Đặc biệt thận trọng khi sử dụng để
tránh làm nhiễm bẩn thực phẩm. 4. Kiểm tra tính hiệu quả của quy trình làm
sạch và khử trùng Tính hiệu quả của quy trình làm sạch và khử
trùng phải được kiểm chứng bằng cách kiểm nghiệm các chỉ tiêu vi sinh của sản
phẩm và của các bề mặt tiếp xúc với thực phẩm. Tương tự như vậy, việc kiểm tra
các chỉ tiêu vi sinh đối với các sản phẩm công đoạn trong toàn bộ quá trình sản
xuất cũng sẽ cung cấp những thông tin về tính hiệu quả của quy trình làm sạch
và khử trùng. ... ... ... Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN. Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66 PHỤ
LỤC 3 (Quy định) TÀI
LIỆU VIỆN DẪN CAC/RCP 9-1976 Recommended International Code
of Practice for Frozen Fish . International Guidelines for Drinking Water
Quality . TCVN 5603 : 1998 [(CAC/RCP 1- 1969: Rev.3
(1997)] Quy phạm thực hành về nguyên tắc chung về vệ sinh thực phẩm.
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7109:2002 (CAC/RCP 24:1979) về quy phạm thực hành đối với tôm hùm do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7109:2002 (CAC/RCP 24:1979) về quy phạm thực hành đối với tôm hùm do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
Năm 2003
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
27/02/2013
Ban hành:
04/12/2002
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
26/08/2009
Ban hành:
Năm 1998
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
27/02/2013
Ban hành:
Năm 1996
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
27/02/2013
Ban hành:
Năm 1994
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
27/02/2013
4.773
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|