Toàn văn Thông tư 23/2025/TT-BTP về phân cấp quản lý tổ chức cán bộ của Bộ Tư pháp như thế nào?
Ngày 20/11/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 23/2025/TT-BTP về phân cấp quản lý tổ chức cán bộ của Bộ Tư pháp.
>>> Xem toàn văn Thông tư 23 2025 TT BTP Tải về
Thông tư 23/2025/TT-BTP quy định nguyên tắc, nội dung, thẩm quyền của Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục trong quản lý tổ chức cán bộ của đơn vị.
Việc phân cấp quản lý tổ chức cán bộ hệ thống cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật và của Bộ Tư pháp về việc phân cấp quản lý công chức, viên chức, người lao động của các cơ quan thi hành án dân sự.
Việc phân cấp quản lý tổ chức cán bộ của Báo Pháp luật Việt Nam thực hiện theo quy định của Thông tư 23/2025/TT-BTP và quy chế của Bộ Tư pháp về việc phân công, ủy quyền thực hiện công tác quản lý tổ chức cán bộ.
Đối tượng áp dụng tại Thông tư 23/2025/TT-BTP bao gồm:
- Văn phòng Bộ, Vụ, Cục thuộc Bộ.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ tự bảo đảm chỉ thường xuyên và chi đầu tư (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ nhóm 1);
+ Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ tự bảo đảm chỉ thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ nhóm 2);
+ Đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ nhóm 3);
+ Đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ do Nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ nhóm 4);
+ Đơn vị sự nghiệp thuộc Cục tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp thuộc Cục nhóm 1);
+ Đơn vị sự nghiệp thuộc Cục tự bảo đảm chỉ thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp thuộc Cục nhóm 2);
+ Đơn vị sự nghiệp thuộc Cục tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp thuộc Cục nhóm 3);
+ Đơn vị sự nghiệp thuộc Cục do Nhà nước bảo đảm chỉ thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp thuộc Cục nhóm 4).
- Công chức, viên chức làm việc tại các đơn vị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Thông tư 23/2025/TT-BTP.
*Xem thêm chi tiết tại Thông tư 23 2025 TT BTP

Toàn văn Thông tư 23/2025/TT-BTP về phân cấp quản lý tổ chức cán bộ như thế nào? (Hình ảnh từ Internet)
Nguyên tắc phân cấp quản lý tổ chức cán bộ của Bộ Tư pháp là gì?
Căn cứ theo Điều 3 Thông tư 23/2025/TT-BTP quy định về nguyên tắc phân cấp phân cấp quản lý tổ chức cán bộ như sau:
- Bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp, phù hợp với các nguyên tắc, quy định về phân cấp của Luật Tổ chức Chính phủ 2025; tuân thủ đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác tổ chức cán bộ.
- Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định, đồng thời phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu được phân cấp trong công tác tổ chức cán bộ.
- Phân cấp thẩm quyền quản lý tổ chức cán bộ phù hợp với mức độ tự chủ tài chính và năng lực quản lý của các cơ quan, đơn vị; đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý tổ chức cán bộ và hoạt động của cơ quan, đơn vị.
- Phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan, đơn vị, cá nhân trong quản lý tổ chức cán bộ của Bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị được phân cấp trong quản lý tổ chức cán bộ của Bộ.
- Cơ quan, đơn vị, cá nhân chủ động triển khai, thực hiện nhiệm vụ được phân cấp theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của Bộ về công tác tổ chức cán bộ; chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan cấp trên về việc triển khai thực hiện nhiệm vụ được phân cấn
Điều kiện về thu nhập để mua nhà ở xã hội đối với cán bộ công chức viên chức quy định ra sao?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 30 Nghị định 100/2024/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 261/2025/NĐ-CP điều kiện về thu nhập đối với cán bộ công chức viên chức như sau:
Điều 30. Điều kiện về thu nhập
1. Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:
a) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 20 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
b) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 40 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
c) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập theo quy định tại điểm a, điểm b khoản này là trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
d) Căn cứ điều kiện, mức thu nhập của từng khu vực trên địa bàn, chính sách ưu đãi về nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, số lượng người phụ thuộc theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập quy định tại điểm a, điểm b khoản này nhưng không vượt quá tỷ lệ giữa thu nhập bình quân đầu người tại địa phương so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước; quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội có từ ba (03) người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình.
[...]
Theo đó, từ 10/10/2025 cán bộ công chức viên chức để được mua nhà ở xã hội thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:
- Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 20 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
- Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
- Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 40 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];