Toàn văn Kết luận 232-KL/TW về xử lý các trường hợp sai phạm còn tồn tại trong công tác cán bộ
Ngày 08/01/2026, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Kết luận 232-KL/TW năm 2026 về xử lý các trường hợp sai phạm còn tồn tại trong công tác cán bộ.
>> Xem chi tiết Kết luận 232 KL TW năm 2026: Tải về
Theo đó, tại phiên họp ngày 31/12/2025, sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương báo cáo kết quả rà soát các trường hợp sai phạm còn tồn tại trong công tác cán bộ, Ban Bí thư có ý kiến như sau:
(1) Thời gian qua, việc rà soát, xử lý, khắc phục các trường hợp sai phạm trong công tác cán bộ đã cơ bản được các cấp uỷ, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm túc, khách quan, công khai, minh bạch, có xem xét, cân nhắc đến hoàn cảnh lịch sử cụ thể, bảo đảm đúng quy trình, tạo được sự đồng thuận trong đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ.
Tuy nhiên, vẫn còn một số cơ quan, đơn vị, địa phương thiếu quyết liệt, có biểu hiện né tránh, chưa tập trung rà soát, thực hiện đầy đủ theo đúng yêu cầu tại các kết luận của Ban Bí thư, dẫn đến vẫn còn một số sai phạm tồn đọng, kéo dài chưa được xử lý, khắc phục dứt điểm, ảnh hưởng đến việc sắp xếp, bố trí, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức.
Nguyên nhân chính là do một số cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, nhất là người đứng đầu chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nghiêm các kết luận của Ban Bí thư; một số nơi có biểu hiện tiêu cực, lạm quyền trong công tác cán bộ; năng lực của đội ngũ làm công tác tham mưu còn yếu; công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra chưa được quan tâm đúng mức; chưa xử lý trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan trong việc để xảy ra sai phạm hoặc để sai phạm tồn đọng kéo dài.
(2) Để xử lý dứt điểm những sai phạm còn tồn tại, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm như sau:
- Đồng ý cho tiếp tục hoàn thiện theo các kết luận của Ban Bí thư đổi với các trường hợp:
+ Đã rà soát trước đây nhưng do lỗi của cơ quan, tổ chức không phát hiện ra (có 234 trường hợp).
+ Sai phạm xảy ra trước thời điểm ngày 28/12/2017, đã hoàn thiện đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện nhưng chưa được xử lý, khắc phục theo các kết luận của Ban Bí thư (có 364 trường hợp).
+ Đã được xử lý, khắc phục theo các kết luận của Ban Bí thư nhưng thời gian hoàn thành quy trình xử lý, khắc phục bị chậm theo quy định (có 3 trường hợp).
+ Việc xử lý, khắc phục các tồn tại bảo đảm đúng chủ trương, kết luận của Ban Bí thư, hoàn thành trước ngày 31/3/2026.
- Huỷ bỏ, thu hồi các quyết định có liên quan đối với các trường hợp:
+ Sai phạm trong công tác tuyển dụng xây ra sau thời điểm ngày 24/3/20205 (có 57 trường hợp).
+ Thuộc diện phải thi tuyển nhưng không thi tuyển theo quy định (có 166 trường hợp).
- Các trường hợp không có quyết định tuyển dụng hoặc hồ sơ tuyển dụng không đầy đủ theo quy định thực hiện như sau (có 396 trường hợp):
+ Trường hợp xảy ra trước thời điểm ngày 28/12/2017: Giao các cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc rà soát, đánh giá toàn diện, nếu xác định trường hợp đã được tuyển dụng theo quy định những hồ sơ bị thất lạc do lỗi của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì xem xét không thu hồi các quyết định có liên quan; nếu xác định chưa được tuyển dụng theo quy định thì huỷ bỏ, thu hồi các quyết định có liên quan.
+ Trường hợp xảy ra sau thời điểm ngày 28/12/2017 thì huỷ bỏ, thu hồi các quyết định có liên quan.
- Không thu hồi quyết định tuyển dụng và các quyết định có liên quan, cho nghỉ theo quy định đối với các trường hợp sai phạm trong tuyển dụng đã có quyết định cho nghỉ trước tuổi của cơ quan có thẩm quyền (có 15 trường hợp).
Xem chi tiết tại Kết luận 232-KL/TW năm 2026.

Toàn văn Kết luận 232 KL TW về xử lý các trường hợp sai phạm còn tồn tại trong công tác cán bộ (Hình từ Internet)
Những việc cán bộ không được làm là gì?
Căn cứ Điều 14 Luật Cán bộ, công chức năm 2025 quy định những việc cán bộ không được làm bao gồm:
(1) Trốn tránh, thoái thác, né tránh, đùn đẩy trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý nghỉ việc, bỏ việc; tham gia đình công; đăng tải, phát tán, phát ngôn thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của đất nước, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công tác.
(2) Có hành vi tham ô, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, trục lợi, nhũng nhiễu và các hành vi khác vi phạm pháp luật đối với người dân, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
(3) Sử dụng tài sản công của Nhà nước và tài sản của Nhân dân trái pháp luật.
(4) Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn, sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để trục lợi.
(5) Có hành vi phân biệt đối xử dân tộc, giới tính, độ tuổi, khuyết tật, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội dưới mọi hình thức trong thi hành công vụ.
(6) Những việc không được làm liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ bí mật nhà nước và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cấp có thẩm quyền trong thời gian công tác và sau khi thôi việc, nghỉ hưu.
Cán bộ có được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội không?
Theo quy định tại Điều 76 Luật Nhà ở 2023 quy định về các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội như sau:
(1) Người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng 2020.
(2) Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn.
(3) Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.
(4) Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị.
(5) Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị.
(6) Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp.
(7) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác.
(8) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
(9) Đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 4 Điều 125 Luật Nhà ở 2023 , trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định của Luật Nhà ở 2023 .
(10) Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.
(11) Học sinh, sinh viên đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, trường chuyên biệt theo quy định của pháp luật; học sinh trường dân tộc nội trú công lập.
(12) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong khu công nghiệp.
Theo đó, cán bộ theo quy định của pháp luật về cán bộ thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];