Chi tiết 7 khu tái định cư tại Bình Định để phục vụ xây dựng tuyến đường cao tốc Quy Nhơn Pleiku?
Theo thông tin mới nhất về tái định cư tại Bình Định: Đã thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng loạt khu tái định cư (TĐC) nhằm phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB) cho dự án Tuyến đường bộ cao tốc Quy Nhơn - Pleiku (đoạn đi qua tỉnh Bình Định) tại 7 khu vực.
Chi tiết 7 khu tái định cư tại Bình Định như sau:
+ Khu tái định cư tại thôn Thuận Đức (xã Nhơn Mỹ, thị xã An Nhơn) với quy mô diện tích khoảng 5ha;
+ Khu TĐC thôn Kiên Long (xã Bình Thành, huyện Tây Sơn) với diện tích khoảng 11ha;
+ Khu TĐC thôn Trà Sơn (xã Tây An, huyện Tây Sơn) với diện tích khoảng 3ha;
+ Khu TĐC thôn Phú Lạc (xã Bình Thành, huyện Tây Sơn) với diện tích khoảng 5ha.
+ Khu TĐC thôn Trường Định 2 (xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn) với diện tích khoảng 3,5ha;
+ Khu TĐC thôn Thuận Hòa (xã Bình Tân, huyện Tây Sơn), với diện tích khoảng 3,46ha;
+ Khu TĐC thôn Hòa Trung (xã Bình Tường, huyện Tây Sơn) với quy tích khoảng 7,25ha.
Nguồn kinh phí lập, điều chỉnh quy hoạch và đầu tư xây dựng các khu tái định cư tại Bình Định này sẽ được lấy từ ngân sách Nhà nước, sử dụng kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư của dự án cao tốc.
Dự án cao tốc Quy Nhơn - Pleiku có tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 43.510 tỉ đồng, với tổng chiều dài khoảng 125km, trong đó đi qua tỉnh Bình Định khoảng 40km và tỉnh Gia Lai khoảng 85km. Điểm đầu của dự án tại xã Nhơn Mỹ (thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định) và điểm cuối tại xã Ia Kênh (TP Pleiku, tỉnh Gia Lai).
Khi hoàn thành, dự án sẽ rút ngắn thời gian di chuyển giữa khu vực duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, thúc đẩy liên kết vùng, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Gia Lai mới sau sáp nhập 2 tỉnh Bình Định và Gia Lai.

Chi tiết 7 khu tái định cư tại Bình Định để phục vụ xây dựng tuyến đường cao tốc Quy Nhơn Pleiku? (Hình từ Internet)
Quy định mới nhất về hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 2025?
Tại Điều 23 Nghị định 88/2024/NĐ-CP nêu rõ về trường hợp hỗ trợ tái định cư khi thu hồi đất như sau:
Điều 23. Hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đủ điều kiện được hỗ trợ tái định cư theo quy định tại khoản 8 Điều 111 của Luật Đất đai mà có nhu cầu tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất bằng tiền còn được nhận tiền hỗ trợ để tự lo chỗ ở.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ tại khoản 1 Điều này cho phù hợp.
Theo quy định trên thì trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài bị thu hồi đất mà đủ các điều kiện tại khoản 8 Điều 111 Luật Đất đai 2024 thì được hỗ trợ tái định cư sẽ được bồi thường về đất bằng tiền và nhận tiền hỗ trợ để tự lo chỗ ở. Các điều kiện cụ thể như sau:
+ Có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở
+ Được bồi thường bằng việc giao đất ở
+ Hoặc ở nhà tái định cư nhưng tiền bồi thường về đất ở không đủ so với giá trị của một suất tái định cư tối thiểu.
Kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định ra sao?
Theo Điều 94 Luật Đất đai 2024 quy định về kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau:
[1] Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Nhà nước bảo đảm. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm: tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí khác.
[2] Trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai, nếu người thực hiện dự án tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được ngân sách nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Số tiền được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp; số tiền còn lại (nếu có) được tính vào chi phí đầu tư của dự án.
Trường hợp Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai, mà người thực hiện dự án được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cho toàn bộ thời hạn sử dụng đất nếu tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính vào chi phí đầu tư của dự án.
[3] Việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện như sau:
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có hiệu lực thi hành, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản;
- Trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.
Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm phê duyệt phương án chi trả bồi thường chậm cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản. Kinh phí chi trả bồi thường chậm được bố trí từ ngân sách của cấp phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
[4] Trường hợp người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc trường hợp đất thu hồi, tài sản đang có tranh chấp thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tiền gửi của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mở tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối theo lãi suất không kỳ hạn. Tiền lãi từ khoản tiền bồi thường, hỗ trợ được trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản được bồi thường, hỗ trợ.
[5] Trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải chỉnh sửa, bổ sung mà có nội dung chỉnh sửa về giá đất, giá tài sản thì giá đất, giá tài sản để tính bồi thường được xác định tại thời điểm ban hành quyết định điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp tại thời điểm ban hành quyết định điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà giá đất, giá tài sản thấp hơn so với giá đất, giá tài sản trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt thì áp dụng giá bồi thường trong phương án đã được phê duyệt. Các nội dung được chỉnh sửa, bổ sung mà không phải là giá đất, giá tài sản được áp dụng theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
[6] Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];