Theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019, người lao động có thể cộng dồn số ngày nghỉ phép năm 2025 sang năm 2026 nếu có sự thỏa thuận với người sử dụng lao động.
>> Trường hợp nghỉ không hết phép năm sẽ được trả lại tiền năm 2026
>> Hạn nộp thông báo tình hình biến động lao động tháng 01/2026
Căn cứ 4 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, có quy định như sau:
Điều 113. Nghỉ hằng năm
…
4. Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Như vậy, người lao động có thể cộng dồn số ngày nghỉ phép năm 2025 sang năm 2026 nếu có sự thỏa thuận với người sử dụng lao động.
Pháp luật cho phép người lao động được nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần, nên nếu hai bên thống nhất và việc gộp không vượt quá thời hạn này thì số ngày phép chưa nghỉ của năm 2025 vẫn được bảo lưu sang năm 2026. Ngược lại, nếu không có thỏa thuận, số ngày phép chưa nghỉ sẽ không tự động được chuyển sang năm sau.
Trên đây là toàn bộ thông tin về “Phép năm 2025 còn dư được cộng dồn sang phép năm 2026”
Xem thêm:
>> Trường hợp nghỉ không hết phép năm sẽ được trả lại tiền năm 2026
>> Thời điểm miễn thuế TNCN đối với tiền lương cho những ngày không nghỉ phép
>> Điều kiện để toàn bộ tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế TNCN từ 01/01/2026
>> Thời điểm áp dụng quy định miễn thuế TNCN đối với tiền lương làm ban đêm, làm thêm giờ

Trường hợp phép năm 2025 còn dư được cộng dồn sang phép năm 2026
(Ảnh minh họa – Nguồn từ Internet)
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 113, Điều 114 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 1 Điều 66 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, số ngày nghỉ phép năm của người lao động được quy định như sau:
- Đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường: Làm việc đủ 12 tháng thì được nghỉ 12 ngày làm việc.
- Đối với người lao động chưa thành niên, người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm: Làm việc đủ 12 tháng thì được nghỉ 14 ngày làm việc.
- Đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm: Làm việc đủ 12 tháng thì được nghỉ 16 ngày làm việc.
- Trường hợp người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng: Số ngày nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Cách tính như sau: Lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm.
Bên cạnh đó, cứ đủ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ phép năm của người lao động đó được tăng thêm tương ứng 01 ngày.
Theo Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, có 10 thời gian sau được tính là thời gian làm việc để tính số số ngày nghỉ phép năm cho người lao động:
(i) Thời gian học nghề, tập nghề theo quy định tại Điều 61 Bộ luật Lao động 2019 nếu sau khi hết thời gian học nghề, tập nghề mà người lao động làm việc cho người sử dụng lao động.
(ii) Thời gian thử việc nếu người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động sau khi hết thời gian thử việc.
(iii) Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo khoản 1 Điều 115 Bộ luật Lao động 2019.
(iv) Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng trong một năm.
(v) Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.
(vi) Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng trong một năm.
(vii) Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
(viii) Thời gian thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà được tính là thời gian làm việc theo quy định của pháp luật.
(ix) Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.
(x) Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc nhưng sau đó được kết luận là không vi phạm hoặc không bị xử lý kỷ luật lao động.







