Luật Bảo hiểm xã hội 2024 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 sẽ có nhiều thay đổi quan trong, trong đó thay đổi cách tính mức trợ cấp một lần khi sinh con và mức nghỉ dưỡng sức.
>> Chủ hộ kinh doanh có thể đóng BHXH bắt buộc lên đến hơn 11 triệu đồng
>> Từ 01/7/2025 điều chỉnh tỷ lệ chi từ quỹ bảo hiểm y tế
Căn cứ Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025), quy định trợ cấp một lần khi sinh con bằng 02 lần mức tham chiếu tại tháng lao động nữ sinh con.
Hiện hành, trợ cấp một lần khi sinh được quy định tại Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2014.
|
Căn cứ khoản 3 Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức hưởng cho một ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản từ ngày 01/7/2025 bằng 30% mức tham chiếu.
Hiện hành, mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở (theo khoản 3 Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội 2014).
Như vậy, từ 01/7/2025, mức trợ cấp một lần khi sinh con và dưỡng sức sau thai sản sẽ được tính theo “mức tham chiếu”.
Khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bằng mức lương cơ sở. Tại thời điểm mức lương cơ sở bị bãi bỏ thì mức tham chiếu không thấp hơn mức lương cơ sở đó (theo khoản 13 Điều 141 Luật Bảo hiểm xã hội 2024).
Hiện nay, mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng (theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 73/2024/NĐ-CP).
![]() |
File Excel tính tiền bảo hiểm xã hội một lần năm 2025 theo hệ số trượt giá mới nhất |

Thay đổi cách tính mức trợ cấp một lần khi sinh con và mức nghỉ dưỡng sức từ 01/7/2025
(Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Căn cứ Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, quy định đối tượng và điều kiện hưởng chế độ thai sản từ ngày 01/7/2025 như sau:
1. Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Lao động nữ mang thai;
b) Lao động nữ sinh con;
c) Lao động nữ mang thai hộ;
d) Lao động nữ nhờ mang thai hộ;
đ) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
e) Người lao động sử dụng các biện pháp tránh thai mà các biện pháp đó phải được thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
g) Lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có vợ sinh con, vợ mang thai hộ sinh con.
2. Đối tượng quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
3. Đối tượng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con.
4. Đối tượng đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 hoặc khoản 5 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các điều 53, 54, 55 và 56 và các khoản 1, 2 và 3 Điều 58 của Luật này. Thời gian hưởng chế độ thai sản không được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
5. Đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng liền kề trước khi sinh con đối với trường hợp phải nghỉ việc để điều trị vô sinh.
Từ 01/7/2025 bổ sung thêm hai trường hợp được hưởng chế độ thai sản:
- Lao động nữ mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên, nếu phải nghỉ việc dưỡng thai theo chỉ định y tế thì phải đóng đủ 03 tháng trong vòng 12 tháng liền kề trước khi sinh để được hưởng chế độ.
- Lao động nữ sinh con đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong 24 tháng liền kề trước khi sinh con, nếu phải nghỉ việc để điều trị vô sinh.



