Đi làm sớm sau thai sản năm 2026 vẫn được hưởng đủ trợ cấp thai sản và tiền lương, nhưng không được hưởng dưỡng sức sau sinh và phải đóng BHXH khi trở lại làm việc.
>> Điểm mới về chính sách BHYT từ ngày 01/7/2026
Theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng; trường hợp sinh con thứ hai, lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Trường hợp, trước khi hết thời gian nghỉ thai sản nêu trên mà muốn đi làm sớm phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
Điều kiện 1: Đã nghỉ ít nhất được 04 tháng.
Điều kiện 2: Người lao động phải báo trước, được người sử dụng lao động đồng ý.
Điều kiện 3: Có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động.
Pháp luật hiện hành không quy định doanh nghiệp bắt buộc phải ban hành quyết định tiếp nhận người lao động trở lại làm việc trước khi kết thúc thời gian nghỉ thai sản. Tuy nhiên, để thuận tiện cho công tác quản lý nhân sự, lưu trữ hồ sơ và làm căn cứ thực hiện các thủ tục liên quan, doanh nghiệp nên ban hành quyết định tiếp nhận người lao động quay trở lại làm việc trước thời hạn nghỉ thai sản.
Xem thêm: TỔNG HỢP CHẾ ĐỘ THAI SẢN 2026
Những điều cần biết khi đi làm sớm sau thai sản năm 2026
(Ảnh minh họa - Nguồn Internet)
Các khoản tiền thai sản 2026 lao động nữ có thể nhận khi sinh con bao gồm 03 khoản tiền sau: (1) Tiền thai sản (100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ sinh), (2) Tiền trợ cấp thai sản một lần (5,06 triệu đồng) và (3) Tiền dưỡng sức sau sinh (759.000 đồng/ngày) nếu có.
Căn cứ khoản 4 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, trong trường hợp đi làm sớm sau thai sản, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Ví dụ, người lao động được nghỉ hưởng chế độ thai sản trong 06 tháng với mức trợ cấp thai sản mỗi tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ. Nếu lao động nữ đi làm sớm sau khi nghỉ thai sản 4 tháng thì vẫn nhận đủ 6 tháng trợ cấp thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.
Tóm lại, lao động nữ đi làm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản thì ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Tiền trợ cấp dưỡng sức sau sinh chỉ áp dụng trong trường hợp lao động nữ trong khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ thai sản (6 tháng/7 tháng) mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản (5 ngày, 7 ngày, 10 ngày tùy trường hợp). Mức hưởng mỗi ngày là 702.000 đồng/ngày. Từ ngày 1/7/2026 sẽ được tăng lên 759.000 đồng/ngày.
(Theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2024)
Trong khi đó, lao động nữ đi làm sớm tức là chưa nghỉ hết thời gian thai sản, đồng thời khi muốn đi làm sớm thì người lao động còn phải có giấy xác nhận đảm bảo đủ điều kiện sức khỏe để đi làm.
Vì vậy, lao động nữ đi làm sớm trước khi hết thời gian nghỉ thai sản thì sẽ không được nhận tiền dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh.
Căn cứ khoản 1 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau:
Điều 53. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con
1. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nữ khi sinh con được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Lao động.
Trường hợp lao động nữ trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con theo quy định tại khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Lao động thì được hưởng tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả và tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo mức quy định tại Điều 59 của Luật này; người sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho thời gian người lao động trở lại làm việc.
Như vậy, kể từ thời điểm đi làm, người lao động và người sử dụng lao động sẽ phải đóng BHXH.





