Công ty không thanh toán tiền phép năm chưa nghỉ hết năm 2026 trong trường hợp người lao động thôi việc, mất việc có thể bị phạt từ 10 đến 100 triệu đồng.
>> Quy định mới về khám cận lâm sàng khi khám sức khỏe định kỳ theo Thông tư 25/2026/TT-BYT
>> Quy định về đăng ký nội quy lao động 2026: Hồ sơ, cách thực hiện
Không phải mọi trường hợp ngày phép năm chưa nghỉ hết đều được quy đổi thành tiền. Chỉ có trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì người sử dụng lao động mới thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Đối với trường hợp người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà chưa nghỉ phép năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ phép năm thì không bắt buộc người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.
Tuy nhiên, nếu 02 bên có thỏa thuận thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ trong những trường hợp này theo hướng có lợi hơn cho người lao động được khuyến khích theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Lao động 2019.
Tóm lại, chỉ có hai trường hợp công ty bắt buộc phải thanh toán tiền lương cho những ngày nghỉ phép năm chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết là người lao động thôi việc hoặc mất việc làm. Trường công ty và người lao động có thỏa thuận thanh toán tiền nghỉ phép năm theo hướng có lợi hơn cho người lao động thì được pháp luật khuyến khích.
(Theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 và tham khảo Công văn 514/ATLĐ-CSBHLĐ ngày 22/10/2021)

Mức phạt không thanh toán tiền phép năm chưa nghỉ hết năm 2026 - Ảnh minh họa
Công ty không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ phép năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ phép năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm có thể bị phạt tiền từ 10 đến 100 triệu đồng tùy số lượng lao động bị vi phạm.
Ngoài ra, người sử dụng lao động còn phải trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Chi tiết mức phạt không thanh toán tiền phép năm chưa nghỉ hết năm 2026 như sau:
|
Trường hợp |
Mức phạt |
|
Vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động. |
10 - 20 triệu đồng |
|
Vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động. |
20 - 40 triệu đồng |
|
Vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động. |
40 - 60 triệu đồng |
|
Vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động. |
60 - 80 triệu đồng |
|
Vi phạm từ 301 người lao động trở lên |
80 - 100 triệu đồng |
Lưu ý: Mức phạt tiền nêu tiền nêu trên là mức xử phạt đối với tổ chức. Trường hợp cá nhân vi phạm thì mức phạt tiền bằng 1/2 lần tổ chức.
(Theo Điều 7 và khoản 2 và khoản 5 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP)
Căn cứ khoản 4 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Như vậy, trong trường hợp trên người lao động có thể dồn những ngày nghỉ phép năm 2026 chưa sử dụng sang năm 2027 để nghỉ một lần. Tuy nhiên, người lao động cần phải thỏa thuận với công ty về vấn đề này và phải được công ty đồng ý.
Có, theo Bộ luật Lao động 2019, 6 tháng nghỉ thai sản vẫn được tính là thời gian làm việc để hưởng phép năm tương ứng với 12 tháng làm việc theo quy định pháp luật.
Ví dụ, người lao động làm việc đủ 12 tháng (trong đó có 6 tháng nghỉ thai sản) vẫn được hưởng đủ 12 ngày phép/năm (hoặc hơn tùy thâm niên).
Cụ thể, căn cứ khoản 7 Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP có quy định về thời gian được coi là thời gian làm việc để tính ngày phép năm như sau:
“Điều 65. Thời gian được coi là thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ hằng năm của người lao động
…
7. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.”
Theo đó, thời gian nghỉ thai sản là thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ hằng năm của người lao động. Do đó, 6 tháng nghỉ thai sản vẫn được tính là thời gian làm việc để hưởng phép năm tương ứng với 12 tháng làm việc theo quy định pháp luật.
Tóm lại, 6 tháng nghỉ thai sản vẫn được tính phép năm theo quy định. Cứ làm đủ 12 tháng/năm, người lao động có 12 ngày phép năm. Cứ đủ 5 năm thì được cộng thêm 1 ngày phép năm.
(Theo Điều 113 và Điều 114 Bộ luật Lao động 2019)







