Từ 2026, tiền bảo hiểm nhân thọ đáo hạn có phải quyết toán thuế TNCN không?

Nguyễn Ngọc Như Ý 404 lượt xem
15:30 | 21/07/2026
Có phải quyết toán thuế đối với thu nhập từ bảo hiểm nhân thọ tại thời điểm đáo hạn không? Mức trần giảm trừ thuế TNCN đối với khoản đóng bảo hiểm nhân thọ là bao nhiêu?
Nội dung chính
  1. Từ 2026, tiền bảo hiểm nhân thọ đáo hạn có phải quyết toán thuế TNCN không?
  2. Mức trần giảm trừ thuế TNCN đối với khoản đóng bảo hiểm nhân thọ là bao nhiêu?
  3. Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công là khi nào?

Từ 2026, tiền bảo hiểm nhân thọ đáo hạn có phải quyết toán thuế TNCN không?

Theo điểm b khoản 3 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định quyết toán thuế TNCN đối với trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ như sau:

Khấu trừ thuế
...
3. Một số trường hợp cụ thể như sau:
...
b) Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ (không bao gồm bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, người lao động chưa phải tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công khi người sử dụng lao động mua bảo hiểm. Đến thời điểm đáo hạn hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí tích lũy tương ứng với phần người sử dụng lao động mua cho người lao động từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Đối với phần phí bảo hiểm nhân thọ từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, tiền phí tích lũy tính trên phần vượt mức quy định tại điểm a khoản 2 Điều 46 của Nghị định này. Trường hợp khoản phí tích lũy được trả nhiều lần thì tiền thuế được khấu trừ theo tỷ lệ 10% tương ứng với từng lần trả tiền phí tích lũy. Cá nhân không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần phí bảo hiểm nhân thọ từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 vượt mức quy định tại điểm a khoản 2 Điều 46 của Nghị định này để thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm. Trường hợp người lao động tham gia cả bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ thì mức được trừ tối đa 03 triệu đồng/tháng áp dụng trên tổng tiền đóng cho các loại hình này, người sử dụng lao động tự phân bổ mức được trừ tối đa 03 triệu đồng/tháng vào một hoặc nhiều hình thức bảo hiểm do người lao động lựa chọn.
Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm theo dõi riêng phần phí bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động để làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.
Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ (không bao gồm bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam thì người sử dụng lao động có trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm đã mua hoặc đóng góp vượt mức quy định tại điểm a khoản 2 Điều 46 của Nghị định này trước khi trả lương cho người lao động. Cá nhân không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
...

Như vậy, từ các quy định trên cá nhân không phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với khoản tiền bảo hiểm nhân thọ đáo hạn trong các trường hợp sau:

- Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam: Khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ do người sử dụng lao động mua cho người lao động đáo hạn, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế TNCN 10% trên khoản tiền phí tích lũy thuộc diện chịu thuế trước khi chi trả. Sau khi đã được khấu trừ thuế, cá nhân không phải quyết toán thuế đối với khoản thu nhập này.

- Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam nhưng được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam: Người sử dụng lao động có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế TNCN 10% trên phần phí bảo hiểm vượt mức quy định trước khi trả thu nhập cho người lao động. Cá nhân cũng không phải quyết toán thuế đối với khoản thu nhập này.

Như vậy, tiền bảo hiểm nhân thọ đáo hạn thuộc trường hợp nêu trên không phải quyết toán thuế TNCN.

Từ 2026, tiền bảo hiểm nhân thọ đáo hạn có phải quyết toán thuế TNCN không?

Từ 2026, tiền bảo hiểm nhân thọ đáo hạn có phải quyết toán thuế TNCN không? (Hình từ Internet)

Mức trần giảm trừ thuế TNCN đối với khoản đóng bảo hiểm nhân thọ là bao nhiêu?

Căn cứ theo Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Số thuế tính theo từng bậc thuế xác định bằng phần thu nhập tính thuế của bậc thuế nhân (x) với thuế suất tương ứng của bậc thuế đó.
2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 8 của Nghị định này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế trừ (-) đi các khoản dưới đây:
a) Các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội, khoản đóng góp bảo hiểm y tế tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ.
Mức đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ được trừ ra khỏi thu nhập khi xác định thu nhập tính thuế quy định tại điểm này tổng tối đa không quá 03 triệu đồng/tháng cho các hình thức tham gia bảo hiểm này, bao gồm cả số tiền do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và cả số tiền do người lao động tự đóng (nếu có).
...

Như vậy, từ ngày 01/7/2026, khi xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công, người nộp thuế được trừ các khoản đóng bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm hưu trí bổ sung trước khi tính thuế TNCN.

Theo đó, tổng số tiền được giảm trừ đối với các hình thức bảo hiểm này không vượt quá 03 triệu đồng/tháng, bao gồm cả khoản do người sử dụng lao động đóng cho người lao động và khoản người lao động tự đóng (nếu có).

Phần đóng vượt mức 03 triệu đồng/tháng sẽ không được trừ khi xác định thu nhập tính thuế TNCN.

Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công là khi nào?

Căn cứ khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định thời điểm xác định thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương tiền công như sau:

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được xác định bằng thu nhập tính thuế quy định tại khoản 2 Điều này, không phân biệt nơi trả thu nhập, nhân (x) với thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật này.
2. Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật này mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, trừ (-) đi các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định và các khoản giảm trừ quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Luật này.
3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Như vậy, theo quy định trên thì thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm người sử dụng lao động trả tiền lương tiền công cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Ngọc Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất